Về lập trường “chủ quyền lịch sử” của Trung Quốc đối với cái gọi là “Tứ Sa”

03 Tháng Mười 20176:36 CH(Xem: 1550)

VĂN HÓA ONLINE - BIỂN ĐÔNG/HOA ĐÔNG  - THỨ  TƯ  04  OCT  2017


Về lập trường “chủ quyền lịch sử” của Trung Quốc đối với cái gọi là “Tứ Sa”


Ts Trần Công Trục


image017

Tiến sĩ Trần Công Trục, ảnh do tác giả cung cấp


Theo nghiên cứu của chúng tôi, đây không phải là lần đầu tiên mà Trung Quốc đã nhiều lần tuyên bố họ có chủ quyền đối với “Tứ Sa”. 


Họ lập luận rằng Trung Quốc có “chủ quyền lịch sử” đối với 4 cấu trúc / cụm cấu trúc địa lý giữa Biển Đông, bao gồm:


Quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam, phương Tây gọi là quần đảo Paracel, quần đảo Trường Sa của Việt Nam, phương Tây gọi là quần đảo Spraley; bãi Macclesfield Trung Quốc gọi là Trung Sa quần đảo; khu vực bãi Pratas mà Trung Quốc gọi là Đông Sa quần đảo. 


So với cái gọi là “Tam Sa” mà vào năm 2012 Trung Quốc đã lập một đơn vị hành chính mới gọi là “thành phố Tam Sa” để quản lý các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa, và bãi Macclesfield, thì cái gọi là “Tứ Sa” thêm bãi Pratas.


Bàn về nguyên tắc pháp lý của Công pháp quốc tế có liên quan đến quyền thụ đắc lãnh thổ đối với các vùng lãnh thổ đang có sự tranh chấp chủ quyền, chúng tôi đã có những công trình nghiên cứu, sách, báo được xuất bản, đăng trên các phương tiện thông tin trong và ngoài nước. 


Bạn đọc có thể tham khảo trên các trang báo điện tử, đặc biệt là Báo Điện tử Giáo dục Việt Nam, mục Biển Đông / Quốc tế.


Ở đây, chúng tôi xin nhấn mạnh rằng “chủ quyền lịch sử” không được coi là một nguyên tắc có hiệu lực pháp lý trong việc xác định chủ quyền của một quốc gia đối với một vùng lãnh thổ có tranh chấp. 


Theo ý kiến của nhiều chuyên gia pháp lý, nhiều học giả quốc tế, nếu dựa vào lịch sử để chứng minh chủ quyền thì thể giới sẽ trở nên hỗn loạn. 


Nhiều quốc gia sẽ không còn tồn tại như hiện nay bởi cái lý “chủ quyền lịch sử” mơ hồ đó, kể cả Hoa Kỳ và Trung Quốc bây giờ. 


Trung Quốc không có chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam.


Nhưng họ đã sử dụng vũ lực để cưỡng chiếm quần đảo Hoàng Sa từ trước năm 1974 và một nhóm thực thể phía Tây Bắc quần đảo Trường Sa năm 1988, khi 2 quần đảo này đã có chủ. 


Đó là Nhà nước Việt Nam, Nhà nước đầu tiên trong lịch sử đã chiếm hữu và thực thi chủ quyền đối với 2 quần đảo này, từ khi chúng còn là đất vô chủ (res-nullius), chí ít là từ thế kỷ thứ XVII. 


Việc chiếm hữu và thực thi chủ quyền này là thật sự, rõ ràng, liên tục, hòa bình. 


Việt Nam có đầy đủ các chứng cứ lịch sử (có giá trị pháp lý) để chứng minh chủ quyền của mình đối với 2 quần đảo này, phù hợp với nguyên tắc “chiếm hữu thật sự” theo luật pháp và thực tiễn quốc tế hiện hành.


Về 2 khu vực được Trung Quốc gọi là “Trung Sa quần đảo” và “ Đông Sa quần đảo” 


Cho đến nay, không mấy ai bàn thảo về quyền thụ đắc lãnh thổ đối với 2 khu vực này.


Vì đây là khu vực không có tranh chấp quyền thụ đắc lãnh thổ và là khu vực hoàn toàn không thích hợp cho con người đến định cư, sinh sống thường xuyên, ổn định. 


Nhưng liệu có chuyện người Trung Quốc từ thời cổ đại đã có thể đến đây sinh sống, khai phá, thực thi chủ quyền ở nơi toàn là bãi cạn, bãi ngầm, ám tiêu san hô… này từ thời cổ xưa như tuyên bố của Bắc Kinh không?  


Chúng tôi xin được trích dẫn một số thông tin có liên quan đến 2 khu vực này như sau: 


Theo Wikipedia tiếng Việt và một số tài liệu, hải đồ được các nước phương Tây xuất bản, thì khu vực bãi ngầm Macclesfield là một rạn san hô vòng (rạn vòng) lớn nằm trên cực đông của sườn lục địa phía tây Biển Đông.


Nó có chiều dài tính từ tây-nam lên đông-bắc là 75 hải lý (139 km) và chiều rộng tối đa là 33 hải lý (61 km). 


Phía tây của bãi ngầm là máng biển sâu 2.500 m; phía đông của bãi ngầm dốc hơn 50° xuống đồng bằng đáy biển sâu 4.000 m. 


Vành ám tiêu của Macclesfield rộng trung bình khoảng 4,8 km, trên đó là hàng loạt các bãi cạn có độ sâu dưới 20 m. 


Nơi nông nhất của vành này là tại điểm mút đông bắc của bãi cạn Pigmy với độ sâu 11,9 m. 


Trong khi đó, nơi nông nhất của bãi ngầm là bãi cạn Walker sâu 9,2 m nằm bên trong vụng biển của bãi ngầm. 


Trong các bản đồ chính thức, Trung Quốc chú thích "quần đảo Trung Sa" là bãi Macclesfield. 


Tuy nhiên, Trung Quốc quan niệm rằng "quần đảo Trung Sa" còn bao gồm nhiều bãi cạn và bãi ngầm khác, như bãi cạn Scarborough, bãi cạn St. Esprit, bãi ngầm Dreyer, bãi cạn Helen, núi ngầm Stewart, bãi cạn Truro...


Còn khu vực bãi cạn Pratas nằm ở bắc Biển Đông, cách Đài Bắc 850 km về hướng tây nam, cách cảng Cao Hùng 444 km, cách Hồng Kông 340 km về hướng đông nam, cách đảo Ba Bình ở quần đảo Trường Sa 1.185 km. 


Trung Quốc gọi nó là “quần đảo”, nhưng thực ra là ba ám tiêu san hô vòng.


Trên ám tiêu vòng có một mõm san hô, được cải tạo thành “đảo”, trên đó có xây dựng một sân bay với đường băng dài 1.500 mét. Các bãi ngầm khác hoàn toàn chìm ngập dưới nước, không có đảo nổi lên. 


Pratas vốn không có người và hiện nay vẫn không có dân thường định cư.


Trong Chiến tranh Thái Bình Dương, Hải quân Nhật Bản chiếm đóng Pratas. Sau khi chiến tranh kết thúc, chính quyền Trung Hoa Dân Quốc thu hồi lại. 


Hiện nay, Pratas do lực lượng Tuần duyên Đài Loan quản lý sau khi nhận bàn giao cơ sở hạ tầng cảng và đường băng từ quân đội vào năm 2002.


Với thực trạng về điều kiện địa lý, cấu tạo địa chất, địa mạo nói trên mà vẫn có người đến được để “sinh cơ lập nghiệp” một cách ổn định, thường xuyên từ lâu đời, thiết nghĩ họ phải là con cháu của Thủy Tề, Hà Bá?


Trung Quốc có từ bỏ hay thay đổi yêu sách đường 9 đoạn không?


Các học giả Mỹ cho rằng, Trung Quốc đã thay đổi chiến thuật, từ chỗ luôn tìm mọi cách hợp thức hóa yêu sách đường 9 đoạn trên Biển Đông đến chỗ, sau Phán quyết Trọng tài 12/7/2016, dường như họ không nhắc tới yêu sách “lưỡi bò” nữa. 


Thay vào đó, họ đã sử dụng đến việc mở rộng các “vùng biển liền kề” tính từ các thực thể địa lý ở “Tứ Sa”, cho dù chúng có là đảo hay không. 


Tại sao có lại có sự thay đổi chiến thuật này? Câu trả lời là: 


Thứ nhất, chúng tôi cho rằng, người Trung Quốc đã quá biết yêu sách đường “lưỡi bò” bị hầu hết các quốc gia và dư luận trong khu vực, thế giới phê phán, bác bỏ vì tính chất phi lý, phản khoa học, bất chấp các quy định của Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển năm 1982. 


Nếu tiếp tục công khai khẳng định yêu sách này trên các diễn đàn quốc tế thì sẽ tiếp tục bị lên án, phản bác, gây bất lợi cho họ. 


Thứ 2, vấn đề tranh chấp chủ quyền đối các hải đảo trên Biển Đông là vấn đề phức tạp về pháp lý và thực tế quản lý do lịch sử để lại. 


Nhiều quốc gia trên thế giới, kể cả Hoa Kỳ, vì tính toán đến lợi ích của họ trong quan hệ với Trung Quốc, đều muốn đứng trung lập.


Họ không muốn tỏ rõ lập trường của mình về chủ quyền đối với các thực thể địa lý đang có những tranh chấp giữa các quốc gia ở chung quanh Biển Đông.


Trung Quốc biết khai thác tình thế này để né tránh sự chỉ trích của dư luận bằng cách sử dụng lãnh thổ “Tứ Sa”mà Bắc Kinh tuyên bố có “chủ quyền lịch sử” để làm cơ sở mở rộng các vùng biển “liền kề”.


Muốn làm việc này, Trung Quốc sẽ phải tiếp tục cố tình giải thích và áp dụng sai các quy định của Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển năm 1982.


Suy cho cùng, chúng tôi thiết nghĩ đây vẫn là một thủ đoạn được Trung Quốc tính toán để hợp thức hoá yêu sách đường “lưỡi bò” phi lý. 


Song song với thủ đoạn pháp lý được các học giả Mỹ gọi đúng tên là “chiến tranh pháp lý”, Trung Quốc còn áp dụng thủ đoạn đe dọa, gây sức ép hay mua chuộc các nước liên quan trong và ngoài khu vực.


Bằng các thủ đoạn này, Bắc Kinh đang tìm cách giành lấy sự công nhận trên thực tế yêu sách đường “lưỡi bò” liếm sâu váo các vùng biển và thềm lục địa hợp pháp của các nước xung quanh Biển Đông. 


Như vậy, có thể thấy rằng, Trung Quốc vẫn chưa chịu từ bỏ yêu sách đường “lưỡi bò”.


Thủ đoan “Tứ Sa” chỉ là biến tướng của kế sách “dương Đông kích Tây”, một “món võ cổ truyền” của người Trung Quốc nhằm đánh lạc hướng đối phương mỗi khi gắp phải trở ngại.


Liệu chúng ta có giành được thắng lợi trong cuộc “chiến tranh pháp lý” mà Trung Quốc phát động không?


Như đã trình bày ở trên, ông Michael Pillsbury từViện Hudson sau khi cảnh báo về ý đồ mới nhất của Trung Quốc trong cuộc “chiến tranh pháp lý” đã lưu ý rằng:


Chính phủ Hoa Kỳ không có khả năng về chiến tranh pháp lý. Ngay cả khả năng chống lại chiến tranh pháp lý Mỹ cũng không có.


Trong khi đó, Trung Quốc hình như được tổ chức tốt hơn trong thiết kế và thực hiện các chiến thuật pháp lý khôn khéo để thách thức các quy tắc được quốc tế chấp nhận, mà không bị chế tài hay trừng phạt.


Phải chăng đây là một nhận xét bi quan nhưng khá sát với thực trạng hiện nay, hay chỉ là một cảnh báo sâu xa của các học giả Mỹ đối với giới cầm quyền của mình trước một “cuộc chiến pháp lý” do Trung Quốc phát động?


Theo quy luật chiến tranh, dù là loại chiến tranh gì đi chăng nữa, thì kết cục cũng sẽ phải phân thắng bại.


Tất nhiên, kẻ chiến thắng trong cuộc chiến không thể là kẻ phi nghĩa, đi ngược lại lợi ích của nhân loại, bất chấp mọi thủ đoạn chà đạp lên chân lý và đạo lý.  


Với tư cách là những chuyên gia pháp lý, tự nhận mình là những chiến binh tuyến đầu của cuộc chiến pháp lý này, chúng tôi cho rằng cuộc “chiến tranh pháp lý” do Trung Quốc phát động là phi nghĩa; 


Bởi vì họ đã cố tình giải thích sai các quy định của luật pháp và thực tiễn quốc tế, nhất là Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển năm 1982 nhằm xâm chiếm lãnh thổ và vi phạm các quyền và lợi ích chính đáng của các quốc gia khác bằng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực. 


Phương tiện chiến tranh mà họ sử dụng trong cuộc chiến pháp lý này là “luật rừng” nằm trong tay kẻ mạnh dùng để áp đặt cho kẻ yếu, là thứ “vũ khí” đã bị cộng đồng quốc tế lên án, ngăn cấm... 


Vì vậy, chúng tôi tin rằng, nếu Trung Quốc vẫn tiếp tục cuộc “chiến tranh pháp lý” phi nghĩa này họ sẽ phải trở thành kẻ chiến bại. 


Và trận chiến mở màn cho thắng lợi của chân lý và lẽ phải phải kể đến Phán quyết của Tòa Trọng tài ngày 12/7/2017. Trung Quốc đã bị thất bại trong trận mở màn này. Từ đó, bài học  được rút ra là : 


Thứ nhất, phải biết sử dụng đúng và có hiệu quả các quy định pháp luật hiện hành, tức là biết phát huy sức mạnh của loại “vũ khí” này trong cuộc “chiến tranh pháp lý” đang và sẽ diễn ra. 


Thứ hai, phải biết tập họp và sử dụng được các chuyên gia pháp lý, các luật sư, luật gia…Họ là nhưng “chiến binh tuyến đầu” trực tiếp cầm “vũ khí” pháp lý để “xông” vào cuộc chiến không kém phần cam go này. 


Nếu không động viên, tập họp được lực lượng này thì chúng ta khó có thể giành được thắng lợi, khó có thể trở thành bên thắng cuộc…


Thứ ba, cần phải xây dựng được “hậu phương” vững mạnh . Đó là sức mạnh đoàn kết, thông nhất ý chí của cả cộng đồng trong nước, cũng như ngoài nước.


Vì vậy, cần phải tăng cường công tác truyền thông, tuyên truyền giáo dục… để tạo được sự đồng thuận trong cộng đồng…./.


Tiến sĩ Trần Công Trục