Triều Tiên và Việt Nam: hai cuộc chiến hai vĩ tuyến

29 Tháng Bảy 201811:54 CH(Xem: 170)

VĂN HÓA ONLINE - TÀI LIỆU  - THỨ HAI 30 JULY 2018


Triều Tiên và Việt Nam: hai cuộc chiến hai vĩ tuyến


BBC 26/6/2018


image018Ngày 25/06 năm 1950, quân đội Bắc Triều Tiên bắt đầu cuộc Nam tiến ồ ạt và chỉ hai hôm sau đã 'tràn ngập' thủ đô Seoul của miền Nam.


Chiến tranh Triều Tiên: ký ức của một cựu chiến binh Anh, James Grundy


Quảng cáo


Trước đó hơn một tháng, ngày 13/05 có chuyến tàu đặc biệt chở Kim Nhật Thành (Kim Il-sung) sang gặp Mao Trạch Đông để xin viện trợ "giải phóng đất nước".


Nhưng ông Kim cũng chỉ thông báo cho Mao là kế hoạch đánh Đại Hàn Dân Quốc được chính Joseph Stalin "thông qua và ủng hộ" mà không nói ngày giờ.


Tệ hơn, Bắc Kinh không hề nhìn thấy văn bản nào từ Moscow nói về chuyện này nên Mao đành hứa giúp ba quân đoàn.


Khi Chiến tranh Triều Tiên nổ ra, ông Kim Nhật Thành có 135 nghìn quân, được hàng nghìn chuyên gia quân sự Liên Xô hỗ trợ, cùng xe tăng, máy bay, pháo lớn.


Ở phía Nam, sau khi rút quân, Hoa Kỳ chỉ để lại cho lực lượng 98 nghìn quân của Tổng thống Rhee Syngman vũ khí hạng nhẹ.


Quân miền Nam thua liên tiếp trong tám tuần, bị dồn xuống cực Nam bán đảo và lực lượng miền Bắc nhanh chóng làm chủ 90% lãnh thổ.


Được Liên Hiệp Quốc ủy nhiệm, Quân đoàn 8 của Hoa Kỳ đổ bộ vào Pusan.


image019

Bản quyền hình ảnh Keystone-France Image caption Bình Nhưỡng năm 1958: Thủ tướng Kim Nhật Thành đón các cựu Chí nguyện quân TQ để cảm ơn họ về công lao 'Kháng Mỹ viện Triều'


Đại Hàn chỉ còn nửa quân số sau vài tháng thua trận nhưng nhờ vị chỉ huy mới, thiếu tướng Chung Il-kwon, đã phản công và giành một số thắng lợi.


Sau đó, Tư lệnh liên quân LHQ, Tướng Douglas MacArthur đã ra hai quyết định quan trọng:


  1. Trên bộ, chiến lược của ông là 'Nam đánh xuống Naektong, Bắc đánh lên Áp Lục', với tên hai con sông trở thành hai trận tuyến.
  2. Trên biển, ông có ý tưởng đổ bộ bằng tàu chiến để chia đôi quân địch và cuối cùng đã chọn bến Incheon.

Ngày 14/09/1950, Hoa Kỳ pháo kích, rồi cho tàu đổ bộ đưa Sư đoàn 7 cùng một số đơn vị Đại Hàn đổ xuống cảng này, cắt đôi quân Bắc Hàn.


Hơn 10 ngày sau Hoa Kỳ đã giải phóng Seoul.


Chỉ trong hai tháng giao tranh với quân Mỹ, quân đội của ông Kim Nhật Thành bị thương vong 50 nghìn, và 13 nghìn bị bắt làm tù binh.


Trên đà chiến thắng, chính phủ Truman ủy nhiệm cho ông MacArthur đem quân vượt Vĩ tuyến 38 ra Bắc.


Dù Bắc Hàn đã thua trận nhưng hành động của Hoa Kỳ đem quân vượt tuyến đã khiến Trung Quốc vào cuộc.


Các binh đoàn Chí nguyện quân để 'Kháng Mỹ viện Triều' do nguyên soái Bành Đức Hoài chỉ huy đã vào Triều Tiên.


Ngày 25/10, quân Trung Quốc đã giao chiến lần đầu với quân Mỹ ở trận Onjong-Unsan, phá tan nhiều trung đoàn Mỹ -Hàn.


Liên Xô cũng đưa MiG-15 do phi công Liên Xô lái vào bầu trời bán đảo khiến Mỹ đáp trả bằng cách điều động các phi đoàn F-86 Sabre sang Nhật Bản.


Cuộc chiến lên đỉnh điểm là tháng 4/1951, với Mỹ - Hàn bị đẩy lui về phía Nam để rồi lại vượt Vĩ tuyến 38 lần hai đánh quân Trung - Triều.


Sang năm 1952, cuộc chiến tiếp tục leo thang nhanh chóng về số thương vong và tập trung quân đội.


Hơn một triệu quân Trung-Triều đối mặt với liên quân Mỹ, Hàn, Anh, Úc, New Zealand, Thổ Nhĩ Kỳ, Bolivia, Cuba (800 nghìn), trong thế bất phân thắng bại.


Thủ tướng Anh Clement Attlee, cho đến 1950 còn không biết Triều Tiên nằm ở đâu, cũng cử 90 nghìn quân giúp cho Mỹ.


image020

Bản quyền hình ảnh Sovfoto/Getty Images Image caption Tù binh Thổ Nhĩ Kỳ bị Chí nguyện quân Trung Quốc áp tải trong cuộc chiến Triều Tiên


Trung đoàn Gloucestershire chỉ với 600 quân đã lập kỳ tích bên sông Imjin, chặn đứng 10 nghìn Chí nguyện quân Trung Quốc mà chỉ hy sinh 59 'Glorious Glosters'.


Nhưng Thế Chiến 3 có nguy cơ nổ ra ở châu Á với ý tưởng đưa bom nguyên tử vào chiến sự.


Tổng thống Truman đúng là đã ra lệnh đem bom hạt nhân Mark-4 sẵn sàng ném xuống Mãn Châu và Sơn Đông, nếu Trung Quốc tiếp tục đánh vào quân Mỹ.


Nhưng từ tháng 5/1951, Hội đồng An ninh Quốc gia Mỹ đồng ý về giải pháp vãn hồi hòa bình mà không phải bằng biện pháp quân sự.


Mao cũng muốn đàm phán vì cuộc chiến đã tốn kém tới mức ông phải bỏ cả kế hoạch giành lấy Đài Loan còn Liên Xô cũng không phản đối hòa đàm.


Từ Triều Tiên đến Việt Nam


Ngày nay nhìn lại, các sách dạy lịch sử trên thế giới chú ý đến các điểm giống và khác nhau giữa hai cuộc chiến ở Triều Tiên và Việt Nam hư sau:


  • Chiến tranh Triều Tiên và Việt Nam đều là 'proxy war', lại là chiến tranh nóng, trong lòng Chiến tranh Lạnh;
  • Xung đột có màu sắc ý thức hệ nhưng vấn đề dân tộc cũng rất quan trọng;
  • Chiến tranh Triều Tiên đánh kiểu châu Âu còn ở Việt Nam là chiến tranh du kích;
  • Chiến tranh Triều Tiên (3 năm), ngắn hơn Cuộc chiến Việt Nam nhưng không kém độ tàn khốc;
  • Sau chiến sự, Nam Bắc Hàn vẫn chia đôi, còn ở Việt Nam, miền Bắc cộng sản đã thắng, và VNCH đã thua;


Nhưng điểm giống nhau nổi bật nhất trong lịch sử hai dân tộc là sự chia cắt đất nước ở Vĩ tuyến 38 tại Hàn Quốc-Triều Tiên, và Vĩ tuyến 17 ở Việt Nam.


image021

Bản quyền hình ảnh Central Press Image caption Về Bắc hay vào Nam? Tại trạm trao đổi tù binh 'Lối đến Tự do' trong ảnh chụp ngày 11/08/1953 ở Bàn Môn Điếm trên Vĩ tuyến 38, tù binh miền Bắc được quyền chọn về nhà hay bước sang phía Nam


Vì sao có Vĩ tuyến 38?


Hội nghị Potsdam vào tháng 7/1945 đã thấy cần chọn ra một đường phân định tạm thời cho quân Mỹ và Liên Xô ở Triều Tiên.


Một sĩ quan trẻ, Dean Rusk (sau làm Bộ trưởng Ngoại giao thời Chiến tranh Việt Nam) lấy cuốn National Geographic và chọn vĩ tuyến 38 độ Bắc để áng chừng là chia đôi bán đảo.


Không ai buồn hỏi một chuyên gia địa lý, lịch sử hay một người Triều Tiên nào về quyết định này.


Quân đội và 700 nghìn dân Nhật bị tống về nước, để lại một di sản khác về kinh tế: miền Bắc giàu có hơn vì nhận 60% cơ sở công nghiệp mà chỉ có 7 triệu dân.


Phía Nam không chỉ nghèo lại đông dân hơn (16 triệu) và bị chiến tranh tàn phá nặng.


Hội nghị Moscow sau đó đã chính thức công nhận Vĩ tuyến 38 và đường phi giới tuyến DMZ rộng mỗi bên 2 km để chia đôi Triều Tiên.


Sông Imjin vẫn chảy từ Bắc xuống Nam cắt qua đường biên để đổ vào sông Hàn rồi ra Hoàng Hải.


Nhưng cây cầu xe lửa trên sông bị cắt làm đôi từ đó đến nay.


Tại sao chọn Vĩ tuyến 17 cho Việt Nam?


Hội nghị Geneva 1954 ra đời để cũng bàn về Triều Tiên là chính, hai chữ Việt Nam còn không được nói đến mà chỉ là một phần trong điểm phụ về Đông Dương.


VNDCCH chỉ được Liên Xô đã thông báo là họ đã họp tại Berlin vào tháng 2/1954 cùng Hoa Kỳ, Anh, Pháp và Trung Quốc để mở hội nghị Geneva vào tháng 4.


Liên Xô hiểu ông Hồ Chí Minh rất lo ngại về hội nghị Geneva, như một điện thư của Đảng Cộng sản Liên Xô (26/02/1954) giải mật cho thấy.


Không người Việt Nam nào muốn chia đôi đất nước.


image022

Bản quyền hình ảnh Keystone Image caption Quân đội Mỹ tại Triều Tiên


Thủ tướng Pháp Georges Bidault cũng viết thư cho Quốc trưởng Bảo Đại, đảm bảo là không có chuyện chia cắt Việt Nam.


Hoa Kỳ từ chối bắt tay đoàn Trung Quốc và chỉ có Ngoại trưởng Anthony Eden của Anh là muốn thúc đẩy cho một giải pháp nào đó qua đàm phán.


Vấn đề cốt lõi cho Trung Quốc vẫn là Triều Tiên, như báo cáo của Bộ Ngoại giao CHND Trung Hoa 02/03/1954, gửi lên Trung ương Đảng C̀ộng sản.


Theo đó, Chu Ân Lai chỉ đạo là về Đông Dương thì "cần phải đạt kết quả gì đó" (to make sure that the Geneva Conference will not end without any result).


Trung Quốc còn muốn là qua hội nghị để tạo ra "khó khăn gia tăng cho Pháp và Mỹ".


Sợ Đông Dương rơi vào tay cộng sản như đã "mất Trung Quốc", Mỹ gợi ý với Pháp về việc ném vũ khí nguyên tử 'chiến thuật' xuống quân Việt Minh ở Điện Biên.


image017

Bản quyền hình ảnh Bettmann Image caption Việt Nam sau ngày chia cắt: tàu Pháp chở người tỵ nạn vào Đà Nẵng tháng 8/1954


Theo giáo sư Fred Logevall, ĐH Cornell thì Ngoại trưởng Mỹ John Foster Dulles 'ít nhất đã nói rất chung chung về khả năng này, về người Pháp sẽ nghĩ sao về việc có thể sử dụng hai hoặc ba vũ khí hạt nhân chiến thuật ở các vị trí của quân địch.'


Nhưng cuối cùng thì Pháp, với sự hỗ trợ của Mỹ đã thúc đẩy cho giải pháp tạm chia đôi Việt Nam.


Chu Ân Lai đã thuyết phục được Hà Nội đành phải chấp nhận Vĩ tuyến 17 để "tạm thời chia cắt đất nước".


Trên thực địa, người ta lấy sông Bến Hải ở về phía Nam vĩ tuyến một chút để phân chia.


Trong lịch sử, Việt Nam đã từng bị chia bởi sông Gianh.


Hiệp định Geneva cấm coi Vĩ tuyến 17 là biên giới chính trị và lãnh thổ (it should not in any way be interpreted as constituting a political or territorial boundary) và người dân hai miền hoàn toàn có quyền thông thương.


Bầu cử tự do phải được tổ chức trước tháng 7/1956 để thống nhất đất nước.


Nhưng những gì diễn ra trên thực tế lại hoàn toàn khác hẳn.


Khi hội nghị chấm dứt, không bên nào ký vào văn bản cuối cùng.


Hệ quả cho hơn nửa thế kỷ


image023

Bản quyền hình ảnh PhotoQuest Image caption Sĩ quan Pháp bàn giao doanh trại cho bộ đội Việt Minh ở Hà Nội năm 1954 sau trận Điện Biên Phủ


Theo Jean Lacouture, chính phủ Hồ Chí Minh thiệt thòi nhất vì Hoa Kỳ và Nam Việt Nam từ chối tổng tuyển cử.


Phe Việt Minh đã kiểm soát nhiều hơn quá nửa lãnh thổ ở cả hai miền Nam Bắc nhưng phải chấp nhận Vĩ tuyến 17.


Chính phủ Hồ Chí Minh nhận một miền Bắc nghèo hơn, bị cắt đứt khỏi vùng nông nghiệp giàu có trong Nam.


Chính vì thế, Hà Nội phải xin viện trợ từ Bắc Kinh, Moscow, trở nên phụ thuộc họ cả về ý thức hệ độc đoán và phải tiến hành Cải cách Ruộng đất tàn khốc, theo Jean Lacouture.


Nhưng đến năm 1959, Bắc Việt Nam đã sẵn sàng cho một cuộc chiến, và vài năm sau, Hoa Kỳ chính thức vào cuộc.


Cuộc chiến 'nóng' cuối cùng đã diễn ra ở Đông Dương lần hai, nhưng lần này, Hoa Kỳ và Trung Quốc tránh không chạm trán trên chiến trường.


Trong hai cuộc chiến Triều Tiên và Việt Nam, Liên Xô và Trung Quốc đều luôn chú ý đến thái độ của Hoa Kỳ với lo ngại phải đối đầu trực diện với Mỹ;


image024

Bản quyền hình ảnh Dick Swanson Image caption Xe bọc thép Mỹ bắn súng phun lửa ở Nam VN: cuộc chiến nóng trong lòng Chiến tranh Lạnh


Sau chiến tranh, như hội đàm với Kim Jong-un cho thấy, Hoa Kỳ vẫn là bên chủ động 'chia bài' ở châu Á và Trung Quốc, Nga chỉ ứng phó tốt nhất cho quyền lợi của mình.


Quyền lợi của các nước nhỏ hơn luôn chỉ là thứ yếu.


++++++++++++++++++++++++++++++++++++


Vai trò của Việt Nam trong chiến lược Ấn Độ-Thái Bình Dương của Pháp


Thu Hằng


23/7/2018


image025

Hai trực thăng Puma trên tầu sân bay trực thăng Dixmude đậu tại căn cứ Hải Quân Changi, Singapore, ngày 24/04/2015.©ROSLAN RAHMAN / AFP


Từ đầu năm 2018, Pháp liên tục triển khai nhiều hoạt động nhằm gia tăng hiện diện ở Ấn Độ-Thái Bình Dương và bảo vệ lợi ích hàng hải tại vùng biển, nơi Trung Quốc ngày càng gia tăng ảnh hưởng.


Đầu tiên phải kể đến Đối Thoại Quốc Phòng Pháp-Việt lần hai, diễn ra ngày 11/01/2018, tại thành phố Hồ Chí Minh (lần đầu tiên tại Paris vào tháng 11/2016). Dù không nêu chi tiết, nhưng theo The Diplomat, hai bên thỏa thuận tăng cường các chuyến thăm Việt Nam của chiến hạm Pháp.


Ngày 10/03, nhân chuyến thăm Ấn Độ, tổng thống Macron và thủ tướng Modi cùng ký thỏa thuận hợp tác quân sự, mở cửa các căn cứ Hải Quân của nhau cho đối tác. Chỉ sau đó hai ngày, ngày 12/03, hộ tống hạm Pháp Le Vendémiaire ghé cảng Manila. Sự kiện được đại sứ Pháp tại Philippines đánh giá : “Pháp đảm nhận đầy đủ vai trò cường quốc Thái Bình Dương” của mình, cũng như thực hiện “cam kết quân sự đối với an ninh khu vực Đông Nam Á”.


Đến ngày 02/05, tổng thống Pháp thăm Úc và khẳng định “không một quốc gia nào có quyền thống trị khu vực Ấn Độ-Thái Bình Dương” trong buổi họp báo chung với thủ tướng Turnbull tại Canberra.


Ngày 01/06, đội tầu Jeanne d’Arc thăm Việt Nam, dường như theo thỏa thuận được nêu trong Đối Thoại Quốc Phòng hồi đầu năm. Nhưng trước đó, đội tầu Jeanne d’Arc đã được triển khai tại khu vực quần đảo Trường Sa. Thông tin này chỉ được bộ Quân Lực Pháp nêu trong thông cáo ngày 20/06 và cho biết “chuyến đi đã diễn ra chỉ vài ngày trước Đối Thoại Shangri-La về an ninh và quốc phòng ở châu Á-Thái Bình Dương, từ ngày 01 đến 03/06/2018 tại Singapore”.


Sau tuần tra trên biển, Pháp sẽ thực hiện nhiệm vụ trên không vào tháng 08/2018, với quy mô chưa từng có tại Đông Nam Á mang tên “Pegase”. Theo trang tahiti-infos.com, chiến dịch sẽ quy tụ 3 chiến đấu cơ Rafale, 1 máy bay vận tải quân sự A400M, một máy bay A310 và một máy bay tiếp liệu, bay từ Úc đến Ấn Độ. Đội bay sẽ dừng ở nhiều chặng khác nhau tại các nước đối tác, nhằm “góp phần tăng cường hiện diện của Pháp tại khu vực mang lợi ích chiến lược này”.


Vậy chiến lược ngoại giao quân sự của Pháp tại vùng Ấn Độ-Thái Bình Dương là gì? Việt Nam muốn giữ quan hệ như thế nào trong chiến lược của Pháp?


RFI tiếng Việt đã đặt một số câu hỏi với đại tá Jean-Claude Allard, giám đốc nghiên cứu của Viện Quan hệ Quốc tế và Chiến lược Pháp (IRIS), chuyên gia về chính sách quốc phòng và an ninh, quản lý khủng hoảng, hàng không quân sự…


P.V. Dai ta Jean-Claude Allard 22/07/2018 Nghe


RFI :Thưa đại tá Allard, đầu tháng 06/2018, đội tầu Jeanne d’Arc đã đi vào khu vực quần đảo Trường Sa của Việt Nam. Liệu hoạt động này có nhằm mục đích nào khác ngoài việc Pháp muốn bảo vệ quyền tự do hàng hải?


Đại tá Jean-Claude Allard : Đội tầu Jeanne d’Arc có nhiệm vụ đào tạo hạ sĩ quan và họ được điều đến khắp nơi trên thế giới, hoặc đến một số điểm địa-chính trị và ngoại giao cần chú trọng.


Tại Đông Nam Á, chúng ta thấy rõ là có nhiều chuyện đang xảy ra, ví dụ như Hải Quân Trung Quốc đang trỗi dậy mạnh mẽ, đó là ý thứ nhất. Điểm thứ hai là phải nhấn mạnh đến trục hàng hải vô cùng quan trọng đối với giao thương quốc tế. Pháp có xu hướng bảo vệ con đường hàng hải này, vì dù sao Pháp cũng là cường quốc kinh tế thứ 5 trên thế giới.


Ngoài ra, việc thiết lập ngoại giao với các nước láng giềng trên trục đường đó cho phép giữ cân bằng quan hệ với các nước khác nhau.


RFI :Với nhiều sự kiện quan trọng từ đầu năm của Pháp tại Ấn Độ-Thái Bình Dương, liệu có thể nói rằng Pháp ngày càng quan tâm đến khu vực này?


Đại tá J-C Allard : Đúng, nói chung là Pháp quan tâm đến gần hết thế giới vì Pháp có nhiều vùng lãnh hải ở Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương. Đó là còn chưa kể các vùng đất ở Đại Tây Dương. Do đó, đây là chuyện bình thường.


Lý do thứ hai chính là thương mại quốc tế. Các eo biển ở Đông Nam Á là một trong những tuyến đường thương mại thế giới quan trọng nhất. Rất nhiều tầu thuyền của Pháp đi qua khu vực này. Phải nhắc lại là tập đoàn thương mại lớn thứ hai trên thế giới là tập đoàn CMA CGM của Pháp. Vì vậy, nước Pháp và Hải Quân Pháp phải hiện diện ở bất kỳ nơi nào mà tầu thuyền dân sự, cũng như quân sự của Pháp đi qua.


RFI : Pháp bán tầu ngầm cho Úc, chiến đấu cơ Rafale cho Ấn Độ. Ngoài lợi ích kinh tế, Paris còn nhắm đến chiến lược gì?


Đại tá J-C Allard : Đúng là phải kể đến lợi ích tài chính rất lớn được ký kết. Trong nhiệm kỳ tổng thống trước (François Hollande), Pháp đã có được thị phần tương xứng trong lĩnh vực thương mại vũ khí. Đây là điều quan trọng vì tạo nguồn thu ngoại tệ và giúp các ngành công nghiệp Pháp hoạt động.


Cần phải nói rõ ở đây là tại Pháp, ngành công nghiệp vũ khí là một trong những ngành công nghiệp cuối cùng không thể sản xuất ngoài lãnh thổ vì đó là ngành công nghiệp cho phép bảo vệ chủ quyền quốc gia. Có nghĩa là chúng tôi sản xuất vũ khí để tự trang bị cho quân đội và nếu có thể, chúng tôi cũng xuất khẩu. Tiếp theo, cần phải xem nước Pháp xuất khẩu cho ai ? Chúng tôi xuất khẩu sang các nước đồng minh hoặc các nước mà chúng tôi cho rằng sẽ không phải là kẻ thù tương lai, như Ấn Độ nằm trong trường hợp này, còn Úc là một nước đồng minh.


Về trường hợp của Việt Nam, tôi nghĩ rằng Việt Nam đang cố gắng phát triển quan hệ ngoại giao và tiếp tục cải thiện các mối quan hệ của họ. Nếu Việt Nam cần trang thiết bị quân sự và hướng về phía Pháp, dĩ nhiên là Pháp sẽ mở cửa thị trường của mình. Điều này không bị loại trừ. Không có chiến tranh ở Việt Nam, nên không có lý do nào để Pháp từ chối, nếu Việt Nam cần vũ khí để phòng vệ và muốn mua vũ khí của Pháp.


RFI :Với sự kiện tầu sân bay trực thăng Dixmude của Pháp ghé cảng Phú Mỹ và khinh hạm tàng hình thăm cảng Sài Gòn vào đầu tháng Sáu, ngoài ra còn phải kể đến Đối Thoại Quốc Phòng, Pháp và Việt Nam thu được lợi ích gì? Và Việt Nam có vai trò như thế nào trong chiến lược ngoại giao quân sự của Pháp tại vùng Ấn Độ-Thái Bình Dương?


Đại tá J-C Allard : Về phía Pháp, lợi ích mà Pháp muốn hướng đến là càng có quan hệ với nhiều nước trên thế giới thì càng tốt. Đó phải là những mối quan hệ có chất lượng bằng cách thiết lập đối thoại. Pháp muốn trao đổi với các nước quan trọng ở châu Á-Thái Bình Dương, như Việt Nam chẳng hạn, để tìm ra được giải pháp cho các vấn đề, như vấn đề an ninh, rộng hơn nữa là phát triển lĩnh vực thương mại và tạo dựng sự phồn thịnh song phương. Đó là bước đầu, bên phía Pháp.


Nhìn từ phía Việt Nam, cá nhân tôi không nắm rõ về ý muốn xích gần Pháp và đối thoại với nước Pháp của Việt Nam. Nhưng tôi nghĩ rằng thường thì các nước muốn đối thoại với một cường quốc thứ ba, vì điều này giúp họ thoát khỏi một cường quốc khác. Việt Nam có một cường quốc trong vùng ngay sát sườn là Trung Quốc. Mối quan hệ giữa Việt Nam và Pháp có thể giúp Hà Nội cân bằng mối quan hệ với Trung Quốc.


Với tôi, trường hợp như thế này từng tồn tại trong những năm 1960 khi người ta nhắc đến Phong trào không liên kết : không liên kết với Liên Xô, không liên minh với Hoa Kỳ.


Hiện nay, chúng ta có hai cường quốc nổi bật là Trung Quốc và Mỹ.


Với tôi, một số nước, có thể trong đó có Việt Nam, tìm cách đi theo con đường thứ ba. Và con đường thứ ba này được Sukarno (Indonesia), Sihanouk (Cam Bốt), từng đi theo./
31 Tháng Bảy 2018(Xem: 336)