Bs Nguyễn Lương Tuyền: "Trung cộng đang chiếm đoạt Việt Nam"

19 Tháng Tư 201611:07 CH(Xem: 4470)

"BÁO VĂN HÓA-CALIFORNIA" THỨ  TƯ  20  APRIL 2016

image003

Chiến sự Biển Đông: Quần đảo Hoàng Sa bị Trung cộng chiếm từ năm 1949 và từ tay Việt Nam Cộng Hòa vào tháng Giêng năm 1974 trở thành bàn đạp cực kỳ quan trọng cho đường tiến quân của Bắc kinh xâm lược VN và Đông Nam Á. Đồ họa VĂN HÓA MAP

Trung cộng đang chiếm đoạt Việt Nam

Nguyễn Lương Tuyền

 

Trong suốt 2 cuộc chiến tranh chống Pháp từ 1945 tới 1954 với kết quả là đất nước bị chia đôi, CSVN chiếm miền Bắc của vĩ tuyến 17 và xâm chiếm miền Nam từ 1954 tới 1975 để áp đặt chủ nghĩa sắt máu lên toàn quê hương, đảng CSVN và ông Hồ Chí Minh đã dựa hoàn toàn vào sự giúp đỡ của khối Cộng, nhứt là của Trung Cộng. Hậu quả là bây giờ dân Việt đang phải trả nợ những sự giúp đỡ đó bằng chính quê hương của mình.

 

Trong quá khứ, người Việt luôn luôn phải đối đầu với người Tầu trong suốt chiều dài lịch sử của dân tộc. Các nhóm Bách Việt, khởi thủy ở miền Nam Trung Hoa, bị người Tầu đồng hóa. Chỉ còn có nhóm Lạc Việt tồn tại, đến định cư ở miền Châu thổ sông Hồng Hà để lập nên nước Việt. Kể từ lúc lập quốc tại châu thổ sông Hồng Hà, dân Việt phải luôn đối phó với ý đồ xâm lăng, đồng hóa của người Tầu từ phương Bắc.

 

Người Tầu đã đô hộ Việt Nam trong nhiều năm:

 

- Từ năm 111 trước Tây Lịch cho đến năm 931 sau Tây Lịch (hơn 1 ngàn năm).

 

- Từ năm 1407 tới năm 1428. Vua Lê Lợi- người anh hùng áo vải đất Lam Sơn- đã đứng lên đánh đuổi quân Tầu, dành độc lập cho nước nhà.

 

Người Việt đã không bị đồng hóa mặc dù bị Tầu cai trị trong ngần ấy năm.

 

Ý tưởng xâm chiếm VN, cũng như xâm chiếm các nước nhỏ ở chung quanh như Tây Tạng, Mông Cổ, Tân Cương... lúc nào cũng tiềm tàng trong trí óc người Tầu. Nhận viện trợ của Trung Cộng trong 2 cuộc chiến, Hồ Chí Minh và đám đồng chí không hiểu ý định thâm hiểm sâu xa của Trung Cộng hay Hồ và đám CSVN cố tình không hiểu, miễn sao áp đặt cho được chế độ CS lên quê hương; cứu cánh biện minh cho phương tiện là lý luận của Hồ và những người CSVN.

 

Trong sách Cách mạng Trung Quốc và Đảng Cộng Sản Trung Quốc do chính Mao Trạch Đông biên soạn năm 1938 có đoạn viết:

 

(Sau khi dùng chiến tranh đánh bại Trung Quốc, các nước đế quốc đã cướp đi nhiều nước phụ thuộc và một phần lãnh thổ của Trung Quốc:

 

- Nhật chiếm Triều Tiên, Đài Loan, Lưu Cầu, quần đảo Bành Hồ và Lữ Thuận.

- Anh chiếm Miến Điện, Bu Tan, Mã Lai và Hương Cảng.

- Pháp chiếm An Nam.)

 

Bản đồ sau đây được in trong cuốn sách Sơ lược lịch sử Trung Quốc hiện đại được xuất bản tại Bắc Kinh năm 1954. Trên bản đồ, đường chấm bao gồm lãnh thổ Trung Hoa trong đó có các nước Việt Nam, Mã Lai, Thái Lan và Triều Tiên.

 

 image004

Trong cuộc chiến xâm lược Miền Nam Việt Nam của CSVN từ miền Bắc từ năm 1954 tới năm 1975, người ta đã nhận ra giao hảo giữa VNCS và Trung Cộng đã có nhiều dấu hiệu của một sự đổ vỡ không hàn gắn được. Sau năm 1975, người ta mới biết Trung Cộng không bao giờ muốn CSVN đánh chiếm Miền Nam. Sau khi CSVN thành công trong công cuộc thống nhất VN bằng võ lực, mối bất đồng càng ngày càng lộ rõ. Sau khi Lê Duẩn đi Nga Sô ký hiệp ước hỗ tương quân sự và nhứt là sau khi VNCS đưa quân đội tràn qua chiếm Campuchia, lật đổ Chính Phủ CS của Polpot vào năm 1978, Trung Cộng đình chỉ các viện trợ cho VN, đồng thời rút hết các chuyên viên về nước. Lãnh tụ Trung Cộng Đặng Tiểu Bình luôn luôn lớn tiếng đe dọa: Trung Hoa Cộng Sản sẽ phải dậy cho Việt Nam một bài học.

 

image005

Mặt trận trải dài khắp biên giới Việt-Trung

 

Ngày 17 tháng 2 năm 1979, hơn 300 000 quân Trung cộng đồng loạt tấn công VN ở dọc vùng biên giới giữa hai nước, trên một mặt trận trải dài khắp vùng biên giới. Phía Việt Nam bị bất ngờ nên chỉ có bộ đội địa phương được đưa ra để đối đầu với quân Trung Cộng. Các đơn vị quân chánh qui của VN Cộng Sản còn đang bị kẹt ở mặt trận Cao Miên. Người ta đặt dấu hỏi quân báo của CSVN ở đâu mà không phát hiện quân Tầu tập trung, không phải vài ngàn, mà là hơn 300 000 quân với đại pháo, xe bọc sắt ở vùng biên giới giữa hai nước.

 

Trung Cộng gọi đây là cuộc trừng phạt, để dạy cho kẻ bất nghĩa Việt Nam một bài học. Quân TC tràn sang VN với tiêu lệnh: giết sạch, phá sạch. Dù chỉ có các du kích và quân địa phương, phía VN đã dũng cảm đối đầu với quân Trung Cộng. Hai bên cùng bị thiệt hại nặng. Quả là một bài học bằng xương máu của hàng trăm ngàn người ở cả hai nước. Máy bay của Nga Sô đã không vận các đơn vị chánh qui của CSVN từ Campuchia về. Một phòng tuyến được thiết lập để bảo vệ Thủ đô Hà Nội gọi là Phòng Tuyến Sông Cầu nhưng ngày 18 tháng 3 năm 1979, Quân Tầu tự ý rút về sau khi đã diệt hết dân lành, phá tan tành mấy tỉnh miền biên giới như Lạng Sơn, Cao Bằng. Lào Kai và một số tỉnh ở sát biên giới. Cả 2 bên đều tuyên bố là mình thắng trận.

 

Từ năm 1979 cho mãi tới năm 1990, cuộc xung đột biên giới mới chấm dứt.

 

Kể từ 1979 đến năm 1990, có ít nhứt 6 cuộc giao tranh lớn ở vùng biên giới. Trận chiến núi Lão Sơn là một trận mà chiến địa đổi chủ nhiều lần với hàng ngàn binh sĩ hai bên bị giết. Sau chiến tranh biên giới năm 1979, Trung Cộng đã nhận ra sự yếu kém của Hồng Quân Trung Hoa nên họ đã ra sức canh tân, hiện đại hóa quân đội.

 

Sau trận chiến biên giới năm 1979, các trận đấu võ miệng trên các phương tiện truyền thông của cả hai bên được tận dụng. Năm 1979, nhà xuất bản Sự Thực của Cộng sản Việt Nam ấn hành sách Vấn đề biên giới giữa Việt Nam và Trung quốc nhằm vạch trần âm mưu của chủ nghĩa bá quyền Trung quốc. Theo tập tài liệu này: (những dòng in nghiêng sau đây là nguyên văn được trích từ tập tài liệu này).

 

- Năm 1954, họ (TC) những người lãnh đạo Trung Quốc đã lợi dụng tình để thương lượng riêng với Pháp và cùng nhau thỏa hiệp về một giải pháp có lợi cho họ và Pháp. Không có lợi cho nhân dân Việt Nam, nhân dân Lào và nhân dân Campuchia.

 

- Cộng Hòa Nhân dân Trung Hoa, lần đầu tiên, được ngồi ngang hàng với 4 cường quốc, Ủy Viên thường trực của Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc (nhờ chiến tranh ở Việt Nam).

 

- Nhà cầm quyền Bắc Kinh muốn duy trì lâu dài tình trạng Việt Nam bị chia cắt. Nhưng nhân dân Việt Nam đã anh dũng đứng lên cứu nước và càng ngày càng dành được nhiều thắng lợi.

 

- Năm 1974, với sự đồng ý ngầm của Hoa Kỳ, họ đã chiếm quần đảo Hoàng Sa. (LNV: Thực ra CS Việt Nam đã tránh không nhắc tới Công Hàm gửi Châu Ân Lai của Phạm Văn Đồng năm 1958, xác nhận chủ quyền của Trung Cộng trên 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.)

 

- Chính sách ngày nay của các nhà lãnh đạo Trung quốc đối với Việt Nam, mặc dù được ngụy trang khéo léo như thế nào vẫn chỉ là các chính sách của Hoàng Đế Thiên Triều trong mấy ngàn năm qua, nhằm thôn tính Việt Nam. 

 

- Trung Quốc lấn chiếm lãnh thổ Việt Nam từ 1954 tới nay:

 

* Từ xâm canh, xâm cư đến xâm chiếm: điển hình là khu vực Trịnh Tường tại tỉnh Quảng Ninh.

 

* Lợi dụng các công trình xây cất hữu nghị để đẩy lùi cột biên giới sâu vào lãnh thổ Việt Nam...

 

* Năm 1955 khi làm lại đường sắt tại khu Hữu Nghị quan, họ đã dời đường sắt vào sâu ở phía Việt Nam 300 mètres.

 

* Đơn phương xây dựng các công trình ở biên giới, lấn sang Việt Nam.

 

* Mượn đất của Việt Nam để sinh hoạt sau biến thành lãnh thổ Trung Quốc.

 

* Xê dịch các mốc để sửa đổi đường biên giới.

 

* Làm đường biên giới lấn sang phía Việt Nam.

 

* Lợi dụng việc giúp Việt Nam vẽ bản đồ để chuyển dịch đường biên giới.

 

* Dùng lực lượng vũ trang để uy hiếp và đóng chốt để chiếm đất.

 

* Chiếm Hoàng Sa và Trường Sa.

 

- Trong cuộc chiến thống nhất đất nước 1954-1975, Trung Quốc luôn luôn tìm cách cản trở Việt Nam:

 

* Thời kỳ 1954-1964, Trung Quốc ngăn cản nhân dân Việt Nam đấu tranh để thống nhất đất nước.

 

* Thời kỳ 1965-1969: làm yếu và kéo dài cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam.

 

* Thời kỳ 1969-1973: đàm phán với Mỹ trên lưng nhân dân VN.

 

* Thời kỳ 1973-1975:cản trở nhân dân Việt Nam hoàn toàn giải phóng miền Nam.

 

- Sau năm 1975 Trung Quốc tiếp tục chính sách gây khó khăn cho Việt Nam như:

 

* Chính sách Nạn kiều.

 

* Các áp lực về kinh tế, chính trị.

 

Trong 30 năm vừa qua, những người lãnh đạo Trung Quốc coi Việt Nam là một trong những nhân tố quan trọng hàng đầu đối với chiến lược của họ, luôn luôn tìm cách nắm Việt Nam. Muốn như vậy, Việt Nam phải là nước không mạnh, bị chia cắt, không độc lập và lệ thuộc Trung Quốc... Chính sách của những người lãnh đạo Trung Quốc muốn thôn tính Việt Nam nằm trong chính sách chung của họ đối với các nước Đông Nam Á Châu...

 

Tóm lại trong 30 năm vừa qua, những người cầm quyền ở Trung Quốc đã 3 lần phản bội Việt Nam:

 

1- Tại hội nghị Gơ ne vơ năm 1954 họ đã bán rẻ lợi ích dân tộc của nhân dân Việt Nam, không những để bảo đảm cho nước họ một vành đai an ninh ở phía Nam, mà còn để chuẩn bị địa bàn cho việc thực hiện mưu đồ bành trướng ở Đông Dương và Đông Nam Á. Họ muốn duy trì tình trạng Việt Nam bị chia cắt lâu dài, hòng làm cho Việt Nam suy yếu và phải phụ thuộc vào Trung Quốc. 

 

2- Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân Việt Nam, khi chế độ Ngô Đình Diệm bị suy đổ thì họ bật đèn xanh cho Mỹ ném bom miền Bắc Việt Nam, đồng thời đưa quân Mỹ trực tiếp xâm lược miền Nam Việt Nam.

 

3- Sau khi nhân dân Việt Nam giải phóng hoàn toàn miền Nam khỏi ách thống trị thực dân mới của Đế quốc Mỹ và thống nhứt nước nhà, họ đã dùng mọi thủ đoạn chính trị, kinh tế, ngoại giao để làm suy yếu nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ nghĩa Việt Nam, hòng khuất phục nhân dân Việt Nam, tiến đến dùng lực lượng quân sự của bè lũ tay sai Pôn Pốt- Iêng Xa-ry xâm lược Việt Nam ở phía Tây Nam và lực lượng quân sự của Trung Quốc trực tiếp xâm lược Việt Nam ở phía Bắc, giết hại nhân dân Việt Nam, phá hoại nghiêm trọng các cơ sở kinh tế, văn hóa của Việt Nam ở các vùng có chiến sự.

 

Ba lần họ phản bội Việt Nam, lần sau độc ác, bẩn thỉu hơn lần trước.

 

...Để che giấu bộ mặt phản bội của họ, những người cầm quyền Bắc Kinh thường hay nhắc đến việc Trung Cộng viện trợ cho nước Việt Nam, thậm chí khoe rằng quân đội của họ đã chiến đấu ở Điện Biên Phủ.

 

Thực là cạn tầu ráo máng giữa 2 đồng chí đã từng một thuở keo sơn.

 

Phía Trung Cộng cũng không chịu kém. Qua chương trình Việt Ngữ của Đài Phát thanh Bắc Kinh, Trung Cộng đã tố cáo giới lãnh đạo Cộng Sản Việt Nam là phản trắc, côn đồ, vong ơn, "ăn cháo đái bát". Họ trưng những tài liệu, chứng cớ về những "hy sinh" của Trung Quốc đối với Đảng Cộng Sản Việt Nam từ thời chống Pháp năm 1946, cho tới năm 1975.

 

Sau trận chiến tranh biên giới năm 1979, Trung Cộng đã nhận ra những yếu kém của Giải phóng Quân nên đã bỏ rất nhiều tiền để canh tân và phát triển quân đội, kiện toàn Hải Lục Không Quân. Thí dụ về Hải Quân, Trung Cộng trở nên hùng mạnh ở Thái Bình Dương, chỉ thua Hải Quân Hoa Kỳ. Trung Cộng đã trở thành 1 cường quốc về kinh tế, về quân sự khác hẳn Trung Cộng 30 năm về trước.

 

Trung Cộng đang hung hăng tại Biển Đông. Họ đã chiếm quần đảo Hoàng Sa và một phần quần đảo Trường Sa của Việt Nam.

 

Năm 1991, Chủ nghĩa Cộng Sản cáo chung, các nước Đông Âu được tự do. Ngay tại Nga Sô, cái nôi của cách mạng Cộng Sản, chủ nghĩa Mác Lê cũng bị vất vào sọt rác. Nhân loại chỉ còn 4 nước vẫn còn bị dưới ách chế độ Cộng Sản là Trung Hoa, Cuba, Bắc Triều Tiên và Việt Nam. Trung Cộng mặc nhiên trở nên nước Cộng Sản "xếp sòng" trong 4 nước Cộng Sản còn lại. Việt Nam Cộng Sản mất chỗ dựa, mất đi "bầu sữa Liên Sô" nên trở nên "mồ côi" bơ vơ.

 

Các đỉnh cao trí tuệ loài người của Đảng Cộng Sản Việt Nam tại Hà Nội, để sống còn, quyết định dựa vào Trung Cộng. Họ cố gắng tìm cách cải thiện bang giao giữa 2 nước. Nhưng gương vỡ làm sao lành bây giờ! Trung Cộng trở nên rất dè dặt đối với Việt Nam, đứa em bất nghĩa vong ân. Các lãnh đạo của CSVN như Võ Nguyên Giáp, Đỗ Mười, Nguyễn Văn Linh, Lê Khả Phiêu... lần lượt sang Bắc Kinh để cầu khẩn Trung Cộng nối lại tình xưa. Trung Cộng đã lợi dụng thế thượng phong để ép các đầu sỏ VNCS ký những hiệp định hoàn toàn bất lợi cho quê hương VN. Các nhà lãnh đạo CSVN cứ nhắm mắt tuân lời quan thầy Trung Cộng nên dấu kín nhân dân Việt Nam những thỏa thuận bán nước này.

 

Mối giao tình không còn thắm thiết như thuở nào. Trung Cộng không ngừng tạo sức ép, gây áp lực trên Việt Nam về mọi phương diện.

 

- Về kinh tế, hàng hóa của Trung Cộng đang tràn ngập Việt Nam, phá hoại nền kinh tế của Việt Nam. Trung Hoa là nước đứng đầu trong các trao đổi mậu dịch thương mại với VN. Từ 210 triệu dollars năm 2001, năm 2012 đã đạt mức 16 tỷ dollars năm 2012. Thủ Tướng Trung Cộng Lý Khắc Cường nói tới con số dự trù là 60 tỷ dollars cho năm 2015 để rồi đạt mức 100 tỷ dollars năm 2017. Cán cân thương mại luôn luôn nghiêng về phía Trung Cộng. Ngoài ra hàng lậu đến từ Tầu qua ngả biên giới đang tràn ngập VN. Trong đó ta phải kể đến các hàng hóa độc hại, hư thối cho người tiêu thụ. Trung Cộng đang hoặc thu mua hoặc thuê hàng ngàn ngàn mẫu đất của VN với giá thực rẻ. Người Tầu được tự do sang Việt Nam làm ăn, không cần Visa; đó là một mối nguy cho tiền đồ dân tộc.

 

- Về quân sự, Hải quân Trung Cộng đã hoàn toàn chiếm cứ biển Đông. Hải Quân của Cộng Sản Hà Nội đã đụng độ vớ Hải Quân Trung Quốc nhiều lần, đều bị thảm bại. Điển hình là trận Hải chiến năm 1998 (1988). Trung Cộng đã cấm ngư dân Việt Nam đi đánh cá ở Biển Đông. Họ cho rằng biển Đông thuộc về họ. Ngư dân Việt Nam đã bị họ bắt, giết. Ngư thuyền bị tịch thu.

 

Chánh phủ Việt Nam Cộng Sản của các đỉnh cao trí tuệ loài người tại Hà Nội im lặng làm ngơ.

 

Thỉnh thoảng TC cho phát tán lên Internet những lời tố cáo VNCS là những kẻ vô ơn hoặc những ý đồ chinh phục VN bằng quân sự trong 30 ngày để chiếm trọn VN. Tất cả những hăm dọa đó có ẩn ý là tạo một trạng thái tinh thần bất ổn trong hàng ngũ dân Việt. Sau những trận chiến biên giới, kéo dài từ năm 1979 tới năm 1990, TC hiểu rõ việc chinh phục VN bằng võ lực - như cha ông của họ đã từng làm - không còn thích hợp cho chính sách xâm lấn của của họ nữa, họ nhắm chinh phục VN bằng các phương tiện khác. Quân sự chỉ là con ngáo ộp thôi.

 

- Về chính trị, Trung Cộng đã ép các nhà lãnh đạo Cộng sản Việt Nam ký những hiệp định nhượng đất, nhượng biển cho họ. Thí dụ những Hiệp định do Lê Khả Phiêu ký năm 1999, năm 2000, cùng những thỏa thuận cắm mốt biên giới. Ải Nam Quan, Thác Bản Giốc đã thuộc về Trung Cộng. Kiều Công Tiễn thời Ngô, Trần Ích Tắc thời Trần, Lê Chiêu Thống đời Nhà Lê là những kẻ bán nước nhưng học chỉ là những tên phản quốc lẻ loi. Giờ đây, dân Việt bị cả một tập đoàn Cộng Sản phản quốc gồm 16 tên trong Bộ Chánh Trị, gần 500 tên Ủy Viên trong Trung Ương Đảng, 3 triệu đảng viên đang bán rẻ quê hương cho kẻ thù truyền kiếp như Kiều Công Tiễn, Lê Chiêu Thống, Trần Ích Tắc... đã làm.

 

- Người Tầu đã vào Tây Nguyên, gọi là để khai thác Bau xít. Họ vào với con số hàng chục ngàn người. Tây Nguyên, xương sống chiến lược của đất nước, đã bị người Tầu chiếm đóng. Ngoài ra người Tầu đã sang định cư vĩnh viễn ở VN. Các phố Tầu đã mọc lên tại các tỉnh như ở Bình Dương, ở Lạng Sơn... Cư dân Tầu ở các khu người Tầu đều coi thường Luật Pháp của Việt Nam, họ hành xử theo luật pháp do chính họ đặt ra.

 

- Trong việc giao thiệp với Việt Nam, Trung Cộng luôn luôn giữ thế trịch thượng. Các lãnh tụ của Cộng Sản Việt Nam như Nguyễn Minh Triết, Nguyễn Tấn Dũng đều phải sang Tầu để triều kiến. Nhà cầm quyền Cộng Sản Việt Nam, theo lời đòi hỏi của Trung Cộng, đã cấm các cuộc biểu tình tự phát của dân Việt phản đối việc xâm lăng của Trung Cộng. Các người biểu tình bị đàn áp và bắt giam. Thậm chí những bài viết online chống Trung Cộng cũng bị Trung Cộng ra lệnh cho Cộng sản Việt Nam cấm đoán.

 

Người Việt bi quan, lo sợ trước viễn ảnh đất nước đang bị Trung Cộng cưỡng chiếm từ từ để thực hiện cho được nguyện ước của Mao Trạch Đông. Mới đây, người ta đọc trên Internet một tài liệu nói là tài liệu của Tình báo Trung Quốc nói về sự cam kết của hai ông Đỗ Mười, Nguyễn Văn Linh là hai Cựu Tổng Bí Thư của Đảng CSVN về sự sát nhập Việt Nam vào Trung Hoa vĩ đại. Sự sát nhập này sẽ được tiến hành làm 2 giai đoạn:

 

- Giai đoạn 1 từ năm 2000 tới năm 2020. Trong giai đoạn này VN sẽ giải quyết các bất đồng trong nội bộ.

 

- Giai đoạn 2, từ năm 2020 tới năm 2050. VN sẽ hoàn toàn trở về với đất Mẹ (?), Trung Quốc. Nước VN sẽ biến mất trên bản đồ thế giới.

 

Hư thực ra sao? Ta không rõ nhưng hơn lúc nào hết, viễn tượng mất nước đang đè nặng trên tâm tư của con cháu Lạc Hồng tại khắp nơi trên thế giới.

 

Chúng ta cần một Hội nghị Diên Hồng. Không biết những người Cộng Sản Việt Nam có ý thức được là họ đang làm mất quê hương không?

 

Montréal 12-2013

 

Nguyễn Lương Tuyền

 

* Thư của Bác sĩ Nguyễn Lương Tuyền gởi Giáo sư Vũ Ngọc Ánh:

 

Kính thưa Thầy Vũ Ngọc Ánh.

Con học Thầy năm Đệ Ngũ- khoảng năm 1958_Thầy dạy Pháp Văn . Thầy có xuất bản 1 cuốn sách Pháp Văn cho học sinh Đệ Ngũ. Năm Đệ Thất con học Pháp Văn với Cụ Vũ Tiến Thu. Lên Đệ Lục, con học Pháp Văn với Ông Vũ hữu Nghĩa- ông Nghĩa là thư ký ở văn phòng nhưng vì thiếu GS nên Ông Nghĩa được mời dạy Pháp Văn.

Thầy trở thành 1 Thượng Nghị Sĩ trong Liên Danh Bạch Tượng gồm quí ông Trần Văn Lắm, Nguyễn Văn Huyền và Thầy.

Sau khi đậu Tú Tài, con vào học Y Khoa. Năm 1968, con đậu kỳ thi Internat des Hopitaux Sau gần 5 năm làm Nội Trú con đậu vào Ban Giảng huấn của ĐH Y Khoa năm 1973. Năm 1975, con định cư ở Gia Nã Đại ''as a refugee ''. Sau 6 năm đi làm training lại để trở thành 1 Pediatric Surgery. Năm 1980, con về dạy về Pediatric Surgery ở ĐH McGill ở Montréal đồng thời làmAttending Peditric Surgeon tại The Montreal Children's Hospital . Con về hưu cách nay 7 năm , ở tuổi 64 , vì lý do bệnh tật.

Con và 2 anh bạn chủ trương 1 Nguyện San ( Tờ Người Việt Montréal ) đã sống được gần 10 năm. Ngày 1 tháng 5, Nguyệt San Người Việt Montreal sẽ tổ chức Một đêm tưởng nhớ Sàigon. Con hy vọng Đêm Tưởng nhớ Saigon sẽ được tổ chức mỗi năm.

Nằm trong khuôn khổ các bài viết về Đại Họa Mất nước, con xin gửi để Thầy đọc cho vui 1 bài con viết đã hơi lâu nhưng vẫn còn trên Internet. ( Xin Thầy click vào Link sau đây. )

Chúc Thầy luôn luôn vui và mạnh.

Kính.

 

* Thư của Gs Khánh Vân:

 

Kính Thưa Cụ Giáo Sư Vũ Ngọc Ánh và BS Nguyễn Lương Tuyền,

 

Xin kính mừng Cụ đã đào tạo được những người học trò xuất sắc và lúc nào cũng nhớ ơn Thày như Bác Sĩ Nguyền Lương Tuyền. 

BS Tuyền không những được mọi người kính trọng về tài năng trong y học mà còn được mọi người trân trọng ngưỡng mộ về tư cách đạo đức là lòng yêu quê hương VN.

Thân kính,

Khánh Vân 

 

* Bác sĩ Nguyễn Lương Tuyền là giáo sư về khoa Giải phẫu Tiểu Nhi tại đại học McGill, Montreal, Canada.

 

+++++++++++++++++++++++++++++++++

XEM THÊM:

Lê Duẩn: "Bè lũ phản động Bắc Kinh đều muốn xâm lược VN và Đông Nam Á"

Tựa của Văn Hóa

VĂN HÓA - đăng ngày 05 Tháng Sáu 201412:00 SA(Xem: 3508)

Bè lũ phản động Bắc Kinh sẽ xâm lược nước ta từ Biển Đông Đọc hồ sơ dưới đây để hiểu dã tâm bành trướng của Trung cộng.

Nguồn: Thư viện Quân đội Nhân dân, Hà Nội

Tài liệu do Christopher Goscha có được và dịch cho CWIHP

Ngọc Thu, dịch từ: Wilson Center

Bài phát biểu của Tổng bí thư Lê Duẩn về Trung Quốc năm 1979:

"Chúng ta coi họ chỉ là một bè lũ. Chúng ta nói bè lũ phản động Bắc Kinh".

 

 image006

"… Chúng ta rất nghèo. Làm sao chúng ta có thể đánh Mỹ nếu không có Trung Quốc làm căn cứ hậu tập? Nên chúng ta phải nghe theo họ, đúng không? Tuy nhiên, chúng ta đã không đồng ý với bè lũ phản động ..."

- Nói chung, sau khi chúng ta đánh bại Mỹ, không đế quốc nào dám đánh chúng ta nữa. Chỉ có những người nghĩ rằng họ vẫn có thể đánh chúng ta và dám đánh chúng ta chính là những kẻ phản động Trung Quốc.

- Nhưng người dân Trung Quốc hoàn toàn không muốn thế. Tôi không biết những kẻ phản động Trung Quốc này sẽ tiếp tục tồn tại thêm bao lâu nữa. Tuy nhiên, miễn là họ tồn tại, thì họ sẽ tấn công chúng ta như họ vừa thực hiện (nghĩa là đầu năm 1979).

*

Nếu chiến tranh đến từ phương Bắc, thì các tỉnh [Bắc Trung Bộ] Nghệ An, Hà Tĩnh và Thanh Hóa sẽ trở thành cơ sở cho toàn bộ đất nước. Các tỉnh này tốt nhất, là các căn cứ mạnh nhất, tốt nhất và hiệu quả nhất. Vì nếu vùng đồng bằng [Bắc Bộ] tiếp tục là vùng liên tục căng thẳng, thì tình hình sẽ rất phức tạp. Vấn đề không đơn giản chút nào. Nếu không phải là người Việt Nam, thì sẽ không có người nào đánh Mỹ, bởi vì lúc Việt Nam chiến đấu chống Mỹ, cả thế giới còn lại đều sợ Mỹ ...

 Mặc dù Trung Quốc đã giúp Triều Tiên chỉ với mục đích bảo vệ sườn phía Bắc của họ. Sau khi cuộc chiến kết thúc [ở Triều Tiên] và khi áp lực lên Việt Nam, ông ta (chỗ này hình như nói đến Chu Ân Lai khi đoạn văn sau đó cho thấy vậy) nói rằng, nếu Việt Nam tiếp tục chiến đấu, thì sẽ phải tự lo liệu. Ông ta sẽ không giúp thêm nữa và gây áp lực với chúng ta để ngừng chiến đấu.

 Khi chúng ta ký Hiệp Định Geneva, rõ ràng là Chu Ân Lai đã chia đất nước ta làm hai [phần]. Sau khi nước ta bị chia thành hai miền Nam Bắc như thế, một lần nữa ông ta gây sức ép lên chúng ta, không được làm gì đối với miền Nam Việt Nam. Họ ngăn cấm chúng ta đứng lên [chống lại Việt Nam Cộng hòa do Mỹ hậu thuẫn]. [Nhưng] họ, [người Trung Quốc,] không thể làm gì để ngăn cản chúng ta.

Khi chúng ta ở miền Nam và chuẩn bị chiến tranh du kích ngay sau khi ký Hiệp định Geneva, Mao Trạch Đông đã nói với Đại hội Đảng của chúng ta rằng, ngay lập tức, chúng ta phải buộc Lào chuyển hai tỉnh đã được giải phóng cho chính phủ Viêng Chăn. Nếu không, người Mỹ sẽ tiêu diệt hai tỉnh này, một tình huống rất nguy hiểm [theo cái nhìn của Trung Quốc]! Ngay lập tức, Việt Nam đã phải làm việc với người Mỹ [liên quan đến vấn đề này]. Mao đã bức hiếp chúng ta bằng cách này và chúng ta đã phải làm điều đó.

Sau đó, khi hai tỉnh này đã được chuyển cho Viêng Chăn, những tên phản động [Lào] ngay lập tức bắt giữ Souphanouvong (Chủ tịch Lào từ năm 1975-1986). Lào có hai tiểu đoàn bị bao vây lúc đó. Hơn nữa, họ vẫn chưa sẵn sàng chiến đấu. Sau đó, một tiểu đoàn đã có thể thoát khỏi sự [bao vây]. Lúc đó, tôi đưa ra quan điểm của tôi là, Lào phải được phép tiến hành chiến tranh du kích. Tôi mời Trung Quốc đến và thảo luận về vấn đề này với chúng ta.

Tôi nói với họ: “Các đồng chí, nếu các đồng chí tiếp tục gây áp lực với Lào bằng cách này, thì lực lượng của họ sẽ hoàn toàn tan rã. Bây giờ họ phải được phép tiến hành chiến tranh du kích“.

Trương Văn Thiên (Zhang Wentian), người trước đó là Tổng Thư ký [Đảng Cộng sản Trung Quốc] và sử dụng bút danh Lạc Phú, trả lời tôi: “Vâng, các đồng chí, điều các đồng chí nói đúng. Hãy để chúng tôi cho phép tiểu đoàn đó của Lào đảm nhiệm chiến tranh du kích“.

Ngay lập tức, tôi hỏi Trương Văn Thiên: “Các đồng chí, nếu các đồng chí cho phép Lào gánh vác chiến tranh du kích, thì không có gì phải sợ việc phát động chiến tranh du kích ở miền Nam Việt Nam? Điều gì làm cho các đồng chí sợ đến nỗi các đồng chí ngăn cản hành động như thế?”

Ông ta [Trương Văn Thiên] đã nói: “Không có gì phải sợ!”

Trương Văn Thiên đã nói thế. Tuy nhiên, Ho Wei, Đại sứ Trung Quốc ở Việt Nam lúc đó, đã ngồi ở đó và nghe điều đã nói. Ngay lập tức, ông ta điện cho Trung Quốc (báo cáo điều Lê Duẩn và Trương Văn Thiên đã nói). Ngay lập tức, Mao trả lời: “Việt Nam không thể phát động chiến tranh du kích ở miền Nam. Việt Nam phải nằm chờ trong một thời gian dài!”

Chúng ta rất nghèo. Làm sao chúng ta có thể đánh Mỹ nếu không có Trung Quốc làm căn cứ hậu tập? Nên chúng ta phải nghe theo họ, đúng không? Tuy nhiên, chúng ta đã không đồng ý.

Chúng ta đã bí mật tiếp tục phát triển lực lượng. Khi [Ngô Đình] Diệm kéo lê máy chém khắp miền Nam Việt Nam, chúng ta đã ban hành lệnh thành lập lực lượng quần chúng để chống lại lệnh đã được lập và nắm quyền [từ chính phủ Diệm].

Chúng ta đã không chú ý [đến Trung Quốc]. Khi cuộc nổi dậy giành chính quyền bắt đầu, chúng tôi đi Trung Quốc để gặp Chu Ân Lai và Đặng Tiểu Bình. Đặng Tiểu Bình đã nói với tôi: “Đồng chí, bây giờ sai lầm của đồng chí đã xảy ra rồi, đồng chí chỉ nên đánh ở mức trung đội trở xuống“.

Đó là áp lực mà họ đã áp đặt lên chúng ta.

Tôi nói [với Trung Quốc]: “Vâng, vâng! tôi sẽ làm điều đó. Tôi sẽ chỉ chiến đấu ở mức một trung đội trở xuống“.

Sau khi chúng ta chiến đấu và Trung Quốc nhận ra rằng chúng ta có thể chiến đấu hiệu quả, đột nhiên Mao có suy nghĩ mới. Ông ta nói rằng, vì Mỹ đánh chúng ta, ông ta sẽ đưa quân đội [Trung Quốc] đến giúp chúng ta xây dựng đường xá. Mục tiêu chính của ông ta là tìm hiểu tình hình đất nước ta để sau này ông ta có thể tấn công chúng ta và từ đó mở rộng xuống khu vực Đông Nam Á. Không có lý do nào khác.

Chúng tôi biết rõ ý đồ này, nhưng phải cho phép họ (sự xâm nhập của quân đội Trung Quốc). Thôi thì cũng được. Nhưng họ quyết định đưa quân vào. Tôi yêu cầu họ chỉ gửi người, nhưng quân lính của họ đã đến cùng với súng đạn. Tôi cũng phải chịu điều này.

 Sau đó, ông ta (Mao Trạch Đông) bắt chúng ta phải nhận 20.000 quân của ông ta đến xây một con đường từ Nghệ Tĩnh vào Nam Bộ (thuật ngữ tiếng Việt chỉ miền Nam Việt Nam). Tôi từ chối. Họ tiếp tục yêu cầu nhưng tôi không nhượng bộ. Họ gây áp lực với tôi cho quân của họ vào nhưng tôi đã không chấp thuận. Họ tiếp tục gây sức ép nhưng tôi vẫn không chịu. Tôi đưa ra những ví dụ này để các đồng chí thấy họ có âm mưu cướp nước ta từ lâu và âm mưu đó ác độc như thế nào.

 **

Sau khi Mỹ đưa hàng trăm ngàn quân vào miền Nam Việt Nam, chúng ta đã phát động cuộc tổng tấn công vào năm 1968 để buộc họ giảm leo thang. Để đánh bại Hoa Kỳ, một điều cần phải biết là làm thế nào để họ từ từ giảm leo thang. Đó là chiến lược của chúng ta. Chúng ta chiến đấu chống một kẻ thù lớn, kẻ thù với dân số 200 triệu người và thống trị thế giới. Nếu chúng ta không thể làm cho họ giảm leo thang từng bước, thì chúng ta sẽ thất bại và không thể tiêu diệt kẻ thù. Chúng ta phải đấu tranh để làm nhụt ý chí họ để buộc họ phải đi đến bàn đàm phán với chúng ta mà không cho phép họ đưa thêm quân.

Đến lúc họ muốn thương lượng với chúng ta, Ho Wei đã viết một bức thư cho chúng tôi, nói rằng: “Các ông không thể ngồi xuống đàm phán với Hoa Kỳ. Các ông phải đưa quân Mỹ vào miền Bắc Việt Nam để đánh với họ“. Ông ta gây áp lực với chúng tôi cách này, làm cho chúng tôi bối rối vô cùng. Đây không phải là vấn đề hoàn toàn đơn giản. Rất là mệt mỏi mỗi khi tình huống như thế phát sinh [với Trung Quốc].

Chúng tôi quyết định không thực hiện cách đó (nói đến lời khuyên của Hồ Wei không đàm phán với Hoa Kỳ).

Chúng tôi phải ngồi xuống ở Paris. Chúng tôi phải làm cho họ (Mỹ) giảm leo thang để đánh bại họ. Trong thời gian đó, Trung Quốc đã thông báo [với Mỹ]: “Nếu các ông không tấn công tôi, tôi sẽ không tấn công các ông. Nhưng rất nhiều quân lính mà các ông muốn đưa vào Việt Nam, tùy các ông“.

Trung Quốc nhất trí điều này và đã gây áp lực với chúng tôi bằng cách đó.

Họ (Trung Quốc) đã trao đổi nhiều với Mỹ và ép buộc chúng ta phục vụ như là một con bài để mặc cả theo cách này. Khi người Mỹ nhận ra rằng họ đã thua trận, ngay lập tức, họ sử dụng Trung Quốc để [tạo điều kiện] rút quân [ở miền Nam Việt Nam]. Nixon và Kissinger đã đến Trung Quốc để thảo luận vấn đề này.

Trước khi Nixon đi Trung Quốc, [mục đích chuyến đi của ông ta là] giải quyết vấn đề Việt Nam bằng cách đó, để phục vụ lợi ích của Mỹ và giảm bớt thất bại của Mỹ, cũng như cùng lúc cho phép ông ta lôi kéo Trung Quốc về phía Mỹ.

- Chu Ân Lai đã đến gặp tôi. Chu Ân Lai nói với tôi: “Lúc này, Nixon đến gặp tôi chủ yếu là thảo luận về vấn đề Việt Nam, do vậy tôi phải đến gặp đồng chí để thảo luận điều đó với đồng chí”..

Tôi trả lời: “Đồng chí, đồng chí có thể nói bất cứ điều gì đồng chí thích, nhưng tôi không nghe theo đồng chí. Đồng chí là người Trung Quốc, tôi là người Việt. Việt Nam là của tôi (đất nước của tôi), hoàn toàn không phải của các đồng chí. Các đồng chí không có quyền nói [về vấn đề Việt Nam] và các đồng chí không có quyền thảo luận [các vấn đề đó với Mỹ]. Hôm nay, các đồng chí, chính tôi sẽ nói với các đồng chí điều mà thậm chí tôi chưa hề nói với Bộ Chính trị, rằng đồng chí đã nêu ra vấn đề nghiêm trọng và vì thế tôi phải nói”

- Năm 1954, khi chúng tôi giành chiến thắng tại Điện Biên Phủ, tôi đã ở [tỉnh] Hậu Nghĩa. Bác Hồ đã điện nói với tôi rằng, tôi phải vào miền Nam để tập hợp [các lực lượng ở đó] và nói chuyện với đồng bào miền Nam [về vấn đề này]. Tôi đi bằng xe tải vào miền Nam. Trên đường đi, đồng bào ra chào đón tôi vì họ nghĩ rằng chúng tôi đã giành chiến thắng. Đau đớn vô cùng! Nhìn đồng bào miền Nam, tôi đã khóc. Vì sau đó, Hoa Kỳ sẽ đến và tàn sát [người dân] một cách khủng khiếp.

- Khi vừa tới miền Nam, ngay lập tức, tôi đã điện cho Bác Hồ để xin ở lại [miền Nam] và không trở lại miền Bắc để tôi có thể đánh thêm mười năm nữa hoặc hơn. Đồng chí đã gây khó khăn cho tôi như thế này (muốn nói đến vai trò của Chu Ân Lai trong việc chia cắt Việt Nam tại Geneva năm 1954), đồng chí có biết không“?

Chu Ân Lai nói: “Tôi xin lỗi đồng chí. Tôi đã sai. Điều đó tôi sai” (muốn nói đến sự chia cắt Việt Nam tại Geneva).

Sau khi Nixon rời khỏi Trung Quốc, một lần nữa, ông ta (Chu Ân Lai) đến Việt Nam để hỏi tôi về một số vấn đề liên quan đến cuộc chiến ở miền Nam Việt Nam. Tuy nhiên, ngay lập tức, tôi nói với Chu Ân Lai: “Nixon đã gặp các đồng chí rồi. Chẳng bao lâu nữa, họ (Hoa Kỳ) sẽ tấn công chúng tôi thậm chí còn mạnh hơn“.

Tôi hoàn toàn không sợ. Cả hai (Mỹ và Trung Quốc) đã thương lượng với nhau để đánh tôi mạnh hơn. Ông ta (Chu Ân Lai) đã không bác bỏ quan điểm này là vô căn cứ và chỉ nói rằng: “Tôi sẽ gửi thêm súng đạn cho các đồng chí“.

Sau đó ông ta (Chu Ân Lai) nói (về mối lo ngại âm mưu bí mật Trung - Mỹ): “Không có điều đó“. Tuy nhiên, hai bên đã thảo luận làm thế nào để đánh chúng ta mạnh hơn, gồm các cuộc tấn công bằng bom B-52 và phong tỏa cảng Hải Phòng. Rõ ràng là như thế.

- Nếu Liên Xô và Trung Quốc đã không mâu thuẫn với nhau, thì Hoa Kỳ không thể tấn công chúng ta quyết liệt như họ đã tấn công. Khi hai [cường quốc Trung Quốc và Liên Xô] xung đột, người Mỹ đã không bị [phe đối lập là khối xã hội chủ nghĩa] cản trở. Mặc dù Việt Nam có thể thống nhất và đoàn kết với cả Trung Quốc lẫn Liên Xô, để đạt được điều này rất phức tạp, lúc đó chúng ta phải dựa vào Trung Quốc nhiều thứ. Lúc đó, hàng năm Trung Quốc cung cấp viện trợ 500.000 tấn thực phẩm, cũng như súng ống, đạn dược, tiền bạc, chưa kể đến viện trợ đô la. Liên Xô cũng đã giúp bằng cách này. Nếu chúng ta không thể làm điều đó (đoàn kết và thống nhất với Trung Quốc và Liên Xô), mọi thứ sẽ rất nguy hiểm.

Mỗi năm tôi đã phải đi Trung Quốc hai lần để nói chuyện với họ (lãnh đạo Trung Quốc) về [các sự kiện] ở miền Nam Việt Nam. Về phía Liên Xô, tôi không phải nói gì cả (về tình hình ở miền Nam Việt Nam). Tôi chỉ nói một cách chung chung. Khi giao thiệp với Trung Quốc, tôi đã phải nói rằng cả hai [nước] đang đánh Mỹ. Tôi đã đi một mình.

Tôi phải có mặt về vấn đề này. Tôi đã đến đó và nói chuyện với họ nhiều lần bằng cách này, mục đích chính là để xây dựng quan hệ gần gũi hơn giữa hai bên (nghĩa là Trung Quốc và Việt Nam). Chính xác là vào thời điểm đó Trung Quốc gây áp lực với chúng ta để xa lánh Liên Xô, cấm chúng ta không được đi với Liên Xô.

Họ đã làm rất căng. Đặng Tiểu Bình, cùng với Khang Sinh đã đến và nói với tôi: “Đồng chí, tôi sẽ giúp đồng chí vài tỷ [có lẽ là nhân dân tệ] mỗi năm. Đồng chí không thể nhận bất cứ thứ gì từ Liên Xô“.

Tôi không đồng ý điều này. Tôi nói: “Không, chúng ta phải đoàn kết và thống nhất với toàn bộ phe [xã hội chủ nghĩa]“.

- Năm 1963, khi Khrushchev phạm sai lầm, ngay lập tức [Trung Quốc] ban hành một tuyên bố 25 điểm và mời đảng chúng ta đến cho ý kiến . Anh Trường Chinh và tôi đã đi cùng với một số anh em khác. Trong cuộc thảo luận, họ (Trung Quốc) lắng nghe chúng tôi đến, hình như là điểm thứ 10, nhưng khi đến điểm “không từ bỏ phe xã hội chủ nghĩa”, họ đã không nghe ... Đặng Tiểu Bình nói: “Tôi chịu trách nhiệm về tài liệu của chính tôi, tôi muốn nghe ý kiến của các đồng chí, nhưng tôi không chấp nhận quan điểm này của các đồng chí“.

Trước khi chúng tôi ra về, Mao gặp anh Trường Chinh và tôi. Mao ngồi xuống trò chuyện với chúng tôi và cuối cùng ông ta tuyên bố: “Các đồng chí, tôi muốn nói cho các đồng chí biết điều này. Tôi sẽ là chủ tịch của 500 triệu nông dân đang thiếu đất, và tôi sẽ mang một đạo quân tiến xuống khu vực Đông Nam Á”.

Đặng Tiểu Bình cũng ngồi ở đó, nói thêm: “Chủ yếu là vì nông dân nghèo, trong tình cảnh khó khăn cùng cực!”

Khi chúng tôi ra ngoài, tôi nói với anh Trường Chinh: “Đó anh thấy đó, âm mưu chiếm nước ta và Đông Nam Á. Bây giờ đã rõ rồi”. Họ dám tuyên bố điều đó như thế. Họ nghĩ chúng ta không hiểu. Đúng là không lúc nào họ không nghĩ đến đánh Việt Nam! Tôi sẽ nói với các đồng chí nhiều hơn để các đồng chí có thể thấy thêm về tầm quan trọng quân sự trong vấn đề này.

Mao hỏi tôi: Ở Lào, có bao nhiêu cây số vuông đất?

Tôi trả lời: Khoảng 200.000 cây số vuông.

Mao hỏi: Dân số của họ bao nhiêu?

Tôi trả lời: Khoảng 3 triệu!

Mao nói: Như vậy là không nhiều! Tôi sẽ đưa dân tôi đến đó, thật mà!

Mao hỏi: Có bao nhiêu cây số vuông đất ở Thái Lan?

Tôi trả lời: Khoảng 500.000 cây số vuông.

Mao hỏi: Có bao nhiêu người?

Tôi trả lời: Khoảng 40 triệu!

Mao nói: Lạy Chúa! Tỉnh Tứ Xuyên của Trung Quốc có 500.000 cây số vuông, nhưng có tới 90 triệu người. Tôi cũng sẽ đưa một số người dân của tôi tới Thái Lan!

Đối với Việt Nam, họ không dám nói về việc đưa người tới theo cách này. Tuy nhiên, ông ta (Mao) nói với tôi: “Đồng chí, có đúng là người của các đồng chí đã chiến đấu và đánh bại quân Nguyên?” Tôi nói: “Đúng“. Ông ta hỏi: “Có phải cũng chính người của đồng chí đã đánh bại quân Thanh?” Tôi nói: “Đúng“. Ông ta nói: “Và quân Minh nữa, phải không?” Tôi nói: “Đúng, và cả các ông nữa. Tôi đánh các ông luôn. Các ông có biết điều đó không?“

Tôi đã nói với Mao Trạch Đông như thế. Ông ta nói: “Có, có!”

Ông ta muốn chiếm Lào, cả Thái Lan, cũng như muốn chiếm tất cả các nước Đông Nam Á. Đưa người dân đến sống ở đó. Quan điểm đó thật là phức tạp.

Trong quá khứ (nói đến vấn đề có thể xuất phát từ mối đe dọa của Trung Quốc trong thời gian này), chúng ta đã chuẩn bị rất nhiều, không phải là chúng ta không chuẩn bị. Nếu chúng ta không chuẩn bị, tình hình gần đây sẽ rất nguy hiểm. Không phải là vấn đề đơn giản.

Mười năm trước, tôi đã triệu tập các anh em trong quân đội đến gặp tôi. Tôi nói với họ rằng Liên Xô và Mỹ mâu thuẫn với nhau. Đối với Trung Quốc, họ đã bắt tay với đế quốc Mỹ. Trong tình hình căng thẳng này, các đồng chí phải nghiên cứu vấn đề này ngay lập tức. Tôi sợ rằng quân đội không hiểu ý tôi, nên tôi nói với họ rằng, không có cách nào khác để hiểu vấn đề này. Nhưng họ vẫn thấy khó hiểu. Hoàn toàn không dễ. Nhưng tôi không thể nói bằng cách nào khác. Và tôi đã không cho phép những kẻ khác túm lấy tôi.

Khi tôi đến Liên Xô, Liên Xô cũng làm khó tôi về Trung Quốc. Liên Xô đã triệu tập một cuộc họp gồm 80 đảng [cộng sản] để hỗ trợ Việt Nam, nhưng Việt Nam không tham dự hội nghị này, vì [buổi hợp này] không chỉ đơn giản chỉ nhằm giúp Việt Nam, mà còn có mục đích lên án Trung Quốc. Nên Việt Nam đã không đi.

Liên Xô nói: “Bây giờ các đồng chí bỏ rơi chủ nghĩa quốc tế [hay] là cái gì? Tại sao các đồng chí làm điều này?”

Tôi nói: “Tôi hoàn toàn không bỏ rơi chủ nghĩa quốc tế. Tôi không bao giờ làm điều này. Tuy nhiên, để là người quốc tế, trước tiên phải đánh bại Mỹ. Và nếu một nước muốn đánh bại Mỹ, thì phải có sự thống nhất và đoàn kết với Trung Quốc. Nếu tôi đến hội nghị này, thì Trung Quốc sẽ gây nhiều khó khăn lớn với chúng tôi. Các đồng chí, hãy hiểu cho tôi“.

Tại Trung Quốc cũng có nhiều ý kiến và tranh luận khác nhau. Chu Ân Lai đồng ý việc hình thành một mặt trận với Liên Xô để chống Mỹ. Một lần, khi tôi đi Liên Xô để dự lễ kỷ niệm quốc gia, tôi có đọc một bức điện Trung Quốc gửi sang Liên Xô, nói rằng: “Bất cứ khi nào có ai đó tấn công Liên Xô, thì Trung Quốc sẽ đứng bên cạnh các bạn“. Đó là vì đã có một hiệp ước hữu nghị giữa Liên Xô và Trung Quốc từ thời trước đó (tháng 2 năm 1950).

Ngồi cạnh Chu Ân Lai, tôi hỏi ông ta: “Trong bức điện gửi đến Liên Xô gần đây, đồng chí đồng ý thành lập một mặt trận với Liên Xô, nhưng tại sao các đồng chí không thành lập một mặt trận chống Mỹ?” Chu Ân Lai nói: “Chúng tôi có thể thành lập mặt trận chống Mỹ. Tôi chia sẻ quan điểm đó. Các đồng chí, tôi sẽ thành lập một mặt trận với các đồng chí [Việt Nam]”. Bành Chân cũng ngồi ở đó, nói thêm: “Quan điểm này cực kỳ chính xác!”

Nhưng khi vấn đề được thảo luận tại Thượng Hải, Mao nói là không thể và hủy bỏ nó.

Các đồng chí thấy nó phức tạp như thế nào. Mặc dù Chu Ân Lai giữ vững một số quan điểm này, ông ta dù sao cũng đồng ý xây dựng một mặt trận và [ông ta] đã giúp Việt Nam rất nhiều. Cám ơn ông ta rằng tôi có thể hiểu [nhiều về những gì đang diễn ra ở Trung Quốc]. Nếu không thì sẽ rất nguy hiểm. Có lần, ông ta nói với tôi: “Tôi đang làm hết sức mình để tồn tại ở đây, sử dụng Li Chiang tích lũy và hỗ trợ cho các đồng chí“. Thì ra vậy (tức là Chu Ân Lai đã sử dụng Li Chiang, để giúp người Việt Nam). Có nghĩa là, không có Chu Ân Lai, điều này sẽ hoàn toàn không thể xảy ra. Tôi đang mắc nợ ông ta. Tuy nhiên, không đúng để nói rằng các lãnh đạo khác của Trung Quốc hoàn toàn chia sẻ quan điểm của Chu Ân Lai. Họ khác nhau nhiều thứ. Phải nói rằng, người kiên quyết nhất là người có tinh thần Đại Hán và là người muốn chiếm Đông Nam Á, đó chính là Mao Trạch Đông. Tất cả các chính sách [của Trung Quốc] đều nằm trong tay ông ta.

- Điều tương tự cũng áp dụng đối với các nhà lãnh đạo hiện tại của Trung Quốc. Tuy nhiên, chúng ta không biết tương lai sẽ ra sao, [sự thật của vấn đề là] họ đã tấn công chúng ta. Trong quá khứ, Đặng Tiểu Bình đã làm hai điều mà hiện đang bị đảo lộn. Đó là, khi chúng ta giành chiến thắng ở miền Nam Việt Nam, nhiều [lãnh đạo] Trung Quốc không hài lòng. Tuy nhiên, dù sao Đặng Tiểu Bình cũng chúc mừng chúng ta. Vì lý do này, ngay lập tức ông ta đã bị những người khác xem như là người theo chủ nghĩa xét lại.

Khi tôi đi Trung Quốc lần cuối, tôi dẫn đầu phái đoàn, và tôi đã gặp phái đoàn Trung Quốc do Đặng Tiểu Bình đứng đầu.

Khi nói về vấn đề lãnh thổ, gồm cả việc thảo luận về một số hòn đảo, tôi nói: “Hai đất nước chúng ta ở gần nhau, Có một số vùng lãnh thổ của chúng ta vẫn chưa được xác định rõ ràng. Hai bên nên thành lập các cơ quan để xem xét vấn đề này. Các đồng chí, làm ơn đồng ý với tôi [về vấn đề này]”. Ông ta (Đặng Tiểu Bình) đồng ý, nhưng sau khi làm như vậy, ngay lập tức ông ta bị nhóm lãnh đạo khác xem như là người theo chủ nghĩa xét lại.

Nhưng bây giờ ông ta (Đặng Tiểu Bình) điên rồi. Bởi vì ông ta muốn cho mọi người thấy rằng ông ta không phải là người theo chủ nghĩa xét lại, cho nên ông ta đã tấn công Việt Nam mạnh hơn. Ông ta để cho họ tiếp tục tấn công Việt Nam.

- Sau khi đánh bại Mỹ, chúng ta giữ lại hơn một triệu quân, các đồng chí lãnh đạo Liên Xô hỏi chúng tôi: “Các đồng chí định đánh với ai mà giữ lại một đội quân thường trực lớn như vậy?” Tôi nói: “Sau này, các đồng chí sẽ hiểu”. Lý do duy nhất chúng ta giữ quân đội thường trực như thế là vì mối đe dọa của Trung Quốc đối với Việt Nam. Nếu không có [một mối đe dọa như thế], thì điều này (quân đội thường trực lớn) sẽ không cần. Gần đây, bị tấn công trên hai mặt trận, [chúng ta có thể thấy rằng] rất nguy hiểm nếu chúng ta đã không được duy trì một đội quân lớn. (B) (Ý nghĩa của chữ “B” này trong văn bản gốc không rõ ràng)

Sau Đệ nhị Thế chiến, tất cả mọi người tin rằng tên sen đầm quốc tế là đế quốc Mỹ. Họ có thể tiếp quản và bắt nạt cả thế giới. Tất cả các nước, gồm các nước lớn đều sợ Mỹ. Chỉ có Việt Nam là không sợ Mỹ.

Tôi hiểu vấn đề này vì công việc đã dạy tôi. Người đầu tiên sợ [Mỹ] là Mao Trạch Đông. Ông ta nói với tôi, đó là, Việt Nam và Lào, rằng: “Ngay lập tức, các ông phải chuyển giao hai tỉnh của Lào đã được giải phóng cho chính phủ Viêng Chăn. Nếu các ông không làm như vậy, thì Mỹ sẽ sử dụng điều đó làm lý do tấn công. Đó là mối nguy lớn”.

Về phía Việt Nam, chúng tôi đã nói: “Chúng ta phải chiến đấu chống Mỹ để giải phóng miền Nam Việt Nam“. Ông ta (Mao) nói: “Các ông không thể làm điều đó. Miền Nam Việt Nam phải nằm đợi trong một thời gian dài, đợi một đời, 5-10 đời hoặc thậm chí 20 đời kể từ bây giờ. Các ông không thể đánh Mỹ. Đánh Mỹ là nguy hiểm”. Mao Trạch Đông đã sợ Mỹ đến mức độ đó...

Nhưng Việt Nam không sợ. Việt Nam đã tiếp tục chiến đấu. Nếu Việt Nam không đánh Mỹ thì miền Nam Việt Nam sẽ không được giải phóng. Một đất nước chưa được giải phóng sẽ vẫn là một đất nước lệ thuộc. Không ai có được độc lập nếu chỉ có một nửa đất nước được tự do. Không có được độc lập cho đến năm 1975, đất nước chúng ta cuối cùng có được độc lập hoàn toàn. Có độc lập, tự do sẽ đến. Tự do phải là tự do cho cả nước Việt Nam ...

Engels đã nói về chiến tranh nhân dân. Sau đó, Liên Xô, Trung Quốc và chính chúng ta cũng đã nói [về vấn đề này]. Tuy nhiên, ba nước rất khác về nội dung [chiến tranh nhân dân]. Không đúng là chỉ vì các bạn có hàng triệu người, thì các bạn có thể làm bất cứ điều gì các bạn muốn. Trung Quốc cũng nói đến chiến tranh nhân dân, tuy nhiên, [họ cho rằng] “khi kẻ thù tiến lên, thì chúng ta phải rút lui”.. Nói cách khác, phòng thủ là chính, và chiến tranh được chia thành ba giai đoạn, vùng nông thôn được sử dụng để bao vây thành thị, trong khi [các lực lượng chính] chỉ ở lại trong rừng núi... Người Trung Quốc ở thế phòng thủ và rất yếu [trong Đệ nhị Thế chiến].

Ngay cả với 400 triệu người đọ sức với quân đội Nhật Bản có 300.000 –400.000 quân, Trung Quốc vẫn không thể đánh bại họ.

Tôi phải lặp lại điều này như thế, vì trước khi Trung Quốc gửi cố vấn cho chúng ta, một số anh em Việt Nam chúng ta không hiểu. Họ nghĩ rằng [Trung Quốc] rất có khả năng. Nhưng họ không có kỹ năng và do đó chúng ta đã không làm theo [những lời khuyên của Trung Quốc].

- Năm 1952, tôi rời miền Bắc sang Trung Quốc vì tôi bị bệnh và cần điều trị. Đây là lần đầu tiên tôi đi nước ngoài. Tôi đặt câu hỏi cho họ (Trung Quốc) và thấy nhiều điều rất lạ. Có những khu vực [đã bị] quân Nhật chiếm đóng, mỗi khu có dân số khoảng 50 triệu người, nhưng không có lấy một chiến binh du kích...

Khi tôi từ Trung Quốc trở về, tôi đã gặp Bác [Hồ]. Bác hỏi tôi:

- Đây là lần đầu tiên chú đi ra nước ngoài, phải không?

- Vâng, đây là lần đầu tiên tôi đi ra nước ngoài.

- Chú đã thấy gì?

- Tôi thấy hai điều: Việt Nam rất dũng cảm và họ (Trung Quốc) không dũng cảm chút nào.

Tôi hiểu điều này kể từ ngày đó. Chúng ta (Việt Nam) hoàn toàn khác với họ. Lòng can đảm vốn có trong con người Việt Nam và do đó chúng ta chưa bao giờ có một chiến lược phòng thủ (ý nói ở thế thủ). Mọi người dân chiến đấu.

Gần đây, họ (Trung Quốc) đã mang hàng trăm ngàn quân vào xâm chiếm nước ta (1979). Hầu hết, chúng ta đã sử dụng lực lượng dân quân và quân đội trong vùng để tấn công họ. Chúng ta không ở thế thủ và do đó họ phải lùi bước.

Họ không thể quét sạch dù một trung đội Việt Nam, trong khi chúng ta đã xóa sổ vài trung đoàn và hàng chục tiểu đoàn của họ. Có được như vậy là vì chiến lược tấn công của chúng ta. Đế quốc Mỹ đã đánh với chúng ta trong một cuộc chiến kéo dài. Họ rất mạnh, nhưng họ đã thua. Nhưng có một yếu tố đặc biệt, đó là những mâu thuẫn gay gắt giữa Trung Quốc và Liên Xô. [Vì điều này,] họ đã tấn công chúng ta mạnh như thế này.... Việt Nam đã chiến đấu chống Mỹ, và đã chiến đấu rất quyết liệt, nhưng chúng ta biết rằng Hoa Kỳ là một nước rất lớn, khả năng tích lũy hơn 10 triệu quân và đưa tất cả các loại vũ khí được xem là mạnh của họ vào để đánh chúng ta. Vì vậy, chúng ta đã phải chiến đấu trong một thời gian dài để làm cho cho họ giảm leo thang. Chúng ta là những người có thể làm được điều đó, Trung Quốc thì không thể. Khi quân đội Mỹ tấn công Quong Tre (Quảng Trị?), ngay lập tức Bộ Chính trị ra lệnh đưa quân đội vào chiến đấu. Chúng ta không sợ.

Sau đó tôi đi Trung Quốc gặp Chu Ân Lai. Ông ta nói với tôi: “Điều đó (cuộc tấn công vào Quảng Trị) có lẽ là chưa từng có, có một không hai. Chỉ có một [cơ hội] trên đời này, không có cơ hội thứ hai. Không ai dám làm những điều các đồng chí đã làm“.

- ... Chu Ân Lai là người đứng đầu Bộ Tham mưu. Ông ta dám nói, ông ta thẳng thắn hơn. Ông ta nói với tôi: “Nếu tôi biết trước cái cách mà các đồng chí sử dụng, chúng tôi không cần Vạn lý Trường chinh“. Vạn lý Trường chinh là gì? Vào đầu cuộc hành quân có 300.000 quân, đến cuối Vạn lý Trường chinh chỉ còn 30.000 quân. 270.000 người đã chết. Thực sự ngu ngốc khi thực hiện cách này. Nói như vậy để các đồng chí biết chúng ta đang đi trước họ như thế nào. Trong tương lai không xa, nếu chúng ta chiến đấu chống lại Trung Quốc, chúng ta chắc chắn sẽ giành chiến thắng ... Tuy nhiên, sự thật là nếu một nước khác [không phải Việt Nam] chiến đấu chống lại Trung Quốc, không rõ họ có giành được chiến thắng như thế này không (như Việt Nam).

- ... Nếu Trung Quốc và Liên Xô thống nhất với nhau, không chắc Hoa Kỳ có dám đánh chúng ta hay không. Nếu hai nước thống nhất và liên kết với nhau để giúp chúng ta, không chắc Hoa Kỳ có dám đánh chúng ta cái cách mà họ đã đánh. Họ sẽ do dự ngay từ đầu. Họ sẽ do dự như thời Kennedy. Việt Nam, Trung Quốc và Liên Xô, tất cả đã giúp Lào và ngay lập tức Mỹ ký một hiệp ước với Lào. Họ không dám gửi quân Mỹ sang Lào, họ để cho Đảng [Nhân dân Cách mạng] Lào tham gia chính phủ ngay lập tức. Họ không dám tấn công Lào nữa.

Sau đó, khi hai nước [Liên Xô và Trung Quốc] xung đột với nhau, Mỹ được [Trung Quốc] thông báo là họ có thể tiến tới và tấn công Việt Nam mà không sợ. Đừng sợ [sự trả đũa của Trung Quốc]. Chu Ân Lai và Mao Trạch Đông đã nói với Mỹ: “Nếu các ông không tấn công tôi, thì tôi sẽ không tấn công các ông. Các ông có thể đưa nhiều quân vào miền Nam Việt Nam mà các ông muốn. Tùy các ông“.

- ... Hiện tại, chúng ta có biên giới với một nước rất mạnh, một nước với ý đồ bành trướng mà nếu muốn được thực hiện, phải bắt đầu với một cuộc xâm lược Việt Nam. Vì vậy, chúng ta phải chung vai gánh vác, vai trò lịch sử khác nhau. Tuy nhiên, chúng ta chưa bao giờ trốn tránh trách nhiệm lịch sử. Trước đây, Việt Nam đã thực hiện nhiệm vụ của mình, và lần này Việt Nam xác định không cho phép họ bành trướng. Việt Nam giữ độc lập riêng mình và làm như vậy cũng là để bảo vệ nền độc lập của các nước Đông Nam Á. Việt Nam kiên quyết không để Trung Quốc thực hiện âm mưu bành trướng. Trận đánh gần đây [với Trung Quốc] chỉ là vòng một. Hiện họ vẫn còn chuẩn bị nhiều lĩnh vực. Tuy nhiên, bất kể họ chuẩn bị đến mức độ nào, Việt Nam cũng sẽ thắng ...

- Tiến hành chiến tranh không phải là đi bộ thong thả trong rừng. Gửi một triệu quân vào cuộc chiến chống lại một nước ở bên ngoài liên quan đến vô số khó khăn. Gần đây họ đưa 500.000 –600.000 binh lính để đánh chúng ta, nhưng họ đã không có thiết bị vận tải đầy đủ để cung cấp lương thực cho quân đội của họ. Trung Quốc hiện đang

chuẩn bị 3,5 triệu quân, nhưng họ phải để lại một nửa số quân đó ở biên giới [Trung-Xô] để ngăn chặn Liên Xô. Vì lý do đó, nếu họ đưa 1 hoặc 2 triệu quân vào để đánh chúng ta, chúng ta sẽ không sợ bất cứ điều gì. Chúng ta chỉ có 600.000 quân tham gia, và trong tương lai gần, nếu chúng ta phải đánh với 2 triệu quân, sẽ không có vấn đề gì cả. Chúng ta không sợ.Chúng ta không sợ bởi vì chúng ta biết cách đánh. Nếu họ đưa 1 triệu quân, họ sẽ chỉ giành được một chỗ đứng ở miền Bắc. Đi xuống vùng trung du, vùng đồng bằng và Hà Nội và thậm chí xuống dưới sẽ khó khăn hơn nữa.

- Các đồng chí, như các đồng chí biết, bọn Hitler tấn công quyết liệt theo cách này, nhưng khi họ (Đức Quốc xã) đến Leningrad, họ không thể vào được. Với thành phố, người dân và các công trình phòng thủ, không thể nào thực hiện các cuộc tấn công hiệu quả chống lại mỗi người và mọi người. Thậm chí đánh trong hai, ba hoặc bốn năm, họ vẫn không thể vào. Mỗi làng ở đó (ở miền Bắc) thì giống như thế. Đường lối của chúng ta là: mỗi huyện là một pháo đài, mỗi tỉnh là một chiến trường. Chúng ta sẽ chiến đấu và họ sẽ không thể nào vào được cả.

Tuy nhiên, không bao giờ đủ khi chỉ đánh kẻ thù ở tiền tuyến. Phải có một đội quân hậu tập trực tiếp mạnh mẽ. Sau trận đánh gần đây kết thúc, chúng tôi đánh giá rằng, trong tương lai không xa, chúng ta phải đưa thêm vài triệu người đến mặt trận phía Bắc. Nhưng kẻ thù đến từ phía bắc, hậu phương trực tiếp cho cả nước phải là Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh ... Hậu phương trực tiếp bảo vệ thủ đô phải là Thanh Hóa và Nghệ Tĩnh. Chúng ta có đủ người. Chúng ta có thể đánh chúng bằng nhiều cách ...

Chúng ta có thể sử dụng 2-3 quân đoàn để giánh một cú mạnh vào chúng, sẽ làm cho chúng lảo đảo, trong khi chúng ta tiếp tục giữ đất của chúng ta. Để đạt được mục đích này, mỗi người lính phải là một người lính thực và mỗi đội phải là một đội hình thực sự.

Bây giờ đã đánh xong một trận rồi, chúng ta không nên chủ quan. Chủ quan và đánh giá thấp kẻ thù là sai lầm, nhưng thiếu tự tin cũng sai. Chúng ta không chủ quan, chúng ta không đánh giá thấp kẻ thù. Nhưng chúng ta cũng tự tin và vững tin vào chiến thắng của chúng ta. Chúng ta cần phải có cả hai điều này.

Bây giờ Trung Quốc có âm mưu đánh [chúng ta] để mở rộng xuống phía Nam. Nhưng trong thời đại hiện nay họ không thể đánh và dọn dẹp một cách dễ dàng.

Trung Quốc chỉ đánh Việt Nam có vài ngày mà cả thế giới đã hét lên: “Không được đụng đến Việt Nam”! Thời đại hiện nay không giống như thời xưa. Trong những ngày này, không chỉ có chúng ta và họ (muốn nói Trung Quốc). Bây giờ cả thế giới đang gắn chặt với nhau. Loài người vẫn chưa hoàn toàn đi vào giai đoạn xã hội chủ nghĩa, nhưng đây là lúc mọi người đều muốn độc lập và tự do. [Ngay cả] trên các đảo nhỏ, người dân cũng muốn độc lập, tự do. Cả nhân loại hiện nay như thế. Điều đó là rất khác với thời xưa. Thời đó, người dân chưa nhận thức rõ những điều này. Do đó, câu của Bác Hồ: “Không có gì quý hơn độc lập tự do” là một ý tưởng của thời đại hiện nay. Đụng đến Việt Nam là đụng đến nhân loại và xâm phạm độc lập, tự do ... Việt Nam là một quốc gia tượng trưng cho độc lập và tự do.

 

Khi phải chiến đấu chống Mỹ, anh em chúng ta trong Bộ Chính trị đã thảo luận với nhau về vấn đề này, cân nhắc liệu chúng ta có dám đánh Mỹ hay không. Tất cả đều đồng ý đánh. Bộ Chính trị đã bày tỏ quyết tâm: để chiến đấu chống Mỹ, chúng ta không sợ Mỹ. Tất cả đều đồng tâm. Khi tất cả đã đồng ý đánh Mỹ, không sợ Mỹ, chúng ta cũng không sợ Liên Xô. Tất cả đều đồng ý. Chúng ta cũng không sợ Trung Quốc. Tất cả đều đồng ý. Nếu chúng ta không sợ ba điều này, chúng ta có thể đánh Mỹ. Đó là cách chúng tôi đã thực hiện trong Bộ Chính trị hồi đó.

Mặc dù Bộ Chính trị đã gặp và tổ chức các buổi thảo luận như thế và mọi người đồng lòng, sau này có một người đã nói với một đồng chí điều mà tôi đã nói. Đồng chí đó đặt câu hỏi cho Bộ Chính trị, hỏi lý do gì mà Anh Ba một lần nữa lại nói rằng, nếu chúng ta muốn đánh Mỹ, thì chúng ta không nên sợ Trung Quốc? Tại sao anh ấy phải nói như vậy nữa?

Lúc đó, anh Nguyễn Chí Thanh, người đã bị nghi là có cảm tình với Trung Quốc, đứng lên và nói: “Kính thưa Bộ Chính trị và kính thưa Bác Hồ, lời phát biểu của Anh Ba là đúng. Phải nói như thế (ý nói không cần phải sợ Trung Quốc), vì họ (Trung Quốc) gây rắc rối cho chúng ta nhiều điều. Họ chặn chúng ta ở chỗ này, rồi họ trói tay chúng ta ở chỗ kia. Họ không cho chúng ta đánh...“

Trong khi chúng ta đánh ở miền Nam Việt Nam, Đặng Tiểu Bình quy định rằng tôi chỉ có thể đánh ở mức trung đội trở xuống và không được đánh ở mức cao hơn. Ông ta (Đặng Tiểu Bình) nói: “Ở miền Nam, do các ông phạm sai lầm về việc đã khởi động đánh trước, các ông chỉ nên đánh ở mức trung đội trở xuống, không được đánh ở mức cao hơn”. Họ gây áp lực lên chúng ta như thế.

- Chúng ta không sợ ai cả. Chúng ta không sợ bởi vì chúng ta có lẽ phải. Chúng ta không sợ ngay cả anh trai của chúng ta. Chúng ta cũng không sợ bạn bè của chúng ta. Dĩ nhiên, chúng ta không sợ kẻ thù của chúng ta. Chúng ta đã đánh họ rồi. Chúng ta là con người, chúng ta không sợ bất cứ ai. Chúng ta độc lập. Cả thế giới biết chúng ta độc lập. Chúng ta phải có một quân đội mạnh mẽ, bởi vì đất nước chúng ta đang bị đe dọa và bị bắt nạt ... Không thể khác được. Nếu không, thì sẽ nguy hiểm vô cùng, nhưng đất nước chúng ta nghèo.

Chúng ta có một quân đội mạnh, điều đó không có cách nào làm nhụt chí chúng ta. Có một số chính sách của Trung Quốc đối với chúng ta: xâm lược và chiếm đóng nước ta, tìm cách làm suy yếu chúng ta về kinh tế và làm cho điều kiện sống của chúng ta khó khăn. Vì những lý do này, để chống lại Trung Quốc, trước hết, chúng ta phải, không những chiến đấu, mà còn làm cho chúng ta mạnh mẽ hơn. Để đạt được mục đích này, theo tôi, quân đội của chúng ta không nên là một lực lượng lãng phí nguồn lực của nhà nước, mà nên là một lực lượng sản xuất mạnh mẽ. Khi kẻ thù đến, họ (những người lính) cầm súng ngay lập tức. Khi không có kẻ thù, thì họ sẽ sản xuất đàng hoàng. Họ sẽ là biểu tượng tốt nhất và cao nhất trong sản xuất, sản xuất nhiều hơn bất cứ người nào khác. Dĩ nhiên, đó không phải là một câu chuyện mới ...

Hiện nay, trên vai quân đội của chúng ta đang gánh vác một nhiệm vụ lịch sử: bảo vệ độc lập và tự do của chúng ta, trong khi cùng lúc bảo vệ hòa bình và độc lập trên toàn thế giới. Nếu chính sách bành trướng của bè lũ phản động Trung Quốc không thể thực hiện được nữa, sẽ là lợi ích của cả thế giới.

Việt Nam có thể làm điều này. Việt Nam có 50 triệu người rồi. Việt Nam có những người bạn Lào và Campuchia và có địa thế vững chắc. Việt Nam có phe [XHCN] và tất cả nhân loại đứng về phía ta. Rõ ràng là chúng ta có thể làm điều này.

- ... Các đồng chí có biết người nào trong đảng chúng ta, trong nhân dân của chúng ta, nghi chúng ta sẽ thua Trung Quốc? Dĩ nhiên là không có ai cả. Nhưng chúng ta phải duy trì các mối quan hệ bạn bè của chúng ta. Chúng ta không muốn hận thù dân tộc. Tôi lặp lại: tôi nói điều này bởi vì tôi chưa bao giờ cảm thấy căm thù Trung Quốc. Tôi không cảm thấy như thế. Đó là họ đánh chúng ta.

Hôm nay tôi cũng muốn các đồng chí biết rằng trong thế giới này, người đã bảo vệ Trung Quốc là chính tôi! Đó là sự thật. Tại sao vậy? Bởi vì trong hội nghị tháng 6 năm 1960 tại Bucharest, 60 đảng đứng lên chống lại Trung Quốc, nhưng chỉ có mình tôi là người bảo vệ Trung Quốc. Việt Nam chúng ta là thế. Tôi sẽ tiếp tục lặp lại điều này: Tuy họ cư xử tồi tệ, chúng ta biết rằng người của họ là bạn của chúng ta. Về phía chúng ta, chúng ta không cảm thấy xấu hổ với Trung Quốc. Tuy nhiên, âm mưu của một số lãnh đạo (Trung Quốc) là một vấn đề khác. Chúng ta coi họ chỉ là một bè lũ. Chúng ta không nói tới đất nước họ. Chúng ta không nói người dân Trung Quốc xấu với chúng ta. Chúng ta nói bè lũ phản động Bắc Kinh. Tôi nói lại điều này một lần nữa một cách nghiêm túc như thế.

Vì vậy, chúng ta hãy kiểm soát tình hình chặt chẽ, trong tư thế sẵn sàng chiến đấu, và không bao giờ nới lỏng sự cảnh giác. Về mối quan hệ với Trung Quốc cũng vậy. Tôi tin rằng trong 50 năm, hoặc thậm chí trong 100 năm, chủ nghĩa xã hội có thể thành công, và lúc đó chúng ta sẽ không bị vấn đề này nữa. Nhưng sẽ mất một thời gian [dài] như thế. Vì vậy, chúng ta phải chuẩn bị và sẵn sàng trên mọi phương diện.

Hiện nay, chắc chắn không ai còn nghi ngờ nữa. Nhưng cách đây năm năm, tôi dám chắc rằng [không có] đồng chí nào nghi ngờ Trung Quốc có thể đánh chúng ta. Nhưng có. Đó là vì các đồng chí [này] không có kiến thức về vấn đề này. Nhưng đó không phải là trường hợp của chúng tôi (Lê Duẩn và ban lãnh đạo).

Chúng ta biết rằng Trung Quốc đã và đang tấn công chúng ta [cách đây] mười năm hoặc hơn. Vì vậy chúng ta không ngạc nhiên [về cuộc tấn công của Trung Quốc vào tháng 2 năm 1979]./

Theo TRE LÀNG

02 Tháng Mười Hai 2018(Xem: 210)
22 Tháng Mười Một 2018(Xem: 274)
Sự kiện Bắc Kinh - Manila hợp tác khai thác
18 Tháng Mười Một 2018(Xem: 261)
Chiến lược Ấn Độ - Châu Á - TBD
13 Tháng Mười Một 2018(Xem: 220)
04 Tháng Mười Một 2018(Xem: 313)
Chiến lược Ấn Độ - TVD khởi động