Yếu huyệt Sơn Trà trả lại nguyên trang xóa sổ "resort" đang hái ra đôla ?

22 Tháng Sáu 20177:34 CH(Xem: 643)

VĂN HÓA ONLINE - THỜI SỰ  - THỨ  SÁU 23 JUNE  2017


Yếu huyệt Sơn Trà trả lại nguyên trang xóa sổ "resort" đang hái ra đôla ?


Có bao nhiêu người Trung Quốc cư ngụ ở Sơn Trà?


Vịnh Tiên Sa: Pháo hạm thực dân Pháp nổ súng tấn công Đà Nẵng.


Sơn Trà: Cửa ngõ từ biển Đông tiến vào đòn gánh Trung VN. Những trận đại chiến giữ Đà Nẵng của Vua Tự Đức và Quan Quân Việt Nam. 


image021image022


Mũi Bắc bán đảo Sơn Trà. Hàng loạt các khu "resort" hái ra đôla như Furama, Sunny Beach, Olalani, hay Silver Shore Hoàng Đạt trải dài hàng chục kilômét.


Bách khoa toàn thư mở Wikipedia


Tọa độ: 16.116°B 108.277°Đ


Bài này viết về bán đảo thuộc quận Sơn Trà, Đà Nẵng. Đối với bài về quận Sơn Trà, xem Sơn Trà (quận). Đối với bài về khu vực bảo tồn thiên nhiên, xem Khu bảo tồn thiên nhiên Sơn Trà. Đối với bài về cây sơn tra, xem Chi Sơn tra.


image024


Bán đảo Sơn Trà nhìn từ trên cao.


Sơn Trà là tên một bán đảo và ngọn núi thuộc quận Sơn Trà (tên quận đặt theo tên bán đảo), thành phố Đà Nẵng, nằm cách trung tâm thành phố Đà Nẵng chừng 10 km về hướng Đông Bắc.


Sơn Trà có diện tích 60 kilômét vuông (23 sq mi), chiều dài 13 kilômét (8,1 mi), chiều rộng 5 kilômét (3,1 mi), nơi hẹp nhất 2 kilômét (1,2 mi). Bán đảo Sơn Trà cùng với đèo Hải Vân bao bọc thành phố Đà Nẵng và vịnh Đà Nẵng.


Cầu Thuận Phước - cầu treo đẹp nhất Đà Nẵng và kỷ lục của Việt Nam được bắc qua bán đảo này. Bán đảo Sơn Trà nhiều thắng cảnh thiên nhiên và trong tương lai không xa sẽ trở thành khu du lịch nổi tiếng của thành phố và của cả nước.


Thời xa xưa, Sơn Trà là một hòn đảo gồm 3 ngọn núi nhô cao.


Ngọn phía đông nam trông như hình con nghê chồm ra biển, nên gọi là hòn Nghê.


Ngọn phía tây hình dạng như cái mỏ con diều hâu, nên gọi là ngọn Mỏ Diều.


Và ngọn phía bắc vươn về phía ngọn Ngự Hải bên kia cửa biển dài như cổ ngựa, nên gọi là ngọn Cổ Ngựa.


Qua thời gian dài, dòng nước biển chảy ven bờ đã tải phù sa đến bồi đắp dần lên tạo thành doi đất chạy từ đất liền ra đảo. Bán đảo Sơn Trà hình thành từ đó.Ngày nay ngay tại những ngọn này hình thành những khu du lịch nổi tiếng như Bãi Rạng, Bãi Đa, Bãi Bụt, hay khu nghỉ ngơi Đông Dương. Đặc biệt nơi đây có ngôi chùa Linh Ứng, điểm đến lý tưởng của những người con của Phật giáo va ngay cả những người không theo Phật.


Cùng với hệ thống núi non của Hải Vân sơn ở phía bắc, bán đảo Sơn Trà ở phía nam vây lại thành hình cánh cung tạo nên một vịnh biển mang tên vũng Sơn Trà, hay còn gọi bằng nhiều tên khác khá quen thuộc như vũng Tiên Sa, vũng Thùng, vũng Hàn, vịnh Đà Nẵng. Vì vị trí như vậy nên Sơn Trà như một tấm bia che chắn mọi cơn bão hay áp thấp nhiệt đới đổ bộ vào thành phố.


Sơn Trà có gần 4.000 ha rừng, trong đó một phần là đất đồi đang được phủ thêm loại cây công nghiệp. Sơn Trà là nơi giao lưu giữa hai hệ động vật và thực vật tiêu biểu của hai miền Nam - Bắc.


4.400 ha được công nhận là khu vực bảo tồn thiên nhiên vào năm 1992.


Đến cuối năm 2016, diện tích này bị mất đi 1/4, do Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc chấp thuận sử dụng phần đất này để phát triển thành Khu Du lịch Quốc gia.


Núi Sơn Trà cao đến gần 700 m, xưa nay được xem như đài khí tượng thiên nhiên của nhân dân quanh vùng.


Bán đảo Sơn Trà ngày nay vẫn còn hoang sơ và có hàng loạt bãi tắm đẹp như Mỹ Khê, bãi tắm Phạm Văn Đồng, T20 hay của những khu nghỉ ngơi như Furama, Sunny Beach, Olalani, hay Silver Shore Hoàng Đạt trải dài hàng chục kilômét. Sau khi có con đường ven biển đi vòng quanh bán đảo, nơi đây đang phát triển các khu nghỉ mát và casino cao cấp. Núi Sơn Trà có suối Tiên và suối Đá đẹp và hoang sơ.


Bán đảo có các doanh trại của Hải quân Nhân dân Việt Nam.


Cảng Tiên Sa và bán đảo Sơn Trà


Bách khoa toàn thư mở Wikipedia


image024


Cảng Tiên Sa trong vịnh Đà Nẵng, dựa vào bán đảo Sơn Trà. Bãi trước Sơn Trà là hàng loạt "resort" quan sát thẳng ra biển Đông, phía sau lưng quan sát thương thuyền, chiến hạm ra vào cảng Tiên Sa. Chiến hạm thực dân Pháp tấn công Tiên Sa - Đà Nẵng lần thứ hai năm 1859.  


image025


Cảng Tiên Sa và các thiết bị bốc dỡ hàng.


Cảng Tiên Sa


Là một cảng biển tại thành phố Đà Nẵng. Cảng này là một trong những cảng quan trọng nhất khu vực Trung Bộ Việt Nam. Năm 2007, cảng đã bốc dỡ tổng cộng 2,7 triệu tấn hàng hóa. Đây là đầu mối giao thông quan trọng của Hành lang kinh tế Đông - Tây.


Nằm trong Vịnh Đà Nẵng, với vị trí vô cùng thuận lợi, Cảng Đà Nẵng là cảng biển nước sâu mang tầm vóc là một cảng biển lớn nhất khu vực miền Trung Việt Nam, đã đóng vai trò phát triển kinh tế khu vực cùng thành phố Đà Nẵng năng động và xinh đẹp.


Cảng ĐN có hệ thống giao thông đường bộ nối liền thông suốt giữa cảng với Sân bay quốc tế Đà nẵng và Ga đường sắt; cách Quốc lộ 1A khoảng 12 km và gần đường hàng hải quốc tế.


Cảng ĐN hiện là một khâu quan trọng trong chuỗi dịch vụ Logistics  của Miền Trung Việt Nam và Hành lang Kinh tế Đông Tây,  có vai trò quan trọng như một cửa ngõ chính ra biển Đông cho cả một khu vực. Sản lượng hàng hóa qua Cảng Đà Nẵng luôn có tốc độ tăng trưởng cao đặc biệt là lượng hàng container. Ngoài ra,  Cảng ĐN còn là điểm đến lý tưởng cho các tàu Du lịch.


Cảng ĐN bao gồm hai khu cảng chính là Xí nghiêp Cảng Tiên sa và Cảng Sơn Trà, sở hữu 1.400m cầu bến cùng các thiết bị xếp dỡ và các kho bãi hiện đại, có năng lực khai thác lên đến 6 triệu tấn hàng mỗi năm.


Cảng Tiên Sa có khu bến container với hệ thống kho bãi, đê chắn sóng, thiết bị chuyên dụng hiện đại, phục vụ giao thương hàng hóa và phát triển kinh tế, du lịch cho vùng hậu phương gồm các tỉnh miền Trung, Tây Nguyên, Nam Lào, Đông Bắc Thái Lan thông qua tuyến hàng lang kinh tế Đông Tây. Cảng Tiên Sa có khả năng tiếp nhận tàu hàng tổng hợp đến 45.000 DWT,  tàu container đến 2.000 teus và cả tàu khách đến 75.000 GRT.


image020


Tàu chiến liên quân bắn phá Đà Nẵng năm 1858


Tấn công Đà Nẵng lần thứ hai, 1859


Trận Đà Nẵng (1859-1860) hay Liên quân PhápTây Ban Nha tấn công Đà Nẵng lần thứ hai là trận đánh mở đầu cho cuộc chiến tranh Pháp-Việt 1858-1884 trong lịch sử Việt Nam. Đây là cuộc chiến kéo dài nhiều tháng, khởi sự từ 20 tháng 4 năm 1859 và được kết thúc vào 22 tháng 3 năm 1860, là ngày mà tất cả liên quân phải rời khỏi mặt trận Đà Nẵng (Việt Nam), sau 19 tháng chiếm đóng (31 tháng 8 năm 1858 - 22 tháng 3 năm 1860).


Đến Đà Nẵng, ngày 20 tháng 4 năm 1859, De Genouilly liền cho quân tấn công dữ dội đồn Điện Hải. Tướng Nguyễn Tri Phương cho quân đánh trả quyết liệt, nhưng vì vũ khí của đối phương quá mạnh nên đồn mất.


Trận chiến ngày 8 tháng 5 năm1859


Ngày 8 tháng 5 năm 1859, tướng De Genouilly chia quân ra làm ba mũi tiến công. Cánh hữu của Raynaud với hơn 700 quân, tấn công các đồn Du Xuyên, Hải Châu, Thạc Gián, Phước Ninh. Cánh tả của Faucon với hơn 400 quân tấn công đồn Thạc Gián, Phước Ninh. Cánh giữa do Đại tá Lanzarote (Tây Ban Nha) chỉ huy, chi viện cho hai cánh tả, hữu. Theo cánh quân này là bộ chỉ huy hành quân do tướng De Genouilly thống lĩnh, với quyết tâm thắng nhanh, để hòng xoay chuyển tình thế.


Quân Việt dựa vào chiến lũy chống trả kịch liệt, nhưng trước hỏa lực mạnh, số lính thương vong nhiều. Tổng thống quân thứ Nguyễn Tri Phương buộc phải cho quân rời bỏ phòng tuyến thứ nhất với các đồn lớn như Du Xuyên, Thạc Gián, Hải Châu; rút về cố thủ ở phòng tuyến thứ hai với các đồn Liên Trì, Nại Hiên và Nghi Xuân...


Ngược lại, cánh quân tấn công vào Thạc Gián và hai đồn thượng và hạ ở Hải Châu, đã bị đạo quân ứng nghĩa do Phạm Gia Vĩnh lãnh đạo hiệp cùng với đạo quân triều đình do Nguyễn Song Thanh và Đào Thị chỉ huy, đánh cho tan tác phải tháo chạy về bán đảo Sơn Trà.


Kết thúc, bên quân Việt mất 3 đồn lớn cùng 54 khẩu đại bác các loại, Hiệp quản Phan Hữu Điển và rất nhiều binh sĩ tử trận.


Bên liên quân, theo lời tường thuật của Bizancourt, thiệt mạng trên 100 người.[3]


Đây là trận đối đầu lớn nhất, kể từ trước đến giờ ở mặt trận Đà Nẵng.


Trong khoảng thời gian đó, ở châu Âu chiến tranh giữa Pháp - Sardegna với Áo đang đến hồi dữ dội. Còn ở phương Đông, bỗng có tin đồn quân Pháp ở Đà Nẵng sắp bị hải quân Anh tiêu diệt. Mặt khác, do thời tiết khắc nghiệt, nên dịch bệnh thêm hoành hành, làm cho số lính viễn chinh bị chết bệnh tăng từng ngày...Tất cả, đã khiến tướng De Genouilly bối rối và than rằng: Dù sao đi chăng nữa, thì cuộc viễn chinh này cũng phải đi đến một kết thúc nào đó, nếu không chúng tôi sẽ không còn đủ kiên nhẫn để chờ đợi nữa...(Trích báo cáo, Tuorane, ngày 22 tháng 5 năm 1859)...


Và tính đến lần tấn công này (8 tháng 5 năm 1859), tức sau 9 tháng xâm lược, liên quân chỉ chiếm cứ[4] được bán đảo Sơn Trà và đồn Đông ở Đà Nẵng.


Trận chiến ngày 15 tháng 9 năm 1859


Đúng 4 giờ sáng ngày 15 tháng 9 năm 1859, ba cánh quân Pháp và Tây Ban Nha đồng loạt tấn công vào phòng tuyến quân ViệtBị thiệt hại nặng về người và của, chỉ huy mặt trận là Nguyễn Tri Phương cùng hai cộng sự là Phạm Thế Hiển và Nguyễn Hiên đều dâng sớ xin chịu tội. Vua Tự Đức sai Phan Thanh Giản ra Quảng Nam, tuyên chỉ xử chém Hồ Văn Đa, Lê Văn Nghĩa, Đoàn văn Thức về tội đã bỏ đồn tháo chạy; còn Nguyễn Tri Phương, Phạm Thế Hiển, Nguyễn Hiên đều phải tội cách lưu[7].


Trận chiến ngày 18 tháng 11 năm 1859


Ngày 1 tháng 11 năm 1859, tướng Page đến Đà Nẵng và việc làm đầu tiên của ông là, một mặt vẫn tiếp tục thương thuyết (nhưng trong yêu sách không còn đòi nhường đất nữa), mặt khác cho chuẩn bị mở một cuộc tấn công lên phía bắc Đà Nẵng (trên đường đến Huế), chứ không tìm cách đánh sâu vào nội địa Đà Nẵng – Quảng Nam như người tiền nhiệm.


Ngày 18 tháng 11 năm 1859, Page điều động soái hạm Néméris và hai tàu chiến, tập trung đại bác bắn vào pháo đài Điện Hải và đồn Chân Sảng dữ dội. Đại bác quân Việt rộ lên đáp trả, một quả đạn rơi trúng soái hạm đã giết chết Đại tá Dupré Déroulède (người vạch kế hoạch đánh Đà Nẵng) và làm cho một số binh sĩ bị thương. Tướng Page ra lệnh pháo kích tới tấp rồi sai Desaulx dẫn 300 quân chiếm đồn Chân Sảng, đẩy quân Việt lui vào trong núi.


Tin chiến sự báo về, vua Tự Đức lệnh cho Thống chế Nguyễn Trọng Thao đem quân từ đèo Hải Vân đánh lấy lại đồn Chân Sảng. Nguyễn Hiên và Trần Đình Túc đóng ở các đồn Câu Đê và Hóa Ổ cũng được lệnh đem quân đánh phối hợp. Liên quân không chống nổi, bỏ đồn Chân Sảng xuống tàu chiến thoát ra khơi vào tháng 1 năm 1860.


Bộ hải quân Pháp cho rằng cuộc tấn trên là không cần thiết và đã gây tử vong nhiều thuộc cấp giàu kinh nghiệm, tướng Page bị khiển trách và giáng cấp. Tháng 2 năm 1860, Page rời Đà Nẵng vào Sài Gòn với nhiệm vụ mới. Liên quân chỉ còn lại một số đóng giữ Sơn Trà, An Hải, Điện Hải...và chẳng còn làm được gì.


Trích nhận định của GS. Trần Văn Giàu:


Đà Nẵng là cổ họng của kinh thành, là hải cảng sâu rộng và quan trọng nhất ở miền Trung Việt Nam. Xưa nay, từ thuở nhà Nguyễn lập nghiệp ở phương Nam, nhất là từ cuộc nội chiến Tây SơnNguyễn Ánh, cảng Đà Nẵng là một vị trí quân sự bậc nhất. Tàu bè nước ngoài không vào Huế mà vào Đà Nẵng để buôn bán, cho nên khi giúp Nguyễn Ánh tranh ngôi vua (1887), Pháp đã đòi lấy Đà Nẵng làm một trong những điều kiện...


Song suốt từ tháng 9 năm 1858 đến tháng 2 năm 1859, liên quân Pháp - Tây Ban Nha chẳng đánh tan sinh lực Việt và kéo vào Huế bằng đường Hải Vân như đã định, mà lại bị cầm chân, bị quân chính quy và dân quân Việt bao vây ở bán đảo Sơn Trà, bị tiêu hao và bị ốm đau rất nặng. Gia Định thất thủ, De Genouilly đem quân trở ra Đà Nẵng, nhưng cũng không làm gì được, chỉ lấy thêm vài đồn và hao thêm ít trăm quân.


Trong giai đoạn kháng chiến đầu tiên này, nhân dân cả ba miền tỏ lòng ái quốc sâu sắc, tỏ lòng can đảm phi thường, hăng hái lập dân quân để chống giặc...Trái lại, võ quan cao cấp không tin vào thắng lợi, sợ vũ khí địch, không dám dùng thế công. Còn đình thần thì ý kiến chia rẽ, phần lớn là do dự và chủ hòa...[10]


Thông tin thêm


Sau, triều đình nhà Nguyễn đã cho quy tập hài cốt của các nghĩa sĩ, nghĩa dân đã mất trong khi chiến đấu ở mặt trận Đà Nẵng. Chỉ tính những hài cốt tìm được, đã lên tới con số 3.000. Tất cả đều đã được chôn cất tại hai nghĩa trũng là Hòa Vang và Phước Vĩnh, thuộc thành phố Đà Nẵng. Hiện nay, cả hai nơi này đều là Di tích lịch sử cấp quốc gia.[11].


Còn thân xác của những người lính viễn chinh đã ngã xuống, trong bộ sách Tổng tập của GS. Trần Văn Giàu & trên báo Đà Nẵng có mấy dòng thông tin như sau: "Trước khi rút, liên quân phá tất cả các pháo đài và công sự, chỉ để lại hàng trăm nắm xương tàn, lô nhô với thánh giá trắng trên bờ biển cát vàng... Và giữa nghĩa trang này, trong một ngôi nhà nguyện nhỏ có đặt một tấm bia bằng đá trên đó ghi những dòng chữ: Để tưởng niệm những chiến binh Pháp và Tây Ban Nha trong cuộc viễn chinh Rigaud de Genouilly bị chết trong những năm 1858-59-60 và được an táng ở đây.[12