Sòng bạc Quốc tế biển Đông: "Át chủ bài" nào sẽ làm chủ An ninh Biển Đông?

11 Tháng Sáu 201511:15 CH(Xem: 6181)
"BÁO VĂN HÓA - CALIFORNIA" THỨ SÁU 12 JUNE 2015

Sòng bạc Quốc tế Biển Đông:

"Hình thức Trung Quốc xâm lược Biển Đông là tiến 4 bước, lùi 2 bước rưỡi"

(GDVN) - Bắc Kinh thực hiện chiến lược lùi 2,5 bước để tiến 4 bước, liên tục thử nghiệm mọi thứ. Từ việc điều giàn khoan 981 cắm bất hợp pháp xuống vùng biển Việt Nam.
blank
Robert D. Kaplan. Ảnh: abc.es.

Tờ The Liberty Nhật Bản ngày 11/6 đăng bài phỏng vấn về vấn đề Biển Đông với Robert D. Kaplan, thành viên Trung tâm An ninh mới của Mỹ, giáo sư thỉnh giảng Học viện Hải quân Hoa Kỳ, biên tập viên tạp chí The Alantic.

Ông Robert D. Kaplan cho rằng những căng thẳng ở Biển Đông hiện nay gắn liền với tham vọng trở thành một đế chế thương mại của Trung Quốc. Cạnh tranh Trung - Mỹ ở Biển Đông đã trở nên "mãn tính" và kéo dài liên tục.

Những gì các quốc gia nhỏ muốn làm như Việt Nam, Philippines, Malaysia là muốn Hải quân, Không quân Hoa Kỳ sẽ là yếu tố cân bằng chống lại sự bành trướng của Trung Quốc. Còn Bắc Kinh sẽ không dừng lại các hoạt động bồi lấp, xây dựng đảo nhân tạo (bất hợp pháp) ở Biển Đông nhưng chưa chắc điều này đã dẫn đến một cuộc xung đột trực tiếp.

Mục tiêu của Trung Quốc là dần đạt được trạng thái ngang bằng với Hải quân Mỹ ở Biển Đông, Hoa Đông mà không phải nổ súng chống lại Mỹ, bởi  Trung Quốc thừa biết mình sẽ mất gì.

Trong tương lai liệu Hải quân Hoa Kỳ có tiếp tục đảm nhiệm công việc duy trì, đảm bảo tự do hàng hải và hàng không ở Biển Đông hay không sẽ còn phụ thuộc vào kích thước và khả năng triển khai của Hải quân Mỹ trong những thập kỷ tới. Hiện tại Hải quân Hoa Kỳ có khoảng 290 tàu chiến và dự kiến sẽ tăng lên 300 trong những năm tới.

Nhưng cũng cần phải tính đến việc loại khỏi biên chế những con tàu cũ, trong khi kịch bản ngân sách quân sự có thể bị cắt giảm đáng kể. Vì vậy những gì sẽ xảy ra cuối cùng phụ thuộc vào rất nhiều cân nhắc mà quan trọng trong số đó là ngân sách quân sự của Mỹ.

Nhưng điều đáng lo lắng theo Robert D. Kaplan là Trung Quốc sẽ không làm bất cứ điều gì rõ rệt bởi họ không phải Nga ở Ukraine. "Hình thức xâm lược của Trung Quốc là tiến xa dần và 'thanh lịch'.

Bắc Kinh thực hiện chiến lược lùi 2,5 bước để tiến 4 bước, liên tục thử nghiệm mọi thứ. Từ việc điều giàn khoan 981 cắm bất hợp pháp xuống vùng biển Việt Nam và kéo nó về sau khi bị quá nhiều lên án từ cộng đồng quốc tế cho đến việc sử dụng tàu vỏ trắng thúc đẩy yêu sách chủ quyền (vô lý, phi pháp) thay vì tàu quân sự để tránh sự can thiệp của Hải quân Mỹ".

"Trung Quốc đã làm chủ được nghệ thuật gặm nhấm, gián tiếp xâm lấn để thực hiện quyền bá chủ", Robert D. Kaplan bình luận. Những gì Bắc Kinh đang tìm kiếm hiện nay là quyền bá chủ quân sự cuối cùng trên Biển Đông và Hoa Đông, cũng như một đế chế hàng hải, đế chế thương mại kéo dài đến Ấn Độ Dương và Địa Trung Hải.

Con đường từ một đế chế thương mại hàng hải đến một đế chế quân sự vẫn còn dài. Và do đó mục tiêu của Bắc Kinh liên quan đến Ấn Độ Dương là lâu dài, còn Biển Đông và Hoa Đông đang hiện hữu mọi người đều thấy.

Đây không còn là một mục tiêu Bắc Kinh cố gắng thiết lập mà đang là một xu hướng rõ ràng, hữu cơ. Nói cách khác, đi kèm với tàu buôn Trung Quốc cập cảng tại Sri Lanka sẽ là tàu quân sự. Và một khi đạt được mục tiêu, Trung Quốc sẽ buộc tất cả các quốc gia phải hành xử theo cách có lợi cho Bắc Kinh

Hồng Thủy 11/06/15

Quân “át chủ bài” cuối cùng của Mỹ trong vấn đề Biển Đông là gì?

27/05/2015

(Quốc tế) - Trong bối cảnh Mỹ đối diện với khó khăn rất lớn trong việc cân bằng lực lượng giữa các “điểm nóng” trên thế giới, Nhật Bản có thể trở thành “lời giải” của Washington ở Biển Đông
 blank
Tàu khu trục JDS Kongō (DDG-173) trang bị tên lửa dẫn đường của Lực lượng Phòng vệ Biển Nhật Bản (JMSDF). Ảnh: Wikipedia

Nhằm đối phó với sự trỗi dậy mạnh mẽ về quân sự và kinh tế của Trung Quốc, Tổng thống Mỹ Barack Obama đã chuyển hướng từ chiến lược ưu tiên Trung Đông sang chiến lược “tái cân bằng châu Á-Thái Bình Dương”.

Tờ Nihon Keizai Shimbun (Nikkei) của Nhật Bản hôm 26/5 bình luận, chiến lược “xoay trục sang châu Á” của ông Obama về cơ bản là sự phủ nhận đối với chính sách ngoại giao của chính quyền cựu Tổng thống George Bush.

Theo Nikkei, khi Tổng thống Obama xoay chuyển tầm nhìn sang châu Á, thì khu vực Trung Đông – vốn được Mỹ cho là “đã ổn định” – lại trở nên hỗn loạn, điển hình là sự nổi lên của tổ chức khủng bố Nhà nước Hồi giáo (IS).

Điều này có khả năng đe dọa và khiến chiến lược “xoay trục châu Á” của Obama tan vỡ. Nikkei nhận định, trong bối cảnh như vậy, quốc gia then chốt quyết định hướng đi của cục diện châu Á-Thái Bình Dương chính là Nhật Bản.

“Vấn đề Biển Đông chính là ‘đá thử vàng’ tốt nhất đối với quan hệ Nhật-Mỹ” – Nikkei bình luận.

Nihon Keizai Shimbun Là một trong những tờ báo có sức ảnh hưởng lớn tại Nhật Bản. Báo thành lập ngày 2/12/1876 và hiện là báo chuyên đề tài chính có lượng phát hành lớn nhất thế giới.

Nikkei cho hay, trong khi Mỹ sa lầy tại các cuộc chiến ở Afghanistan và Iraq hồi năm 2001, 2003 thì “sư tử ngủ say ở phương Đông” là Trung Quốc được tự do tung hoành tại châu Á để tăng cường sức mạnh cả về quân sự, kinh tế mà không vấp phải trở ngại nào.

Đến năm 2014, ngân sách quốc phòng của Trung Quốc đã gấp 10 lần con số nêu ra trong “Phương châm hợp tác quốc phòng Nhật-Mỹ” năm 1997. Con số này tương đương với 1/4 ngân sách quốc phòng của Mỹ và gấp 2.7 lần ngân sách quốc phòng dự toán của Nhật Bản.

Tuy nhiên, Nikkei cho rằng tính minh bạch trong các báo cáo về ngân sách của Trung Quốc là không cao, cho nên tình hình cụ thể vẫn còn phải đợi quan sát thực tế.

Mặt khác, cuộc chiến ở Afghanistan và Iraq đã khiến Mỹ bị tiêu hao lớn các nguồn lực quốc gia, và sau đó là cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới khiến nền kinh tế Mỹ suy thoái nặng nề.

Đặc biệt trong vấn đề chi tiêu quốc phòng, Nikkei đánh giá Washington “có lòng mà không có sức”.

Đồng thời, do ảnh hưởng của vấn đề hạt nhân Iran, nhiều quốc gia thân Mỹ như Ả Rập Saudi hay Ai Cập đã bắt đầu chuyển sang có thái độ xa rời hay chống Mỹ. Thái độ lạnh nhạt với Mỹ cũng lan truyền tới châu Âu, xuất phát từ cuộc khủng hoảng Ukraine.

Việc Mỹ liên tục áp đặt cũng như yêu cầu Liên minh châu Âu (EU) cùng áp đặt trừng phạt Nga đã khiến các nước châu Âu bị tổn hại nặng nề về kinh tế. Châu Âu không khó nhận ra điều này, và Đức, Pháp đã làm “đầu tàu” để cải thiện quan hệ với Nga.

Nikkei đánh giá, Mỹ đang đứng trước nguy cơ không nhỏ. Nếu Obama không trở lại Trung Đông thì có thể quân đội Mỹ sẽ “mất trắng” thành quả trong quá khứ tại đây.

Nhưng một khi Mỹ sa lầy trở lại Trung Đông thì châu Á – cũng như trong quá khứ – lại trở thành cứ điểm để Trung Quốc “mặc sức tung hoành”, khiến Obama rơi vào sai lầm của chính quyền người tiền nhiệm George Bush.

“‘Bất chiến tự nhiên thành’ chính là viễn cảnh mà Bắc Kinh hy vọng đạt được trong cuộc chơi với Mỹ.” – Nikkei nhận xét.

Trước việc Trung Quốc đẩy mạnh lấp biển, xây dựng đảo nhân tạo trái phép trên Biển Đông, thậm chí thúc đẩy xây dựng các cứ điểm quân sự tại đây, Lầu Năm Góc đã tuyên bố sẽ đưa máy bay và tàu chiến vào tuần tra tại hải vực 12 hải lý của các đảo, đá mà Bắc Kinh chiếm cứ phi pháp.

Cựu giám đốc Cơ quan tình báo quốc gia Mỹ (CIA) Michael Morell đã nhận định, nếu quan hệ Trung-Mỹ tiếp tục duy trì trạng thái căng thẳng trên Biển Đông thì song phương có thể đi tới xung đột.

Nhật Bản là “cứu cánh” cuối cùng của Mỹ trên Biển Đông?

Tuy vậy, Nikkei chỉ ra, thời điểm hiện tại quân đội Mỹ “không hề đơn độc”. “Mỹ còn một quân ‘át chủ bài’ cuối cùng – đó là Nhật Bản” – Nikkei cho biết.

Mới đây, Tokyo và Washington đã tăng cường các thỏa thuận về thực thi bảo vệ an ninh trên phạm vi toàn cầu, nhằm bảo đảm Mỹ có được sự hỗ trợ từ Nhật Bản trong các tình huống khó khăn.

Bản định hướng hợp tác quốc phòng Mỹ-Nhật sửa đổi công bố ngày 27/4 vừa qua có rất nhiều nội dung quan trọng.

Trong đó có việc Nhật Bản sẵn sàng thực thi quyền phòng thủ tập thể, cho đến mở rộng lĩnh vực hợp tác trong đó nhấn mạnh hai lĩnh vực mới là không gian vũ trụ và không gian mạng, đến việc phối hợp hành động.

Các giới hạn địa lý được dỡ bỏ, cho phép liên minh Mỹ-Nhật không chỉ tập trung vào việc bảo đảm quốc phòng và an ninh cho Nhật Bản cùng các khu vực phụ cận, mà mở rộng sự phối hợp an ninh, quốc phòng song phương trong cả khu vực và toàn cầu.

Nhật Bản không chỉ hỗ trợ hoạt động quân sự của Mỹ, mà còn hợp tác, phối hợp hành động cùng Mỹ trong trường hợp quốc gia thứ ba bị tấn công.

Nikkei nhận định, bối cảnh mà Mỹ-Nhật thắt chặt quan hệ hợp tác an ninh chính là khi những hành động ngang ngược và phi pháp của Trung Quốc ở Biển Đông đã gây ra tổn hại, ở một mức độ nào đó, đối với lợi ích của cả Mỹ và Nhật ở Tây Thái Bình Dương.

Theo đó, chính nhờ Trung Quốc và vấn đề Biển Đông đang gây rắc rối cho Mỹ mà mục tiêu “quốc gia bình thường” và “cường quốc quân sự” của Thủ tướng Nhật Shinzo Abe đang có khả năng trở thành hiện thực hơn lúc nào hết.

“Thời kỳ “thủ thế” của Tokyo đã qua đi. Với sự hỗ trợ của Mỹ, Lực lượng phòng vệ Nhật Bản ngay lúc này đang sẵn sàng “tái xuất” để đối mặt với quân đội Trung Quốc.” – Nikkei cho biết.

Sách trắng quốc phòng 2015 của Trung Quốc “điểm danh” Nhật-Mỹ

Trong khi đó, sáng 26/5, quân đội Trung Quốc đã công bố Sách trắng quốc phòng thứ 9 kể từ năm 1998, thể hiện phần nào nhận thức của Trung Quốc đối với liên minh quân sự của Mỹ và Nhật Bản.

Trang Đa Chiều cho biết, Sách trắng quốc phòng 2015 của Trung Quốc đã “chỉ mặt đặt tên” mối đe dọa an ninh đối với Bắc Kinh đến từ Mỹ-Nhật, nhưng vẫn tuyên bố Trung Quốc sẽ đi theo đường lối “phòng thủ chủ động”.

Sách trắng chỉ ra, sự phát triển của Trung Quốc vẫn đang ở vào thời kỳ chiến lược quan trọng với môi trường khách quan “thuận lợi về tổng thể”, nhưng vẫn phải đối diện những đe dọa an ninh từ nhiều bên.

Bộ quốc phòng Trung Quốc khẳng định các trở ngại và thách thức mà nước này gặp phải đang dần gia tăng.

Cụ thể là Mỹ tăng cường sự hiện diện về quân sự cũng như hệ thống đồng minh trong khu vực, trong khi Nhật Bản đang tích cực tìm cách phá bỏ thể chế thời hậu Thế chiến 2 và có những điều chỉnh lớn về chính sách an ninh quân sự.

(Theo Trí Thức Trẻ)

Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh:

Hợp tác quốc phòng Việt - Mỹ đi vào thực chất

02/06/2015

TT - Sau hàng loạt sự kiện ngoại giao quốc phòng, đặc biệt là chuyến thăm của bộ trưởng quốc phòng Mỹ, thượng tướng - Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Nguyễn Chí Vịnh dành cho phóng viên Tuổi Trẻ cuộc phỏng vấn.
blank
Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh - Ảnh: V.Dũng

* Thưa Thứ trưởng, chuyến thăm của Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Ashton Carter có ý nghĩa như thế nào trong quan hệ quốc phòng giữa hai nước, nhất là trong bối cảnh tình hình biển Đông hiện nay?

- Tại cuộc họp báo sáng nay sau hội đàm giữa hai bộ trưởng quốc phòng Việt Nam và Mỹ, hai bộ trưởng đã nói rất đầy đủ ý nghĩa cũng như kết quả đạt được của chuyến thăm. Kết quả chuyến thăm hôm nay phản ánh đúng thực tế quan hệ toàn diện giữa Việt Nam và Mỹ, những tiến bộ trong quan hệ Việt - Mỹ trong 20 năm bình thường hóa và 40 năm kết thúc chiến tranh Việt Nam.

Một điều chắc chắn được mọi người quan tâm trong cuộc gặp lần này là vấn đề biển Đông. Với tầm nhìn chiến lược của ông Carter cũng như Bộ trưởng Phùng Quang Thanh, tôi thấy hai ông nhìn ở góc độ lợi ích của Mỹ cũng như Việt Nam tại khu vực này, trong đó quan hệ quốc phòng mang tính chất trụ cột.

Việt Nam đang phát triển, hội nhập với quốc tế để phát triển đất nước, bảo vệ độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ quốc gia. Còn Mỹ đang tích cực quay trở lại châu Á - Thái Bình Dương. Mỹ rõ ràng có những đồng minh của mình, nhưng như phát biểu tại Shangri- La, ông Carter nói rằng Mỹ không thể không có những người bạn - đối tác mới ngày càng tin cậy hơn. Sắp tới đây, giữa hai nước có những cuộc gặp cấp cao hơn và nội dung quan trọng hơn.

Về phía Việt Nam, trong bối cảnh tình hình an ninh khu vực đang nóng lên, chúng ta cũng muốn biết thực chất Mỹ đang muốn gì ở đây. Liệu những toan tính của họ có phương hại cho chúng ta hay không? Chúng ta đã thẳng thắn nêu với họ những gì Việt Nam cần ở Mỹ, mong muốn Mỹ góp phần bảo đảm hòa bình ổn định lâu dài cho khu vực, trên cơ sở luật pháp quốc tế và lợi ích chung của tất cả các quốc gia trong khu vực.

Trong bối cảnh đó, hợp tác quốc phòng không chỉ mang tính biểu tượng mà cho đến nay Việt Nam và Mỹ đạt được những nội dung hợp tác thực chất, làm hài lòng cả hai bên. Trong thời gian qua, đôi bên đã tiến hành các hợp tác như các hoạt động mang tính chất nhân đạo hòa bình như tìm kiếm cứu nạn, gìn giữ hòa bình, hoặc trên những diễn đàn quốc tế như Shangri-La... Ngoài ra Mỹ cũng nhắc đến việc hợp tác để nâng cao năng lực cho một số quân binh chủng của Việt Nam.

* Khả năng hợp tác về vũ khí quân sự thì sao, thưa ông?

- Ông Carter nói rằng Mỹ sẽ bỏ thêm một phần lệnh cấm vận vũ khí sát thương đối với Việt Nam và sẽ sẵn sàng cung cấp những trang thiết bị cho Việt Nam, Mỹ cũng bày tỏ sẵn sàng hợp tác, chế tạo những trang thiết bị quân sự tại Việt Nam. Đây là lần đầu tiên một bộ trưởng quốc phòng Mỹ đề cập đến vấn đề này, cho thấy sự sẵn sàng của Mỹ.

* Như vậy, ông nhận định như thế nào về sự hiện diện của Mỹ không phải bằng lời nói mà bằng hành động thực tế như ở khu vực biển Đông như hiện nay?

- Vấn đề phức tạp trên biển Đông và câu chuyện hợp tác quốc phòng Mỹ - Việt là hai chuyện khác nhau. Hợp tác dựa trên tinh thần luật pháp quốc tế, luật pháp, lợi ích của Mỹ và Việt Nam và theo những gì hai bên cùng mong muốn.

Còn sự hiện diện của Mỹ ở biển Đông hay rộng hơn là châu Á - Thái Bình Dương thì nó không phụ thuộc vào ý chí của Việt Nam nữa mà phụ thuộc vào luật pháp quốc tế và lợi ích của tất cả các quốc gia trong khu vực. Ông Carter nói máy bay của Mỹ sẽ tiếp tục bay, tàu của Mỹ sẽ tiếp tục giương buồm trên tất cả những vùng biển mà luật pháp quốc tế cho phép ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương cũng như biển Đông. Bộ trưởng Phùng Quang Thanh nói rất rõ rằng nếu như tàu bè, máy bay của Mỹ tuân thủ luật pháp quốc tế, không gây phương hại đến hòa bình, ổn định của khu vực, không đe dọa đến an ninh khu vực thì Việt Nam hoàn toàn không có ý kiến gì.

* Vừa rồi khi Mỹ can dự trực tiếp vào tình hình ở biển Đông, có vẻ như Trung Quốc đã có những phản ứng quyết liệt. Bình luận của ông?
- Tôi nghĩ trong tình huống này Trung Quốc đang vừa đi vừa dò xem phản ứng của các bên liên quan như thế nào. Tại sao vậy? Theo tôi, Trung Quốc tự nhận thấy rằng việc họ đang làm ở biển Đông là “có vấn đề” với luật pháp quốc tế, bị quốc tế phản ứng và không chỉ đụng chạm đến quyền lợi của chỉ riêng Việt Nam, mà còn đe dọa đến lợi ích của nhiều nước khác.

* Trong lịch sử các nước lớn đã từng mặc cả sau lưng Việt Nam và chúng ta đã từng bị thiệt hại bởi sự mặc cả đó. Thưa ông, làm thế nào để lịch sử không lặp lại?

- Việt Nam không để các nước lớn thỏa hiệp trên lưng mình, và điều quan trọng là chúng ta đừng tạo cơ hội cho người khác thỏa hiệp trên lưng mình. Cơ hội tốt nhất để họ mặc cả sau lưng mình là khi mình vào hùa với một bên để chống một bên khác và quá tin tưởng vào một thế lực nào đó.  Nếu mình không độc lập tự chủ, phải dựa vào một thế lực nào đó thì sẽ đến khi họ đem mình lên bàn cân để định lượng thế nào và bao nhiêu?

“Họ không thể cứ mãi coi thường dư luận quốc tế”

* Tại kỳ họp Quốc hội đang diễn ra, một số đại biểu bày tỏ quan ngại đặc biệt đến tình hình biển Đông. Chia sẻ của Thứ trưởng về những mối quan ngại này?

- Theo tôi, quan ngại của các đại biểu Quốc hội là rất đúng. Đặc biệt, trong bối cảnh có thông tin cho thấy Trung Quốc đem vũ khí đến các đảo mới tôn tạo. Thậm chí, chúng ta còn lường trước những kịch bản còn phức tạp hơn và không chỉ liên quan đến một mình Việt Nam.

Cùng với việc bày tỏ quan ngại thì chúng ta có những hành động cụ thể để bảo vệ chủ quyền, trong đó quan trọng là cộng đồng quốc tế lên tiếng yêu cầu Trung Quốc dừng ngay lại các hoạt động bồi đắp trên biển Đông. Tôi nghĩ rằng một khi cả cộng đồng quốc tế cùng lên tiếng như hiện nay thì Trung Quốc phải nghĩ khác, họ không thể cứ mãi coi thường công luận quốc tế, làm những việc trái với luật pháp quốc tế như vậy.
* Khoảng năm năm trở lại đây, diễn biến biển Đông mỗi năm mỗi phức tạp. Ông dự liệu sự căng thẳng ngày một gia tăng sẽ đưa tình hình đi tới đâu?

- Hãy nhìn rộng ra phạm vi quốc tế. Từ sau khi Liên Xô tan vỡ, cuộc đấu tranh giữa hai phe mất đi thì các nguy cơ về an ninh tạm thời không nổi lên ở phạm vi toàn cầu và khu vực mà chủ yếu là giữa các nước với nhau hoặc trong từng nước mà thôi. Nhưng đến thời điểm có những cực khác mạnh lên thì một hình thái mới lại xuất hiện, tức là lại bắt đầu có sự đối đầu giữa hai cường quốc. Sự đối đầu ấy buộc các nước yếu hơn phải lựa chọn về hành vi và câu hỏi quan trọng nhất là có nên đứng về một phía nào hay không? Chính vì vậy, tình hình an ninh lại diễn biến theo chiều hướng phức tạp dần. Chúng ta cứ nhìn vào các diễn đàn an ninh như Shangri-La càng sôi động bao nhiêu thì tình hình càng phức tạp bấy nhiêu.

Trong bối cảnh quốc tế như vậy thì chúng ta như thế nào? Tôi lo ngại nhất là chúng ta bị dính líu đến các đối đầu giữa các nước lớn và chúng ta cần kiên định không đứng về bên nào. Chúng ta phải dành toàn lực để bảo vệ chủ quyền, bảo vệ Tổ quốc và nhân dân mình, nhưng phải luôn giữ độc lập tự chủ và không dính líu đến các toan tính của nước khác.

* Nói là như vậy, nhưng đôi khi định mệnh không buông tha chúng ta, bởi có những xung đột tầm quốc tế lại diễn ra trong nhà mình nên không thể né tránh?

- Thế mới phải nói rằng chúng ta cần khôn ngoan và bản lĩnh. Định mệnh ấy từ đâu đến? Trước hết là bởi vị trí địa chính trị của chúng ta ở khu vực và trên thế giới. Hãy thử nói đến một danh từ thôi, đó là Cam Ranh, các nước lớn đều muốn hiện diện tại vị trí này. Đấy là địa chính trị, còn về lịch sử thì Việt Nam có lịch sử rất phức tạp với nhiều nước lớn. Tôi nghĩ trong bối cảnh này, chúng ta kiên quyết bảo vệ bằng được lợi ích quốc gia của mình, hợp tác theo đúng luật pháp quốc tế chứ không thể ngả nghiêng theo nước nào.

Chạy đua vũ trang?

* Đã có ý kiến dự báo về một cuộc chạy đua vũ trang tại khu vực?

- Điều này là đúng. Nó xuất phát từ nhiều đặc điểm chứ không chỉ là tình hình biển Đông hay biển Hoa Đông. Trước hết phải nói rằng châu Á - Thái Bình Dương là khu vực đang phát triển rất mạnh mẽ và vì vậy việc phát triển, phòng vệ, vũ trang của các quốc gia là tất yếu. Thứ hai, đến thời điểm này, các nước (kể cả các nước không có chiến tranh) đều hiểu rằng muốn kinh tế - xã hội phát triển bền vững thì không thể không phát triển một nền quốc phòng mạnh. Thứ ba, quốc phòng ngày càng tham gia vào nhiều lĩnh vực, kể cả những lĩnh vực an ninh phi truyền thống như tìm kiếm cứu nạn... Thứ tư, tình hình khu vực và thế giới đang nóng lên, gây lo ngại cho các quốc gia. Nếu những mâu thuẫn không được giải quyết, các bên thiếu kiềm chế thì nó sẽ nảy sinh tâm lý chạy đua vũ trang.

* Vậy trong bối cảnh đó thì Việt Nam làm gì, thưa Thứ trưởng?

- Từ xưa đến nay, mục tiêu của quốc phòng Việt Nam là bảo vệ lãnh thổ, bảo vệ Tổ quốc và nhân dân, bảo vệ ổn định chính trị, chống xâm lược từ bên ngoài, chứ không có mục đích nào khác. Phương châm của nền quốc phòng Việt Nam đã được đặt ra từ thời Bác Hồ đó là quốc phòng toàn dân, toàn dân đánh giặc và quân đội là nòng cốt. Kinh qua các cuộc chiến tranh thì chúng ta có thể thấy rõ rằng không có vũ khí nào có thể chiến thắng được thế trận chiến tranh nhân dân để bảo vệ Tổ quốc mình. Đồng thời, trong bối cảnh hiện nay, chúng ta tăng cường hợp tác quốc tế để bảo vệ luật pháp quốc tế cũng như bảo vệ lợi ích của mình.

* Tại Shangri-La cách đây hai năm, Thủ tướng nước ta đã đề cập đến việc xây dựng và củng cố lòng tin chiến lược. Diễn biến ở biển Đông hiện nay cho thấy Trung Quốc thay vì bồi đắp lòng tin thì họ lại bồi đắp các bãi chìm thành đảo nhân tạo...

- Tôi hiểu rằng khi phát biểu điều ấy, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nhận thức rằng các bên đang thiếu lòng tin với nhau, và đặc biệt là với những việc như Trung Quốc đang làm ở biển Đông làm xói mòn lòng tin của Việt Nam cũng như nhiều nước khác, vì vậy Thủ tướng kêu gọi xây dựng lòng tin để củng cố hòa bình. Rõ ràng, so với những cam kết, phát biểu của chính các nhà lãnh đạo Trung Quốc thì những việc như xây dựng các đảo nhân tạo, đem vũ khí ra đó, đang làm xói mòn, làm mất lòng tin của cộng đồng quốc tế.

* Ông có nói điều này với phía Trung Quốc trong cuộc gặp tại Shangri-La vừa rồi?

- Trong cuộc gặp ông Tôn Kiến Quốc (phó tổng tham mưu trưởng Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc - NV), tôi đề cập đến hợp tác quốc phòng song phương đang có những tiến triển tốt đẹp, đặc biệt là sau cuộc gặp gỡ biên giới giữa bộ trưởng quốc phòng hai bên. Những thỏa thuận cần phải được cụ thể hóa để nó đi vào thực tiễn trong quan hệ hai nước, đồng thời không làm gì để phương hại đến quan hệ giữa hai nước.

Khi ông Tôn Kiến Quốc giải thích một số vấn đề về biển Đông, tôi đã nói với ông Tôn Kiến Quốc rằng tôi với đồng chí là những nhà quân sự, vì vậy tôi sẽ không chọn cách ngoại giao để nói với đồng chí. Tôi xin nói thẳng là các đồng chí sai rồi, các đồng chí đã làm phương hại đến quan hệ giữa hai nước. Không thể nói biển Đông là “tiểu cục”, là chuyện nhỏ được, mà đây là chuyện rất lớn mà cả hai bên cần nhận thức đúng đắn vị trí của nó trong mối quan hệ tổng thể để cùng kiềm chế, lựa chọn hành vi phù hợp khi ứng xử với nhau.

Thứ hai, việc Việt Nam bảo vệ chủ quyền của mình là tất yếu. Nhưng với tư cách một nước láng giềng với Trung Quốc thì Việt Nam không bao giờ muốn làm xấu mặt Trung Quốc. Việt Nam không hề muốn có một nước láng giềng Trung Quốc trở thành mục tiêu để thế giới chỉ trích. Việt Nam mong muốn sự phát triển của Trung Quốc là sự trỗi dậy hòa bình như chính lời lãnh đạo Trung Quốc nói. Nhưng đáng tiếc là những việc làm của Trung Quốc ở biển Đông đã gây lo ngại cho Việt Nam và quan ngại cho cộng đồng quốc tế, những việc làm ấy đang làm xấu hình ảnh Trung Quốc.

* Ông nghĩ sao khi một số người bày tỏ sự hả hê với sự can dự của Mỹ và mong muốn tìm ở Mỹ một điểm tựa nào đó?

- Đấy là suy nghĩ rất không nên. Chúng ta có chính nghĩa ở biển Đông, và tiếng nói của chúng ta hợp với xu thế chung của thế giới, khi thấy ai đó có tiếng nói giống tiếng nói của mình và thậm chí là bênh vực mình là rất tốt. Nhưng điều này hoàn toàn khác với việc mình vào hùa với ai đó, để hả hê khi nói về một bên khác. Tôi nghĩ nếu mỗi người Việt Nam nào đó nếu có tâm lý đó thì cần điều chỉnh./

ĐÀ TRANG - LÊ KIÊN thực hiện