Các tác giả viết về Trần Văn Sơn, Tạ Chí Đại Trường, Nguyễn Ngọc Bích

30 Tháng Ba 201612:40 SA(Xem: 3812)

"BÁO VĂN HÓA-CALIFORNIA" THỨ  TƯ 30  MAR  2016

LTS: Những nhân vật trong loạt bài kỳ này gồm có: Nhà báo - Nhà tranh đấu Trần Văn Sơn (Trần Bình Nam); Sử gia Tạ Chí Đại Trường; Giáo sư - Chủ tịch Nghị Hội Hoa Kỳ Nguyễn Ngọc Bích; hiện đang tạo nhiều dấu ấn trong cộng đồng, giới báo chí, giới nghiên cứu  học thuật ở hải ngoại.

Báo Văn Hóa trân trọng cám ơn các quý niên trưởng, thân hữu đã cung cấp bài viết, các cơ quan truyền thông đã rộng lượng cho tòa soạn loan tải các bài viết về các quý vị nêu trên.  Rất mong quý bạn đọc góp thêm bài vở cho mục NHÂN VẬT & SỰ KIỆN thêm phong phú. Xin vui lòng gởi về: lykientrucvaama@gmail.com (VH)  

______________________________________________________________________________

Các tác giả viết về Trần Văn Sơn, Tạ Chí Đại Trường, Nguyễn Ngọc Bích

(tức Bình Luận Gia Trần Bình Nam)

 

Nhà báo Huỳnh Lương Thiện

 

Kính thưa tang gia và quý vị hiện diện trong tang lễ cựu Dân Biểu Trần Văn Sơn.

 

Tôi rất hân hạnh được Ban Tổ Chức Tang Lễ cho vài phút để thưa chuyện cùng quý vị.

Dịp này, tôi sẽ nói về một số kỷ niệm, đúng hơn là nói đến cái duyên gặp gỡ, được làm việc chung với cựu Dân Biểu Trần Văn Sơn, mà theo tôi, đó là một trong những may mắn của cuộc đời mình. Thật vậy, trong công cuộc đấu tranh chung có được người đồng hành như cựu Hải Quân Trung Tá VNCH Trần Văn Sơn, cũng là cựu Dân Biểu Quốc hội VNCH, và là một trong những lãnh đạo xuất sắc của Tổ Chức Phục Hưng thì đó là một hạnh phúc lớn lao.

 

Tôi gặp ông lần đầu tiên vào tháng 4 năm 1977 tại thành phố nhỏ Kominato, cách Tokyo khoảng 100 cây số trong một trường hợp hy hữu. Đó là lúc chiếc tàu dầu Ryuko Maru của Nhật vớt được 34 người VN trốn thoát, đang lênh đênh trên biển. Trong số thuyền nhân ấy, có ông và hai vị dân biểu khác là ông Trần Văn Thung và ông Nguyễn Công Hoan đang hiện diện trong căn phòng này. Lúc ấy, tôi là một nhân viên của Cao Ủy Tỵ Nạn Liên Hiệp Quốc tại Nhật lo việc đón tiếp đồng bào tỵ nạn đến Nhật.

 

Vào thời điểm ấy, trong số người tỵ nạn này, có mặt 3 vị dân biểu Việt Nam Cộng Hòa, trong đó có cả một vị đương nhiệm dân biểu của CHXHCNVN là Nguyễn Công Hoan, qủa là một tin gây chấn động. Đặc biệt, tin càng chấn động hơn cho dư luận Nhật Bản, cho Cao Ủy Tỵ Nạn Liên Hiệp Quốc và cả chính phủ Nhật khi cả 3 vị muốn họp báo để công khai tố cáo tội ác của bạo quyền Việt Cộng, sau 2 năm cưỡng chiếm miền Nam.

 

image096

DB Trần Văn Thung, DB Trần Văn Sơn đang nói, DB Nguyễn Công Hoan, Ngô Chí Dũng (NVTD) trong buổi họp báo ở Nhật

 

 

Tổ Chức Người Việt Tự Do đã hoan nghênh quyết định họp báo này. Là một thành viên, tôi được giao nhiệm vụ phối hợp với 3 vị này để chuẩn bị các công tác cho buổi họp báo hình thành, trong khi phía Cao Uỷ Tỵ Nạn và chính phủ Nhật chống đối việc họp báo.

 

Nguyên nhân chống đối là do sự phản đối quyết liệt của Tòa Đại Sứ Việt Cộng ở Tokyo. Trong vị thế của chính phủ Nhật lúc ấy khá tế nhị và cả Cao Ủy Tỵ Nạn LHQ, họ đã tìm mọi cách gây khó dễ, áp lực…, thậm chí họ sẵn sàng mua chuộc với số tiền lên đến triệu đô la để ngăn chận cuộc họp báo này.

 

Vị đại diện Cao Uỷ Tỵ Nạn LHQ, ông Misei, cũng là "xếp" của tôi thời điểm ấy, đã nói với các vị dân biểu rằng: "Nước Nhật hợp tác với Cao Uỷ Tỵ Nạn LHQ cứu vớt các ông vào đất Nhật là vì lý do nhân đạo. Nếu các ông tổ chức họp báo, thì đó là một hành động chính trị. Hành động này gây rắc rối cho chính phủ Nhật, không thể chấp nhận được. Điều này có thể đưa đến việc trục xuất các ông về lại VN hay nước Nhật sẽ không đón tiếp người tỵ nạn VN nữa. Đó là chưa kể vợ con các ông còn kẹt tại VN sẽ bị chính quyền CS trả thù."

 

Lời phát biểu đầy hăm dọa và cả răn đe cách cứng rắn này đã không lung lạc được quyết tâm của các vị dân biểu VNCH. Tôi còn nhớ, Dân Biểu Trần Văn Sơn đã trả lời với vị đại diện Cao Uỷ Tỵ Nạn: "Chúng tôi liều chết ra đi là để nói cho thế giới biết về những nỗi thống khổ của nhân dân VN đang xảy ra dưới chế độ phi nhân Việt Cộng. Vì thế, chúng tôi quyết định sẽ họp báo để nói lên sự thật này và chấp nhận bất cứ hậu quả nào. Nếu vì cuộc họp báo này mà đồng bào chúng tôi không được nước Nhật cứu giúp nữa, thì đó là điều hết sức đáng tiếc. Chúng tôi tin rằng đồng bào của chúng tôi sẽ thông cảm và tán thành việc làm cần thiết này. Nếu vì cuộc họp báo này mà gia đình chúng tôi bị nhà cầm quyền Việt Cộng trả thù, trù dập thì chúng tôi xem nỗi đau khổ đó như là sự góp phần vào nỗi đau chung của cả dân tộc dưới chế độ Việt Cộng."

 

image098

Những người vượt biên trong đó có các cựu dân biểu VNCH

 

Phần tôi, đã thuê mướn được phòng hội tại một khách sạn ở Kominato để tổ chức họp báo, giờ chót đã được thông báo hủy bỏ vì áp lực từ Tokyo.

 

Dân Biểu Trần Văn Thung đã nói: "Nhờ anh Thiện nói lại với họ là chúng ta đã thông báo cho các ký giả biết cả rồi. Các vị ký giả sẽ từ Tokyo lên đây dự buổi họp báo này. Nếu không để chúng tôi họp báo trong khách sạn cho đàng hoàng, thì chúng tôi sẽ kéo nhau ra bãi biển để họp báo. Rồi xem, ai xấu mặt cho biết".

Còn Dân Biểu Nguyễn Công Hoan muốn qua tôi, nói với vị đại diện Cao Uỷ Tỵ Nạn: "Các ông đừng dọa gửi trả chúng tôi về VN. Hãy để chúng tôi họp báo xong, rồi đem chúng tôi ra bắn ngay tại đất Nhật cũng được".

 

image100

34 người tỵ nạn VN vừa được vớt lên tàu Ryuko Maru

 

Theo tôi, chính những phản ứng đầy lý lẽ có sức thuyết phục, cách thể hiện hết sức kiên cường và quyết liệt đó, mà việc ngăn cấm không còn nữa. Buổi họp báo vẫn được tổ chức tại khách sạn ở Komonato vào đúng ngày 30-4-1977 như dự định. Chính phủ Nhật còn bố trí cả toán cảnh sát đến giữ an ninh.

 

Cuộc họp báo đã diễn ra rất thành công với nhiều ký giả, phóng viên TV Nhật và ngoại quốc tham dự, ngồi chật cả phòng hội. Đặc biệt, còn có ký giả nổi tiếng của tờ Newyork Times là Henry Kammp tham dự. Cuộc họp báo lịch sử này đã gây được tiếng vang lớn, không những tại Nhật mà còn trên thế giới. Cuộc họp báo ấy là một vố nặng đánh vào bạo quyền Việt Cộng lúc bấy giờ.

 

Dấu ấn đặc sắc ấy theo tôi suốt quãng đường dài cho đến hôm nay… 

Chúng tôi có cơ duyên, được tiếp tục làm việc chung với nhau trong những lần sau đó, trên con đường đấu tranh chống bạo quyền Việt Cộng để đem lại Tự Do Dân Chủ cho VN.

 

Sau khi sang Hoa Kỳ, Dân Biểu Trần Văn Sơn và một số chiến hữu của ông đã thành lập Tổ Chức Phục Hưng Việt Nam. Mối quan hệ giữa Tổ Chức Phục Hưng với tổ chức Người Việt Tự Do chúng tôi lại càng gắn bó hơn. Cho đến năm 1981, Tổ Chức Phục Hưng Việt Nam và Người Việt Tự Do đồng ý cùng kết hợp với Lực Lượng Quân Dân Việt Nam do Tướng Hoàng Cơ Minh lãnh đạo để thành lập "Mặt Trận Quốc Gia Thống Nhất Giải Phóng Việt Nam".

 

Ngày 13-6-1981, một phái đoàn đại diện 3 tổ chức lên đường đi Thái Lan gồm: Tướng Hoàng Cơ Minh đại diện cho Lực Lương Quân Dân Việt Nam, anh Đỗ Thông Minh đại diện cho Tổ Chức Người Việt Tự Do và Dân Biểu Trần Văn Sơn đại diện cho Tổ Chức Phục Hưng Việt Nam được cử làm trưởng đoàn công tác rời phi trường San Francisco đi Bangkok để gặp một vị Tướng Thái, mà bây giờ tôi có thể nói tên là Tướng Sut Sai, để bàn về sự giúp đỡ của Thái trong việc lập chiến khu. Tiễn quý vị này lên đường, chỉ có duy nhất một người, người may mắn đó là tôi. Ra về, sau khi tiễn các anh lên đường, lòng tôi trĩu nặng, vui buồn, âu lo lẫn lộn.

 

Sau này, khi thấy không thể tiếp tục làm việc chung với nhau, Dân Biểu Trần Văn Sơn và Tổ Chức PHVN quyết định rút ra khỏi Mặt Trận trong âm thầm, không giải thích, hay chỉ trích, hay giành phần phải về mình như chúng ta thường thấy trong các trường hợp khác. Điều đó càng làm chúng tôi mến phục anh Trần Văn Sơn và Tổ Chức PHVN hơn.

 

Riêng cá nhân tôi, sau đó, cũng rời khỏi Mặt Trận theo cách của anh Sơn.

Tôi chuyển qua ngành truyền thông, xuất bản Tuần Báo Mõ và Nhà Xuất Bản Mõ Làng ở San Francisco. Một lần nữa, Tuần Báo Mõ bé nhỏ của tôi may mắn được sự cộng tác của cựu Dân Biểu Trần Văn Sơn qua bút danh là Trần Bình Nam.

Những bài bình luận sâu sắc, lý luận vững chãi, theo sát thời sự, hướng dẫn độc giả một cách nghiêm túc đã làm tên tuổi BLG Trần Bình Nam ngày càng nổi tiếng. Nhà Xuất Bản Mõ Làng cũng hân hạnh đã xuất bản 3 tuyển tập bình luận chính trị của Trần Bình Nam.

 

Một kỷ niệm đáng quý khác với cựu Dân Biểu Trần Văn Sơn là tháng 10 năm ngoái 2015, chúng tôi tổ chức ngày “Đỗ Thông Minh, Hành Trình 45 Năm Hoạt Động” tại Bắc Cali. Dân Biểu Trần Văn Sơn, dù đang lâm trọng bệnh, cũng đã sốt sắng nhận lời tham dự, và là một trong các diễn giả chính yếu của buổi sinh hoạt này theo sắp xếp của ban tổ chức. Rất tiếc, do sức khỏe không thể lên Bắc Cali được, nhưng ông vẫn cố gắng hoàn thành bài tham luận về anh Đỗ Thông Minh rất súc tích, giá trị và nhờ Bác sĩ Đinh Xuân Dũng thay mặt phát biểu tại buổi sinh hoạt. Qua đó, thấy được tấm chân tình thể hiện và trách nhiệm với ai khi đã hứa của ông là một bài học đáng trân trọng. 

Nhân đây, chúng tôi xin chuyển lời chia buồn sâu sắc đến tang gia của hai vị khác trong Ban Tổ Chức nói trên là Kỹ Sư Nguyễn Tấn Thọ ở Bắc Cali và anh Đỗ Thông Minh ở Tokyo.

 

Một điều trân quý khác, là bức thư ngắn gởi cho tôi gần đây, chưa tròn một tháng. Qua đó, để thấy được tâm tình anh luôn hướng về thế hệ tương lai, về vận mệnh của quốc gia dân tộc, dù sắp lìa xa nhân thế, vẫn một lòng nặng nợ núi sông.

Bức thư ông viết ngày 25 /02/2016 như sau:

"Thân gửi anh Thiện,

Tôi xin gửi đến anh tài liệu này tôi mãi e ấp trong 4 năm qua. Trong tài liệu có anh, có tôi, và những người đồng thời… Xin anh và tòa soạn tùy nghi."

 

Đó là bài viết “80 Năm Làm Nhân Chứng cho một giai đoạn lịch sử Việt Nam”.

Tôi chưa kịp đăng tải tài liệu qúi giá này thì nhận được hung tin ông đã vĩnh viễn ra đi.

 

Thưa quý vị, trên bước đường hoạt động, tôi đã gặp rất nhiều vị đàn anh đáng kính.

Đối với tôi, anh Trần văn Sơn là một trong những vị đàn anh, rất đáng kính đó. Là vị lãnh đạo rất xứng đáng để noi theo. Từ tư cách đến kiến thức, từ lời nói đến hành động và nhất là tấm lòng son sắt trọn một đời dấn thân cho quê hương.

 

 Sự vĩnh viễn ra đi của anh quả là một mất mát rất lớn không những cho gia đình mà còn là cho cuộc đấu tranh chung.

 

Thưa anh Trần Văn Sơn.

Hôm nay em đến đây để nghiêng mình thắp một nén nhang tưởng nhớ đến anh.

Xin tiễn đưa hương linh Tâm Đạt- Trần Văn Sơn về nơi cỏi Phật.

Chúc anh an giấc nghìn thu - Vĩnh biệt anh.

 

Huỳnh Lương Thiện

 

++++++++++++++++++++++++++++++++

 image102

Tạ Chí Đại Trường Ra Đi: Mất Mát Lớn Cho Sử Học VN

Việt Báo  25/03/2016

 

SAIGON (VB) -- Ngành sử học Việt Nam vừa có một mất mát lớn: Sử gia Tạ Chí Đại Trường đã từ trần tại Sài Gòn, theo tin từ gia đình và truyền thông trong nước.

Bản tin báo Thanh Niên ghi rằng nhà sử học gốc Việt Tạ Chí Đại Trường - tác giả nhiều công trình nghiên cứu lịch sử có giá trị to lớn, đã qua đời ngày 24.3 tại nhà riêng ở TP.SG sau một thời gian lâm trọng bệnh, thọ 78 tuổi.

image104

Từ trái: Nguyễn Mộng Giác (đứng), Tạ Chí Đại Trường, Phùng Nguyễn -- cả 3 đều đã ra đi - và Trúc Chi.(Ảnh: nguyenmonggiac.info/)

Bản tin này viết:

“Tin buồn trên đã được người nhà ông xác nhận và cho biết, việc ông trở lại Việt Nam từ tháng 10.2015 sau khi lâm trọng bệnh là đã xác định muốn ở lại quê hương lúc cuối đời.”

Nói chuyện với Việt Báo, nhà văn Trúc Chi cho biết vừa mới 10 ngày trước, hai nhà văn Trúc Chi và Huy Văn đã tới thăm bệnh sử gia Tạ Chí Đại Trường ở Sài Gòn.

Lúc đó, Trúc Chi cũng có hỏi sử gia Tạ Chí Đaị Trường về một chi tiết lịch sử về lai lịch "Miếu Hoàng Tử" ngoài Phú Quốc.

Nhà văn Trúc Chi cho biết Tạ Chí Đại Trường là người khiêm tốn, không nhận là sử gia (historian) nhưng chỉ nhận là người chuyên viết về sử học.

Trong khi đó, bản tin BBC ghi lời giáo sư Nguyễn Huệ Chi qua điện thoại từ Hà Nội hôm 24-3-2016:

“Tôi bàng hoàng khi hay tin ông Đại Trường qua đời. Với tôi, ông ấy là người luôn ngẩng cao đầu, không chịu nghe mệnh lệnh của ai ngoài trái tim và con mắt nhìn sự thật”.

“Ông Đại Trường là nhà sử học có tầm vóc và có nhiều khám phá về phương diện lịch sử Việt Nam trong giai đoạn trung đại, cận đại và hiện đại”.

“Tiếc là có một quá trình dài từ năm 1975, giới khoa học xã hội miền Bắc nắm giữ tư thế bên thắng cuộc nên không trao đổi học thuật với một nhà sử học chân chính của miền Nam như ông Đại Trường”.

“Theo tôi, đấy là một thiệt thòi cho giới khoa học miền Bắc. Lẽ ra, nếu tiếp cận ông sớm, người ta đã nhận ra phải nhận thức lịch sử cho đúng và những gì phải thay đổi trong cách viết sử lâu nay”, giáo sư nói thêm.

Ông Huệ Chi cũng cho hay: “Những người như ông Đại Trường cần phải được đặt ở vị thế xứng đáng để ông nghiên cứu và những phát hiện của ông được trân trọng. Nhưng có thể vì nhạy cảm chính trị mà người ta né tránh một tinh hoa của miền Nam như ông”...”(ngưng trích)

Các bản tin trong nước cho biết lễ viếng nhà sử học Tạ Chí Đại Trường bắt đầu từ ngày 24.3 tại nhà riêng (402/27 An Dương Vương, phường 4, quận 5, TP.SG). Lễ động quan vào lúc 8 giờ ngày 27.3, dự kiến hỏa táng tại nghĩa trang Đa Phước, huyện Bình Chánh, TP.SG.

Theo thông tin từ Wikipedia, Tạ Chí Đại Trường (1938-2016), là một nhà sử học và là nhà nghiên cứu văn hóa Việt Nam, ông là người Mỹ gốc Việt. Bắt đầu nghiên cứu sử học, văn hóa từ đầu thập niên 1960 tại Việt Nam, Tạ Chí Đại Trường cho ra đời tác phẩm đáng chú ý của ông, Lịch sử nội chiến ở Việt Nam từ năm 1771 đến 1802, vào năm 1964. Tác phẩm này đã đặt lại vấn đề về vai trò của nhà Tây Sơn trong lịch sử Việt Nam, nhiều tác phẩm sau này của Tạ Chí Đại Trường cũng có được cách lập luận và quan điểm độc đáo như vậy. Sau khi định cư tại Hoa Kỳ năm 1994, Tạ Chí Đại Trường bắt đầu cho in nhiều tác phẩm nghiên cứu lịch sử, văn hóa có giá trị, cho tới thập niên 2000 thì các tác phẩm này mới dần được in và phát hành tại Việt Nam như Thần, Người và Đất Việt, Những bài dã sử Việt.

Tạ Chí Đại Trường sinh ngày 21 tháng 6 năm 1938 tại Nha Trang, nhưng quê gốc ở Bình Định. Ông là con trai Cử nhân Hán học Tạ Chương Phùng, nhà hoạt động phong trào độc lập dân tộc thập niên 1940 - 1950 cùng với ông Ngô Đình Diệm, sau làm Tỉnh trưởng tỉnh Bình Định và thành viên nhóm Caravelle.

Năm 1964 Tạ Chí Đại Trường tốt nghiệp bằng Thạc sĩ chuyên ngành Lịch sử tại Viện Đại học Sài Gòn rồi nhập ngũ. Ông phục vụ trong Quân lực Việt Nam Cộng hòa từ năm 1964 cho tới năm 1974 với quân hàm đại úy. Trong thời gian chiến tranh, Tạ Chí Đại Trường bắt đầu sưu tập tiền cổ và tập trung nghiên cứu về đề tài này. Những bài viết của ông về tiền cổ trong thời gian này sau đó đã được giới nghiên cứu sử học quốc tế đánh giá cao.

Năm 1964 trong thời gian học cao học, Tạ Chí Đại Trường cho ra đời một cuốn tiểu luận về lịch sử Việt Nam giai đoạn 1771 đến 1802 trong đó ghi lại những sự kiện xoay quanh cuộc nội chiến giữa nhà Tây Sơn và Nguyễn Ánh. Tác phẩm này đã đoạt Giải thưởng văn chương toàn quốc, bộ môn Sử năm 1970 và được nhà xuất bản Văn Sử Địa in thành sách năm 1973 với tựa đề Lịch sử nội chiến ở Việt Nam từ năm 1771 đến 1802. Sau khi Việt Nam thống nhất năm 1975, cuốn sách với nội dung đặt lại vấn đề về nhà Tây Sơn đã khiến Tạ Chí Đại Trường gặp nhiều rắc rối. Lịch sử nội chiến bị cho là "hạ thấp Quang Trung, đề cao Gia Long" và bị cấm lưu hành tại Việt Nam trong một thời gian dài và chỉ được in lại trong nước từ cuối thập niên 2000.[5]

image106

Một trong các trước tác của sử gia Tạ Chí Đại Trường ra mắt tại hội trường iIệt Báo

Sau năm 1975 ông trải qua giai đoạn cải tạo đến năm 1981.

Từ tháng 8 năm 1994, Tạ Chí Đại Trường bắt đầu định cư tại Hoa Kỳ. Do điều kiện cuộc sống, phải tới mười năm sau ông mới quay trở lại Việt Nam và khó có cơ hội tiếp xúc với tài liệu sử học trong nước, vì vậy Tạ Chí Đại Trường phải từ bỏ những đề tài chuyên biệt để tập trung nghiên cứu lịch sử Việt Nam nói chung thông qua các tư liệu ông thu thập được qua nhiều nguồn ở Mỹ, kể cả từ các chợ sách ngoài trời. Tại Mỹ ông bắt đầu cho in các tác phẩm chính của mình như Những bài dã sử Việt (1996) vốn là tập hợp các bài viết ở Việt Nam của ông giai đoạn 1984-1986 hay cuốn Thần, Người và Đất Việt (1989, 2000). Cuốn Thần, Người và Đất Việt khi xuất hiện không chính thức ở Việt Nam đã được đánh giá cao, nhiều nhà sử học Việt Nam đã nhận xét rằng Tạ Chí Đại Trường là một chuyên gia sử học, dân tộc học đáng tin cậy. Kể từ cuối thập niên 2000, sách của Tạ Chí Đại Trường mới được chính thức in và phát hành tại Việt Nam. Năm 2014, Tạ Chí Đại Trường đã được Quỹ Văn hóa Phan Châu Trinh trao Giải thưởng Văn hóa Phan Châu Trinh hạng mục Giải Nghiên cứu.

Ngày 24 tháng 3 năm 2016, ông qua đời tại nhà riêng ở TP. SG. Trước đó, sau khi nhắm không qua khỏi căn bệnh nan y, ông đã từ Mỹ về lại Việt Nam vào ngày 4 tháng 10 năm 2015 với ý nguyện sẽ “gửi nắm thân tàn” lại nơi quê hương.

Ông để lại nhiều tác phẩm nghiên cứu sử có giá trị độc đáo.

Nhà văn Phan Tấn Hải kể rằng kỷ niệm gần nhất ông có với sử gia Tạ Chí Đaị Trường là hình ảnh ông nói chuyện trong buổi lễ tưởng niệm nhà văn Nguyễn Mộng Giác năm 2012.

Khi đó, sử gia Tạ Chí Đạị Trường lên kể những kỷ niệm, rằng ông là bạn học của người anh của nhà văn Nguyễn Mộng Giác, và xem “Giác và Diệu Chi như em.” Sử gia nói, đời sống chữ nghĩa của ông sau 1975 là nhờ Nguyễn Mộng Giác, vì những công trình biên khảo của học giả Miền Nam sau 1975 là bị đẩy vào bóng tối, “nhưng chỉ sau khi tập san Văn Học in các biên khảo của tôi, thì nhà xuất bản trong nước mới dám in sách của tôi...”

Đặc biệt, sử gia Tạ Chí Đại Trường trong lá thư đề ngày 4 tháng 5-2010 đã gửi thư lên Quốc Hội VN để yêu cầu:

“...công nhận Nghĩa trang Quân đội Việt Nam Cộng hoà là Chứng tích Lịch sử Quốc gia...

...Đây cũng là tưởng niệm duy nhất còn lại của một phía về những người lính, người Việt Nam, đã chết trong chiến tranh – tuy nhỏ nhoi, ít ỏi hơn những nghĩa trang liệt sĩ của phe thắng trận đang đứng chân hàng hàng lớp lớp trên đất nước Việt Nam.

Sự công nhận này là một hành động văn minh học được của thế giới ngày nay như khi công nhận, bảo trì Mĩ Sơn của người Chàm, khu phố Hội An gốc của người Hoa và người Nhật, cũng như trở lại giữ gìn thành trì lăng tẩm họ Nguyễn có lần đã bị bỏ luống, tàn phá, trở lại tiếp nối hành động văn minh của triều Nguyễn khi cho người coi sóc lăng tẩm các vua Lê…

Lời đề nghị có ngày tháng nên trước tiên là với Quốc hội CHXHCN Việt Nam hiện nay. Vì quan niệm chế độ nào rồi cũng qua, chỉ có đất nước là tồn tại nên lời ghi “Quốc hội Việt Nam” là để dành cho những lần mai sau liên tiếp một khi yêu cầu chưa được thoả mãn.

Tạ Chí Đại Trường

"Cựu sĩ quan Quân lực Việt Nam Cộng hoà - Sử gia”

Toàn văn lúc đó đã đăng trên nhiều mạng, trong đó có Talawas.org.

 

+++++++++++++++++++++++++++++++++

Tạ Chí Đại Trường một nhân cách trí thức

Đoàn Xuân Kiên

Gửi cho BBC Việt ngữ từ London, Anh quốc

BBC 27 tháng 3 2016

image107

Image copyright Nguoi Viet Image caption Sử gia Tạ Chí Đại Trường vừa qua đời ở Việt Nam, hưởng thọ 81 tuổi.

Nhớ về Tạ Chí Đại Trường là nhớ về một nhà nghiên cứu sử không chịu khuất phục trước những uy lực chính trị để được sống và viết một cách trung thực với mình.

Tạ Chí Đại Trường đã trở thành quen thuộc trong giới chữ nghĩa trong nước và hải ngoại từ lâu. Ở Sài Gòn trước 1975, tên tuổi ông đã nổi khi quyển sách đầu tay, Lịch Sử Nội Chiến tại Việt Nam 1771-1802, được tặng Giải Thưởng Tổng Thống VNCH năm 1970 trước khi công chúng được đọc toàn văn khi sách được in ba năm sau đó. Trước 1975, ông viết không nhiều. Ngoài quyển sách Lịch Sử Nội Chiến tại Việt Nam 1771-1802, công chúng chỉ được đọc thêm 9 bài viết trên Tập San sử Địa (Sài Gòn) mà trong số đó đã có đến 4 bài trích từ trong sách Lịch Sử Nội Chiến.

Nhớ về Tạ Chí Đại Trường là nhớ về một nhà nghiên cứu sử không chịu khuất phục trước những uy lực chính trị để được sống và viết một cách trung thực với mình (Đoàn Xuân Kiên)

Những bài viết ít ỏi kia cùng với sách Lịch Sử Nội Chiến tại Việt Nam 1771-1802 dù sao cũng đã cho thấy phong cách của một nhà viết sử nghiêm túc từ phương pháp làm việc đến những kiến giải cho vấn đề. Nếu không có những biến động lớn trong xã hội sau ngày 30/4/1975, có lẽ công chúng sẽ đón nhận thêm những công trình sử học kế tiếp giàu tính cách tiến bộ và mới mẻ, vì sau khi nhà xuất bản Văn Sử Học ấn hành Lịch Sử Nội Chiến 1771-1802 (1973), Tạ Chí Đại Trường đã hoàn tất bản thảo ban đầu của công trình về Tiền Kẽm Nam Hà (1974) và đang chuẩn bị cho luận án về Người Lính Thuộc Địa Nam Kì 1861-1945.

image109

Biến cố 30/4 đã tác động nhiều đến đời sống riêng và con đường nghiên cứu của ông.

Sau sáu năm tù cải tạo, ông bắt đầu những ngày khốn khó về đời sống, nhưng ông đã vượt thoát những vây khốn đời thường, dùng hết những thời gian trống trải này để suy ngẫm và viết những gì ông có thể năm bắt trong tầm tay. Dần dà, những công trình kế tiếp đã hình thành. Đọc và viết đối với ông bây giờ là một thứ ghi chép của một người quan sát từ bên lề cuộc sống mới. Đầu tiên phải kể đến tác phẩm Một khoảnh Việt Nam Cộng Hoà nối dài. Ông dí dỏm gọi đây là những trải nghiệm thực tế của một thứ “chuẩn công dân hạng nhì” trong lòng xã hội vừa đổi đời. Tập hồi kí Một khoảnh Việt Nam Cộng Hoà nối dài được các bạn hữu của tác giả xuất bản thành sách lần đầu tại Hoa Kỳ năm 1993, khi ông còn ở trong nước. Sau này, tác giả đã có thời gian chỉnh đốn bản thảo. Công việc hiệu chỉnh này hoàn tất năm 2005. Gần đây, toàn văn bản thảo do tác giả hiệu chỉnh cũng được lưu trữ trên mạng thông tin toàn cầu.

Tập hồi kí của Tạ Chí Đại Trường giàu tính cách văn học cũng như tài liệu xã hội tươi nguyên của một thời trong lịch sử đất nước đang chuyển động từng ngày trước mắt. Con mắt sử gia đã bén nhạy ghi nhận những nhịp đập vui buồn của một thời thể hiện qua số phận một cá nhân. Nhưng tập hồi kí còn cho người đọc đôi nét khắc hoạ về con người nhạy cảm tinh tế của một nhà văn. Chúng ta trân trọng tập hồi kí vì tính cách sống động và chân thực của nó. Tập hồi kí này sẽ thêm vào kho hồ sơ lưu trữ xác thực về một thời kì lịch sử mà thế hệ trẻ Việt Nam rất cần được biết và nhớ. Vì một tương lai khác cho đất nước chúng ta.

Chỉnh lại, phê phán

Kế đó là một loạt những bài viết ngắn nhằm chỉnh lại những điều cần phê phán, hoặc đưa ra những góc nhìn khác về những vấn đề sử học của giới nghiên cứu. Những bài viết này về sau đăng dần trên tập san Văn Học (USA) trước khi in thành nhiều tập tại hải ngoại. Đó là những tập Thần, Người và Đất Việt (1989),Những bài dã sử Việt (1996). Tập Việt Nam nhìn từ bên trong: Những khuynh hướng chính trị tiên tri thời hiện tại ở Việt Nam (1992) đưa ra những giải mã độc đáo về những khuynh hướng chính trị mà ông gọi là những khuynh hướng tiên tri mang màu sắc huyền bí của tôn giáo hơn là bắt rễ từ thực tiễn. Những khuynh hướng hoang tưởng khác nhau ấy đã như một truyền thống bắt rễ sâu trong sinh hoạt chính trị. Hệ quả của những khuynh hướng tiên tri này là sự phiêu lưu hoang tưởng của xã hội vì vướng kẹt trong ngõ cùng của chính trị.

Ông không phê phán để phê phán suông, mà để phấn đấu cho một cuộc đổi thay cần thiết và triệt để trong nghiên cứu sử. Thay đổi này không thể là cuộc thay đổi ngoài da mà phải là một thay máu cho văn hoáĐoàn Xuân Kiên

Người đọc Tạ Chí Đại Trường luôn bắt gặp đây đó những phát kiến độc đáo. Chẳng hạn, bài "Về khuôn tiền đá ở Núi Voi" (Bắc Thái) trong Những bài dã sử Việt, Tạ Chí Đại Trường nhận ra rằng khuôn đúc tiền bằng đá tìm thấy ở Núi Voi không thể là của đời Đường như một số sách/giáo trình lịch sử nhận định. Nhờ đọc bài viết của ông, ông F. Thierry, một chuyên viên về tiền cổ, đã kịp thời đính chính trên chuyên san Bulletin de la Société Francaise numismatique (Tập san của Hội Tiền cổ Pháp) số tháng 3/1997, rằng khuôn tiền đó chỉ có một lỗ khắc đồng Khai Nguyên, tiền hiệu đầu Đường, thế kỷ VII. Trong bài "Việt Nam ở thế kỉ X", ông bàn về nhân vật Lê Hoàn ("Việt Nam ở thế kỷ X").

Qua những tài liệu mang giọng điệu miệt thị của sứ thần phương bắc và những ghi chép bóng bẩy thường để che đậy hoặc tô vẽ thêm của sử quan trong nước, cùng những dấu vết khảo cổ, Tạ Chí Đại Trường đã vẽ nên chân dung một ông vua có cá tính của một triều đình tột đỉnh quyền hành mà sinh hoạt không xa dân chúng là bao, và mặc dù còn vụng về quê kệch nhưng cũng có vẻ hào nhoáng và niềm hãnh diện riêng. Hoặc giả, Tạ Chí Đại Trường phân tích về Lý Nhân Tông, vị Hoàng đế suốt ngày loay hoay với việc đồng áng và có đầy đủ phẩm chất tham công tiếc việc, hà tiện chi li của anh nông dân một nắng hai sương ("Những Hoàng đế - điền chủ Đại Việt thế kỷ X-XIV"). Ông coi ông vua này là nhân vật điển hình minh chứng cho dấu vết điền chủ lãnh chúa rõ rệt ở các vị Hoàng đế của nước Đại Việt thế kỷ X-XIV.

Khi sang định cư bên Hoa Kỳ (1994), Tạ Chí Đại Trường lại đóng góp thêm một số công trình khác cũng vẫn cùng ý hướng phê phán quan điểm sử học chính thống ở trong nước để tiến đến một quan điểm sử học trung thực. Lần lượt, các công trình Lịch sử Việt Nam trong tầm mắt người Việt - Một lối nhìn khác (2002), Sử Việt, đọc vài quyển (2006). Tính cách phê phán của những công trình về sau này thật là dứt khoát.

Trong tập Lịch sử Việt Nam trong tầm mắt người Việt - Một lối nhìn khác (2002), ông phê phán những quan điểm sử học đương thời ở cả hai miền Nam Bắc trong thời phân chia và quan điểm sử của thời hiện đại, đều chỉ muốn áp đặt chính trị lên lịch sử, giải thích lịch sử theo chủ quan của chính trị.

image111

Image copyright blog hau khao co Image caption Sử gia Tạ Chí Đại Trường đã để lại nhiều công trình, biên khảo có giá trị, theo tác giả.

Tập sách Sử Việt, đọc vài quyển (2006) nguyên là tập hợp những bài viết do tác giả thai nghén từ lâu, và được đăng tải lần đầu trên tạp chí Văn Học (USA) trong những năm 1999-2004. Mười một bài viết đều xoay chung quanh một chủ đề lớn: đi tìm một quan điểm tiếp cận lịch sử Việt Nam một cách trung thực, không bị những trói buộc bất cứ từ đâu. Ý hướng là thế, lại được thể hiện bằng một phương pháp khá độc đáo: tác giả đã khéo chọn một điểm tựa mà dễ thường chưa ai làm, là suy niệm từ một quyển sử cũ, một quyển sử tiêu biểu cho truyền thống viết sử đã định hình từ mấy thế kỉ nay.

Sử thời thổ tả

Những khơi động cần thiết mà tác giả đem lại cho công chúng trí thức trẻ Việt Nam sẽ là món hành lí cần thiết cho một cuộc lên đường mới, một tương lai khác của nghiên cứu sử Việt nói riêng và của văn hoá Việt một kỉ nguyên mới, nói chung. Trong ý nghĩa đó, Tạ Chí Đại Trường đã góp phần không nhỏ cho cuộc vận động tiến về con đường văn hoá mới cho Việt Nam, ngày maiĐoàn Xuân Kiên

Cũng như những tập sách khác trước đó, công trình Sử Việt thời thổ tả (2013) là kết quả của một chuỗi suy niệm của tác giả về hiện trạng sa lầy của sử học khi con người muốn đánh tráo sự thật bằng những mánh khoé của bạo lực để đạt mục đích. Đọc tập sách này sẽ khiến người đọc ông phải bàng hoàng và không thể không dấy lên những hoài nghi chính đáng về những gì gọi là nền sử học của chúng ta hiện nay. Người đọc trẻ tuổi sẽ tìm thấy ở tập hợp những bài viết này một sự khơi động rất mạnh: hãy cảnh giác với những quan điểm và phương pháp luận hẹp hòi nhưng lại được sơn phết bằng những vỏ bọc cao đẹp như là chủ nghĩa yêu nước, chủ nghĩa dân tộc, lòng tự hào về văn hiến nghìn năm…

Công trình lớn sau cùng của Tạ Chí Đại Trường là một quyển thông sử mới mà ông khiêm tốn gọi là Sơ thảo Bài Sử Khác Cho Việt Nam (2009). Trong chương giới thiệu, ông minh nhiên đúc kết lại phương pháp tiếp cận sử của mình là phá bỏ những áp chế chính trị lên người viết sử. Sử gia là người bõ già của xã hội, và chỉ trung thực ghi nhận toàn bộ những mặt sinh hoạt khác nhau của xã hội qua trục thời gian. Mười lăm chương sách phác thảo một đề cương mới mẻ cho một bộ thông sử Việt Nam trong đó có sự góp mặt của mọi cộng đồng xã hội đã góp công tạo nên lịch sử. Công trình này cũng sẽ xem nhẹ chuyện ghi chép công trạng của các triều đại chính trị mà nhắm vẽ lại chân dung xã hội Việt Nam qua các thời kì lịch sử. Một công trình như thế sẽ vượt bỏ thứ quan niệm viết sử của các sử quan tiếp nối nhau qua bao đời trên đất nước ta.

Công trình đồ sộ này sẽ là một đề án thách đố thế hệ trí thức trẻ Việt Nam mai sau trong nỗ lực cởi trói sử học ra khỏi vòng kim cô của một truyền thống sử quan lưu cữu qua bao đời. Đó cũng là một thách đố văn hoá mới cho xã hội ngày mai.

Xem thế thì sự nghiệp của Tạ Chí Đại Trường toát lên một nét chung là ý hướng san sẻ suy nghĩ của ông với thế hệ tương lai. Ông không phê phán để phê phán suông, mà để phấn đấu cho một cuộc đổi thay cần thiết và triệt để trong nghiên cứu sử. Thay đổi này không thể là cuộc thay đổi ngoài da mà phải là một thay máu cho văn hoá. Những khơi động cần thiết mà tác giả đem lại cho công chúng trí thức trẻ Việt Nam sẽ là món hành lí cần thiết cho một cuộc lên đường mới, một tương lai khác của nghiên cứu sử Việt nói riêng và của văn hoá Việt một kỉ nguyên mới, nói chung. Trong ý nghĩa đó, Tạ Chí Đại Trường đã góp phần không nhỏ cho cuộc vận động tiến về con đường văn hoá mới cho Việt Nam, ngày mai.

Bây giờ ông đã nằm xuống. Thác là thể phách, còn là tinh anh.

Tác phẩm của Tạ Chí Đại Trường:

image113

Image copyright asiabooking.com.vn Image caption Các công trình của sử gia Tạ Chí Đại Trường sẽ còn là hành trang cho nhiều thế hệ người Việt Nam đi tới tương lai, theo tác giả.

1 Lịch sử nội chiến ở Việt Nam từ 1771 đến 1802, Nxb. Văn Sử học, Sài Gòn 1973. (Tái bản: Lịch sử nội chiến ở Việt Nam (1771-1802), Nxb. An Tiêm, Hoa Kì 1991; Tái bản: Việt Nam thời Tây Sơn – Lịch sử nội chiến 1771-1802, Nxb. Công an Nhân dân, Hà Nội 2006.) 2 Thần, người và đất Việt, Nxb. Văn Nghệ, Hoa Kì 1989; Văn Học xb., Hoa Kì 2000, bản mới; Nxb. Văn hoá Thông tin, Hà Nội 2006, bản mới. 3 Một khoảnh Việt Nam Cộng hoà nối dài, Nxb. Thanh Văn, Hoa Kì 1993. 4 Việt Nam nhìn từ bên trong và bên ngoài, bài viết riêng được gộp chung với Nguyễn Xuân Nghĩa, Nxb. Văn Lang, Hoa Kì 1994. 5 Những bài dã sử Việt, Nxb. Thanh Văn, Hoa Kì 1996. 6 Những bài văn sử, Văn Học xb., Hoa Kì 1999. 7 Lịch sử Việt Nam trong tầm mắt người Việt: Một lối nhìn khác. Bài viết cho Williams Joiner Center (UMASS/Boston) 2002. 8 Sử Việt đọc vài quyển, Văn Mới xb., Hoa Kì 2004.

9 Sơ thảo: Bài sử khác cho Việt Nam, bản thảo bắt đầu 2005. Văn Mới, USA 2009. 10. Người lính thuộc địa Nam Kì (1861-1945), bản thảo 1975. Nxb. Tri Thức & Nhã Nam, 2011

Bài viết phản ánh quan điểm riêng của tác giả Đoàn Xuân Kiên, một nhà nghiên cứu Việt học và ngữ học, đang sinh sống tại London, Anh Quốc.

 

+++++++++++++++++++++++++++++++++

 

Nhớ anh Tâm Thiện

Ts Trần Huy Bích

 

image115

Chân dung Giáo sư Nguyễn Ngọc Bích. (Ảnh không rõ tác giả nào chụp)

Tôi nghe danh anh Nguyễn Ngọc Bích từ rất lâu, và đọc tác phẩm của anh từ 1975 (tập thơ dịch A Thousand Years of Vietnamese Poetry), nhưng mãi đến năm 2000 mới có hoàn cảnh tiếp tay trong một vài việc anh làm.

Mùa Hè năm 2000, anh từ miền Đông sang California để cho ra mắt cuốn Hồ Xuân Hương : Tác phẩm do anh sưu tập và hiệu đính. Hai người được anh nhờ tới giới thiệu sách là cố Giáo sư Nguyễn Đình Hoà và tôi. Trong sách, anh đề cập tới bản Lưu Hương Ký chép tay, đã do cụ Cử nhân Hán học Nguyễn Văn Tú, người làng Hành Thiện, tỉnh Nam Định, đem từ tủ sách gia đình ra tặng thư viện Viện Hán Nôm. Khi tới phiên trình bày, tôi nói ít lời về cụ, và cho biết cụ chính là vị thầy dạy Hán văn của tôi niên khóa 1953-54 khi theo học lớp Đệ Tứ trường Trung học Nguyễn Khuyến Nam Định. Anh Bích rất lưu tâm tới chi tiết này. Sau khi tôi trình bày xong, anh đến hỏi tôi thêm về cụ. Tôi nói với anh những điều tôi biết, rồi thêm rằng qua những điều tôi nhận thức được về cụ (làm những việc tốt, việc phải không vì danh hay lợi) thì việc đem một cuốn sách quý, thuộc loại “gia bảo” trong tủ sách gia đình ra tặng Viện Hán Nôm, hoàn toàn hợp với tư cách cao quý của cụ. Anh Bích rất vui khi biết thêm những chi tiết ấy.

Năm 2005 anh cho tôi biết anh có ý định dịch Cung Oán Ngâm Khúc sang tiếng Anh. Tôi nhiệt liệt tán thành và nói, “Cung Oán Ngâm Khúc dùng quá nhiều điển tích và nhiều từ Hán Việt khó, là một trở ngại lớn đối với thế hệ trẻ. Một bản dịch Anh ngữ xuất sắc, bên cạnh việc để giới thiệu với quốc tế, có công dụng giúp thanh niên, sinh viên Việt sống ở ngoại quốc (và đã thạo Anh ngữ) rất nhiều.” Biết anh giỏi Pháp văn, tôi nói thêm, “Tôi có một bản dịch Cung Oán sang tiếng Pháp (Les plaintes d’une odalisque, do Tuần Lý Huỳnh Khắc Dụng dịch - Sàigòn : Bộ Quốc gia Giáo dục, 1960). Trong trường hợp anh chưa có cuốn ấy, tôi sẽ làm bản sao gửi sang anh. Hi vọng cuốn này cũng góp thêm phần nào vào việc nắm vững ý nghĩa những chỗ khúc mắc.” Tôi đã làm việc ấy theo lời anh yêu cầu, và thỉnh thoảng trao đổi ý kiến với anh qua email khi anh gặp những điển tích khá rắc rối. Năm sau 2006, khi qua ra mắt cuốn sách ở Nam California, anh yêu cầu tôi tới “nói ít lời giới thiệu.” Những hàng chữ anh viết trên tập sách ký tặng tôi sau đó cho thấy anh rất vui và rất hài lòng.

Đầu năm 2012, khi tới Nam California cho ra mắt tập thơ Lưu Hương Ký của Hồ Xuân Hương (thơ chữ Hán và Nôm, do anh phiên âm và chú thích), anh ghé thăm tôi, muốn tôi lại giới thiệu cuốn sách như mấy lần trước. Trong cuốn này, cũng như trong Hồ Xuân Hương : Tác phẩm xuất bản năm 2000, anh nêu ra một thắc mắc hữu lý: Tuy được chép trong Lưu Hương Ký, bốn câu đầu của bài “Thu tứ ca” (từ “Thu phong khởi hề bạch vân phi” tới “Hoài giai nhân hề bất năng vương”) đúng là mấy câu mở đầu bài “Thu phong từ” của Hán Vũ đế Lưu Triệt, vị vua thứ 7 nhà Tây Hán, trị vì từ năm 141 đến năm 87 trước công nguyên, nghĩa là trước Hồ Xuân Hương 19 thế kỷ. Vậy đã có chuyện lầm lẫn chăng? Chúng ta có nên coi bài “Thu tứ ca” là tác phẩm của Hồ Xuân Hương nữa hay không?    

Khi giới thiệu sách, sau phần trình bày những khó khăn cho ta thấy công phu cùng lòng nhiệt thành với văn học của anh Nguyễn Ngọc Bích, tôi nêu một nhận xét: Người xưa vẫn thường đưa những câu thơ, câu văn đã trở nên quen thuộc của cổ nhân vào tác phẩm của mình, để làm rõ thêm một ý muốn nhấn mạnh, để chứng tỏ rằng tiền nhân “cũng từng nghĩ, từng gặp cảnh ngộ giống như thế.” Đó là trường hợp của Nguyễn Công Trứ khi đưa hai câu thơ của Văn Thiên Tường (Nhân sinh tự cổ thùy vô tử …) vào bài hát nói “Chí làm trai,” trường hợp của Cao Bá Quát khi đưa những câu của Tô Đông Pha (Duy giang thượng chi thanh phong …) và của Lý Bạch (Quân bất kiến Hoàng hà chi thủy thiên thượng lai …) vào bài hát nói ”Ngán đời.” Đó cũng là trường hợp của Vũ Hoàng Chương khi sáng tác bài “Ý đàn” trong tập thơ Hoa Đăng (Sàigòn : Văn Hữu Á Châu, 1959). Trước khi đưa ra những câu thơ của chính mình (Mơ xanh đắng vị thu già …), nhà thơ họ Vũ đã mở đầu bằng hai câu thơ của Cao Bá Quát: “Minh nhật dục từ Nam phố đạo, Hà nhân cánh xướng Bắc cung thanh.” Trong bài thơ gửi từ nhà giam Chí Hòa về gia đình năm 1976, Vũ Hoàng Chương cũng đã chép lại hai câu trong bài “Khất thực” (bài thứ 14 trong Thanh Hiên Thi Tập) của Nguyễn Du: “Văn tự hà tằng vi ngã dụng, Cơ hàn bất giác thụ nhân liên” (có thể lược dịch là: Văn chương chữ nghĩa đã từng ích gì cho ta? Không dè vì đói rét phải nhận lòng thương hại của người) trước khi viết ra những câu của chính mình:  Chẳng dùng chi được văn tài, Thân này lụy áo cơm ai bất ngờ

Tiền nhân ở Á Đông xưa không có quan niệm giữ tác quyền. Có thi văn phẩm được lưu truyền (có “văn chương hành thế”) là niềm vui của các tác giả. Những câu được trích dẫn thường là những câu có ý tưởng hay, giới học thức đều đã biết, nên người trích dẫn được coi là đã khéo “tập cổ” (thu góp ý người xưa) chứ không bị coi là “đạo văn.” Đó là trường hợp của Hồ Xuân Hương khi đưa mấy câu trong bài “Thu phong từ” của Hán Vũ đế lên trước những câu của chính mình trong bài “Thu tứ ca.” Tôi nhớ hôm đó đã kết luận ý nghĩ ấy bằng câu: Chúng ta vẫn có quyền coi “Thu tứ ca” là một tác phẩm của nữ sĩ Hồ Xuân Hương, Giáo sư Nguyễn Ngọc Bích đã rất đúng khi phiên âm và chú giải bài ấy. Chỉ cần nêu rõ: Bốn câu đầu được rút từ bài “Thu phong từ” của Hán Vũ đế, một điều Giáo sư Nguyễn Ngọc Bích đã làm. Lập luận ấy khiến anh Nguyễn Ngọc Bích vui, và cử tọa cũng tỏ ra tán thưởng.

Trong những việc kể trên, anh Nguyễn Ngọc Bích luôn luôn là nhân vật chính, nhiệm vụ nặng và đáng nói hơn nhiều: sưu tầm, phiên âm, phiên dịch, chú giải, đưa sách đi in… Tôi chỉ giữ vai người tán trợ, thỉnh thoảng góp chút ý kiến, tài liệu nhỏ (trường hợp bản dịch Cung Oán Ngâm Khúc), rồi tới nói ít lời về cuốn sách để những ai chưa đọc sẽ thấy rõ ý nghĩa, giá trị của sách cùng những công phu của anh hơn. Tôi rất vui đã có dịp tiếp tay anh một cách khiêm nhượng như thế.

Có khi anh và tôi cùng được yêu cầu làm một việc, mới trông có vẻ giống nhau: tới phát biểu ít lời nhân dịp giỗ đầu của nhà thơ Nguyễn Chí Thiện. Nhưng tôi chỉ từ nhà lái xe tới địa điểm hành lễ (không quá 3 miles) trong khi anh phải bay từ miền Đông sang California. Tôi cũng chỉ phải đứng trước công chúng có một lần trong ngày, trong khi anh phải nói ba lần liên tiếp tại ba địa điểm khác nhau nhân chuyến đi ấy. Sức làm việc của anh quả là phi thường! 

Khi sang dự Hội nghị về Biển Đông tại Manila tháng 3 năm 2015 cũng thế. Tôi chỉ việc tới nơi, có mặt trong ngày Tiếp tân (hôm trước) và ngày Hội nghị (hôm sau). Trong Hội nghị, tôi chỉ việc lắng nghe các diễn giả, ghi chép, nêu câu hỏi, đóng góp ý kiến một cách rất khiêm nhượng, rồi trao đổi thêm với một số diễn giả và bạn trẻ từ Việt Nam tới trong giờ giải lao, trong khi anh đứng trong Ban Tổ chức, có thêm nhiều nhiệm vụ khác. Sau Hội nghị tôi cũng về Mỹ ngay, trong khi anh còn ở thêm ba hôm nữa, sinh hoạt với anh em “Họp mặt Dân chủ,” một số anh chị em từ trong nước qua. Sức làm việc và tinh thần “dấn thân” của anh quả đáng khâm phục!

Trong một số dịch phẩm của anh Nguyễn Ngọc Bích (chuyển thơ, ca dao Việt sang Anh ngữ), có đôi chỗ cách hiểu của tôi có chút khác cách hiểu của anh. Với tư cách bạn thân, tôi đưa ra hỏi khi có dịp gặp thì được anh cho biết những bản dịch ấy được phổ biến từ quá lâu (A Thousand Years of Vietnamese Poetry xuất bản năm 1975, hơn 40 năm trước). Cách hiểu của anh về sau đã khác trước một cách đáng kể. Anh cho biết khi có dịp tái bản, sẽ cho in lại theo cách hiểu mới. Rất tiếc anh ra đi một cách quá đột ngột, chưa kịp thực hiện công việc tái bản ấy!

Bên cạnh con người “học giả” và “chiến sĩ” vẫn còn một Nguyễn Ngọc Bích “nghệ sĩ.” Khi đứng hát trước công chúng, anh đem tâm hồn vào nhạc phẩm và hát một cách say sưa. Khả năng truyền đạt cảm xúc của anh rất mạnh.

Anh chăm chút các tập sách của anh trong tinh thần một người yêu nghệ thuật. Trong A Thousand Years of Vietnamese Poetry là một sưu tập tranh dân gian mỹ thuật và phong phú: người nông dân ngồi nghỉ cạnh con trâu, mục đồng thổi sáo, thiếu nữ gảy đàn, Bà Triệu cưỡi voi, lợn mẹ cùng bày lợn con, chim, cá … Đến phần thơ văn cận đại (“Modern times” với Thế Lữ, Huy Cận …), anh tìm được bức tranh một người mang quân phục đi xe đạp, vai đeo súng, mắt nhìn theo chim bay giữa đám hoa. Tranh mang hàng chữ Hán “Văn minh tiến bộ.” Quả là một bức tranh đặc biệt và hiếm thấy.

image117image119

Trong cuốn Cung Oán Ngâm Khúc do anh dịch và chú giải, anh giới thiệu bộ tranh minh họa tác phẩm ấy một cách đặc biệt và xuất sắc của cố họa sĩ Mai Lân. Toàn bộ gồm 40 bức tranh màu, vẽ nàng cung phi trong trang phục thời xưa qua các giai đoạn khác nhau của tác phẩm: từ vẻ kiều diễm thuở thiếu thời, những “ong bướm xôn xao,” rồi được đưa vào cung với những huy hoàng ban đầu cho tới khi bị xao lãng, nông nỗi cô đơn, cảnh âm thầm chiếc bóng… Cũng có những bức tranh minh họa tư tưởng trong tác phẩm: từ cuộc đời phù du, ý định nương mình cửa Phật, cho tới hạnh phúc đơn giản của cặp vợ chồng quê. Bên cạnh giá trị văn học, cuốn sách đạt tới địa vị một giai phẩm về phương diện ấn loát.

image121

Hai cuốn Hồ Xuân Hương : Tác phẩmLưu Hương Ký cũng tập hợp nhiều tranh minh họa xuất sắc, cả tranh đen trắng lẫn tranh màu, từ tranh dân gian đến tác phẩm của những họa sĩ danh tiếng như Bùi Xuân Phái, Võ Đình, Nguyễn Thị Hợp… Về phương diện mỹ thuật, anh Nguyễn Ngọc Bích đã chăm chút tác phẩm của mình một cách tài hoa và tận tâm.

Sự ra đi đột ngột của anh đã khiến rất nhiều người thương tiếc. Trong những năm lưu lạc tại hải ngoại cũng nhiều người Việt Nam quên mình cho lý tưởng, tận tụy làm việc, mong đem lại tự do, dân chủ, thịnh vượng cho quê hương. Nhưng đúng như nhận xét của nhà văn Trần Trung Đạo, ít ai đã “cống hiến một cách tích cực, liên tục, và phong phú trong nhiều lãnh vực” như anh Nguyễn Ngọc Bích. Giã biệt thế gian một cách nhẹ nhàng khi đang ở trên mây cao, anh hẳn phải có một cái “tâm” rất “thiện” để  xứng với phúc lành ấy. Mỗi khi nghĩ tới anh, người viết những dòng này lại nhớ đến nụ cười rất tươi và hồn nhiên. Nụ cười ấy luôn luôn nở ra trên khuôn mặt người đã nhận pháp danh là “Tâm Thiện.” 

Trần Huy Bích