VN lợi hay hại sau phán quyết PCA?

14 Tháng Bảy 20202:27 CH(Xem: 2086)

VĂN HÓA ONLINE - HOÀNG SA TRƯỜNG SA - THỨ BA 14 JULY 2020

Ý kiến-Bài vở vui lòng gởi về:  lykientrucvh@gmail.com (VănHóa Online-California)


VN lợi hay hại sau phán quyết PCA?


  • Nguyễn Ngọc Lan
  • Nghiên cứu sinh Tiến sỹ, Khoa Luật, ĐH Cambridge


BBC 14/7/2016


image014

Nghiên cứu sinh Nguyễn Ngọc Lan


Ngày 12/7/2016, Tòa Trọng tài Thường trực tại The Hague (PCA) ra phán quyết chung cuộc vụ Philippines kiện Trung Quốc về 'Đường Chín Đoạn', hay còn gọi là 'Đường Lưỡi Bò' trên Biển Đông. Nội dung phán quyết bác bỏ yêu sách chủ quyền và đường chín đoạn của Trung Quốc trên Biển Đông.


BBC Tiếng Việt đã có cuộc trao đổi qua email với Nguyễn Ngọc Lan, Nghiên cứu sinh Tiến sỹ, Khoa Luật, Đại học Cambridge, về sự kiện này.


1. Ý nghĩa của phán quyết này?


Phán quyết này có ý nghĩa vô cùng quan trọng không chỉ đối hai bên tranh chấp mà còn đối với toàn bộ các quốc gia liên quan trên Biển Đông.


Phán quyết khẳng định việc sử dụng biện pháp tài phán trong việc giải quyết tranh chấp một cách hoà bình là một lựa chọn hoàn toàn khả thi và đem lại kết quả tích cực.


Phán quyết này, cùng với Phán quyết về thẩm quyền tháng 10/2015, bác bỏ rất nhiều luận điểm thường được Trung Quốc sử dụng nhằm chối bỏ khả năng áp dụng các biện pháp tài phán để giải quyết các tranh chấp ở Biển Đông.


Phán quyết cho thấy Toà Trọng tài mặc dù phải đối mặt với một vụ tranh chấp rất phức tạp và cực kì nhạy cảm về mặt chính trị vẫn có thể đưa ra quyết định về các vấn đề pháp lý quan trọng.


Phán quyết góp phần khẳng định vai trò của luật quốc tế và tinh thần thượng tôn pháp luật, và khẳng định rằng trước luật pháp, các quốc gia đều bình đẳng như nhau.


Về mặt nội dung, Tòa Trọng tài đã thiết lập các chuẩn mực pháp lý đối với các yêu sách trên biển, qua đó khẳng định vai trò trung tâm của UNCLOS và Luật Quốc Tế nói chung trong các tranh chấp về biển.


Tòa cũng đã làm rõ các yêu sách vốn từ trước đến nay hết sức mơ hồ về mặt pháp lý mà Trung Quốc duy trì tại Biển Đông, từ đó làm rõ phạm vi tranh chấp. Phán quyết mở đường cho các nỗ lực tiếp theo để giải quyết tranh chấp Biển Đông một cách hoà bình và công bằng nhất, thông qua các cơ chế song phương hay khu vực.


Mặc dù phần lớn sự chú ý đều dồn vào các phần của phán quyết liên quan đến đường chín đoạn và quy chế đảo, các vấn đề khác mà Toà xem xét như nghĩa vụ và trách nhiệm pháp lý của Trung Quốc đối với các hành vi của ngư dân Trung Quốc trên biển, đối với hành vi của các tàu chấp pháp Trung Quốc, đối với việc khai thác tài nguyên thiên nhiên biển và bồi đắp đảo đe doạ đến môi trường biển, việc Trung Quốc tuyên bố lệnh cấm đánh bắt cá hàng năm, đều cung cấp cơ sở pháp lý quan trọng để các quốc gia khác trên Biển Đông, chịu ảnh hưởng bởi các hành vi này, có thể phản đối và có các biện pháp phù hợp.


2. Trung Quốc nói không chấp nhận phán quyết này và cho rằng PCA không có quyền tài phán đối với tranh chấp trên Biển Đông, vậy điều gì sẽ xảy ra sau vụ kiện này?


Trung Quốc luôn tuyên bố không chấp nhận thẩm quyền của Toà trọng tài theo Phụ lục VII, mặc dù theo quy định của UNCLOS, một khi quốc gia trở thành thành viên của Công ước, quốc gia đó mặc nhiên đã công nhận thẩm quyền của các cơ quan tài phán được thành lập theo Công ước, bao gồm Toà trọng tài.


Mặc dù Trung Quốc không tham gia quá trình tranh tụng cũng như tuyên bố không chấp nhận phán quyết của Toà Trọng tài, UNCLOS quy định một phán quyết của cơ quan tài phán theo Công ước mang tính ràng buộc đối với các bên tranh chấp.


Điều này có nghĩa là Trung Quốc, với tư cách là thành viên của Công ước có nghĩa vụ thực thi pháp quyết này. Việc Trung Quốc không thực thi phán quyết đồng nghĩa với việc Trung Quốc vi phạm quy định của luật quốc tế.


Tuy nhiên, cần phải thừa nhận là luật quốc tế không có một cơ chế cưỡng chế bắt buộc có thể áp dụng đối với quốc gia.


Nói cách khác, trong trường hợp Trung Quốc nhất quyết không tuân thủ phán quyết của Toà trọng tài, về lý thuyết, Philippines khó có một cơ chế cưỡng chế nào để ép buộc Trung Quốc phải thực thi.


Tuy nhiên, trên thực tế, trong lịch sử giải quyết tranh chấp quốc tế theo con đường tài phán, rất hiếm có trường hợp nào mà các quốc gia lại chống đối hoàn toàn phán quyết của một toà quốc tế.


Việc tuân thủ có thể không diễn ra ngay lập tức và đầy đủ, nhưng về lâu dài, có thể thấy phán quyết của toà có tác động quan trọng trong việc thay đổi hành vi, thái độ của các quốc gia có liên quan và các quốc gia có xu hướng thực hiện các hành động của mình theo hướng phù hợp với những gì mà toà quốc tế yêu cầu.


Đối với vụ kiện này, Trung Quốc có thể sẽ không tuân thủ phán quyết ngay lập tức, và các tuyên bố chính thức của Trung Quốc sẽ vẫn luôn khẳng định phán quyết không ảnh hưởng gì đến mình.


Một số chuyên gia lo ngại rằng Trung Quốc có thể sẽ trở nên hung hăng hơn trên Biển Đông như một cách để đáp trả lại phán quyết, ví dụ như tiếp tục đẩy mạnh cải tạo đảo, thành lập Vùng nhận diện phòng không (ADIZ).


Tuy nhiên, một số chuyên gia khác cũng có nhận định rằng đây có thể chỉ là phản ứng ban đầu.


Về lâu dài, khó có thể mong chờ Trung Quốc sẽ tuyên bố chấp nhận phán quyết, nhưng dưới sức ép của các quốc gia có liên quan, cũng như của cộng đồng quốc tế dựa trên phán quyết, Trung Quốc có thể sẽ dần có những điều chỉnh trong quá trình đàm phán với các quốc gia khác trong khu vực.


Cần lưu ý rằng Philippines cũng từng tuyên bố rằng quốc gia này xem vụ kiện là là bước đầu tiên, chứ không phải biện pháp cuối cùng để giải quyết toàn bộ tranh chấp Biển Đông một cách hoà bình.


3. Việt Nam có thể tham khảo điều gì từ vụ kiện này trong trường hợp muốn giải quyết tranh chấp giữa Việt Nam với Trung Quốc trên Biển Đông bằng biện pháp pháp lý?


Trong trường hợp Việt Nam muốn sử dụng biện pháp tài phán để giải quyết tranh chấp với Biển Đông, vụ kiện này có một số vấn đề đáng lưu ý về khía cạnh pháp lý:


Thứ nhất, việc sử dụng bằng chứng trong quá trình tranh tụng: Phán quyết của Toà có nhắc đến và xem xét rất nhiều bằng chứng trước khi đưa ra kết luận.


Toà đã làm rõ giá trị của các loại bằng chứng khác nhau, ví dụ như bằng chứng lịch sử, bằng chứng từ hình ảnh vệ tinh, các khảo sát hàng hải, bản đồ địa lý v.v...


Toà cũng từ chối xem xét một số bằng chứng do Philippines đưa ra và Toà cũng tìm kiếm các bằng chứng một cách độc lập. Việc thu thập bằng chứng và sử dụng bằng chứng như thế nào phục vụ các lập luận pháp lý là vấn đề quan trọng mà một quốc gia khi tham gia tranh tụng cần phải lưu ý để có thể đảm bảo xây dựng bộ hồ sơ một cách tốt nhất.


Thứ hai, một vụ tranh chấp khi đưa ra trước toà quốc tế sẽ phải trải qua một giai đoạn kéo dài vài năm để đi đến phán quyết cuối cùng.


Vụ tranh chấp này kéo dài ba năm, có thể được xem là tương đối ngắn so với thời gian trung bình để giải quyết một tranh chấp trước toà (một vụ kiện trước Toà án Công lý quốc tế - ICJ – có thể kéo dài đến hơn một thập kỷ).


Tuy nhiên điều này đòi hỏi quốc gia tham gia phải có sự chuẩn bị kỹ lưỡng về mọi mặt, nhân lực, chuyên môn, tinh thần để có thể theo đuổi vụ kiện một cách tốt nhất, đặc biệt trong hoàn cảnh mà quốc gia bị kiện chắc chắn sẽ tạo rất nhiều áp lực để chối bỏ giá trị của vụ kiện.


4. Phải chăng tòa không công nhận quyền lịch sử của Trung Quốc ở Biển Đông nghĩa là cũng không công nhận quyền lịch sử của các nước khác, như Việt Nam?


Cần phải có sự phân biệt giữa các khái niệm pháp lý khác nhau: chủ quyền với đảo (territorial sovereignty), quyền lịch sử (historic rights) và quyền chủ quyền (sovereign rights).


Khái niệm đầu liên quan đến việc xác định ai có chủ quyền đối với đảo (đất), hai khái niệm sau liên quan đến quyền của quốc gia đối với việc sử dụng các nguồn tài nguyên ở các vùng nước xung quanh các đảo (biển).


Vụ kiện này không liên quan đến chủ quyền đối với các đảo, vì Philippines không đưa vấn đề này ra trước Toà và bản thân Toà cũng không có thẩm quyền để giải quyết vấn đề này.


Philippines chỉ yêu cầu Toà bác bỏ yêu sách của Trung Quốc đối với toàn bộ vùng nước trên Biển Đông dựa trên “quyền lịch sử”.


Toà tuyên bố rằng UNCLOS đã quy định một vùng biển có tên “vùng đặc quyền kinh tế” có chiều rộng 200 hải lý tính từ đường cơ sở, và trong vùng biển này quốc gia có “quyền chủ quyền”, tức là đặc quyền trong việc khai thác tài nguyên thiên nhiên.


Sự ra đời của vùng đặc quyền kinh tế và “quyền chủ quyền” đặt dấu chấm hết cho các yêu sách dựa trên “quyền lịch sử” để yêu sách các vùng biển vốn thuộc quyền chủ quyền của các quốc gia khác.


Như vậy, Toà bác bỏ yêu sách “quyền lịch sử” của Trung Quốc đối với các vùng biển trên Biển Đông.


Việt Nam chưa từng yêu sách “quyền lịch sử” đối với toàn bộ vùng biển ở Biển Đông.


Yêu sách của Việt Nam đối với các vùng biển trên Biển Đông đều dựa trên cơ sở các vùng biển như vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa theo UNCLOS.


Lập trường của Việt Nam là Việt Nam có đầy đủ bằng chứng lịch sử đế chứng mình chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Đây là một vấn đề liên quan đến chủ quyền đối với đảo, là vấn đề hoàn toàn khác.


Hơn nữa, bản thân Toà Trọng tài cũng nói rõ các bằng chứng lịch sử để chứng minh chủ quyền đối với đảo sẽ khác các bằng chứng lịch sử để chứng minh quyền lịch sử đối với các vùng biển. Hai vấn đề này khác biệt nhau.


Vì thế phán quyết của Toà Trọng tài không đồng nghĩa với việc Toà bác bỏ tuyên bố chủ quyền của Việt Nam đối với các đảo trong hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa dựa trên các bằng chứng lịch sử, cũng như không bác bỏ tuyên bố của Việt Nam đối với các vùng biển trên Biển Đông phù hợp với UNCLOS.


5. Tòa phán quyết ‘không cấu trúc’ nào ở Trường Sa được có vùng đặc quyền kinh tế. Điều này có ý nghĩa như thế nào, đặc biệt là những chi tiết phán quyết dựa trên đặc điểm tự nhiên, không tính những gì Trung Quốc đã xây cất thêm?


Tuyên bố của Toà Trọng tài rằng không có cấu trúc nào ở Trường Sa có vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa là một điểm quan trọng và có ý nghĩa, dù có gây khá nhiều bất ngờ cho giới quan sát (không phải vì nội dung của tuyên bố, mà vì Toà đã chấp nhận tuyên bố một vấn đề, tuy quan trọng và cần thiết, nhưng không được Philipppines yêu cầu).


Tuyên bố này tác động không chỉ đối với Philippines và Trung Quốc là hai bên tranh chấp, mà còn tất cả các quốc gia khác hiện có yêu sách đối với Trường Sa. Mỗi quốc gia vì thế phải đánh giá tác động cụ thể của tuyên bố này đối với chính sách của mình trên Biển Đông.


Phán quyết này góp phần bác bỏ hoàn toàn yêu sách Biển Đông của Trung Quốc dựa trên "đường chín đoạn".


Điều này là bởi vì mặc dù Trung Quốc chưa từng đưa ra một lời giải thích chính thức nào đối với yêu sách đường lưỡi bò, các hành vi của Trung Quốc cũng như giới học giả cho thấy Trung Quốc có thể dựa trên hai cơ sở chính là (i) quyền lịch sử (đã bị Toà bác bỏ) hoặc(ii) đường chín đoạn là đường biên giới ngoài của các vùng nước được tạo ra bởi các đảo trong quần đảo Trường Sa.


Với việc tuyên bố rằng các thực thể trong quần đảo Trường Sa không thể tạo ra vùng biển rộng tới 200 hải lý, và vì thế không thể có thể vùng biển rộng như đường chín đoạn, Toà đã bác bỏ hoàn toàn mọi cơ sở mà Trung Quốc có thể dựa vào để yêu sách đường chín đoạn.


Việc Toà tuyên bố các thực thể địa lý chỉ có thể được xem xét dựa trên điều kiện tự nhiên, cùng với tuyên bố rằng việc xây dựng, cải tạo đảo là làm trầm trọng tranh chấp, đã khẳng định tính phi pháp của các hoạt động bồi đắp, xây cất đảo của Trung Quốc.


Việc Toà xác định các thực thể ở quần đảo Trường Sa chỉ có thể có tối đa một vùng biển 12 hải lí cũng góp phần thu hẹp các vùng biển chồng lấn trên Biển Đông, vì thế làm thu hẹp các vùng biển tranh chấp.


Dựa vào phán quyết, các quốc gia liên quan có thể tiến hành xác định rõ ràng hơn vùng biển nào là vùng biển có tranh chấp, để từ đó tiến hành đàm phán, phân định hay khai thác chung nếu phù hợp.


Trong quá trình Toà lý luận về quy chế đảo theo điều 121 UNCLOS, Toà cũng đã làm rõ các yêu cầu pháp lý để một thực thể có thể được xem là đảo, đảo đá hay bãi nửa nổi nửa chìm.


Phán quyết vì thế tạo ra chuẩn mực pháp lý khách quan đối với điều 121 mà các quốc gia khác có thể áp dụng trong các tranh chấp khác, ví dụ như đối với các thực thể trong quần đảo Hoàng Sa, hay các thực thể trong tranh chấp ở Biển Hoa Đông.


Phán quyết là một án lệ rất quan trọng không chỉ đối với việc giải quyết tranh chấp ở Biển Đông mà còn đối với sự phát triển của Luật Biển Quốc Tế nói chung.


Đây là lần đầu tiên một phán quyết của Toà quốc tế phân tích và làm rõ các điều khoản quan trọng của UNCLOS như Điều 121, lần đầu tiên một toà quốc tế tuyên bố một quốc gia vi phạm nghĩa vụ thiện chí theo Điều 300 UNCLOS.


Vì thế, tác động của phán quyết chắc chắn sẽ vượt ra khỏi phạm vi của tranh chấp Biển Đông và sẽ là nguồn luật quan trọng để các quốc gia khác trên thế giới tham khảo trong quá trình áp dụng UNCLOS và luật biển nói chung./

10 Tháng Ba 2015(Xem: 8179)
Ngư dân địa phương cho biết chiếc 'tàu lạ' có 'kiểu dáng tương tự như chiếc tàu Trung Quốc từng đâm chìm chiếc tàu cá của ngư phủ Đà Nẵng hồi tháng Năm năm 2014'.
05 Tháng Ba 2015(Xem: 7186)
Theo ông Alexander Vuving với “chiến lược đảo nhân tạo”, mục đích cuối cùng mà Bắc Kinh nhắm đến: Thứ nhất là tránh xung đột vũ trang; xung đột có thể xảy ra nhưng chỉ khi tồn tại các điều kiện thuận lợi. Thứ hai là kiểm soát được càng nhiều các điểm chiến lược trên biển Đông càng tốt; nếu chưa kiểm soát được thì làm thế nào để kiểm soát một cách âm thầm và tránh xung đột. Thứ ba, biến những điểm chiến lược này thành các điểm kiểm soát đủ mạnh để khống chế toàn bộ khu vực (căn cứ hậu cần hay căn cứ tiền phương).
03 Tháng Ba 2015(Xem: 11830)
Theo Hải quân Mỹ, Đô đốc Nguyễn Văn Hiến đã được Phó Đô đốc Robert L. Thomas, Tư lệnh Hạm đội 7 tiếp và làm việc trên tàu chỉ huy của Hạm đội, chiếc USS Blue Ridge ở Yokosuka, căn cứ chính của Hạm đội 7 Mỹ tại Nhật Bản.
01 Tháng Ba 2015(Xem: 7493)
Đây là lần đầu tiên, sự tồn tại của các phi vụ trinh sát này được công khai xác nhận. Trong một thông báo, Hải quân Hoa Kỳ cho biết là các chiếc P-8A đã được triển khai tại Philippines trong ba tuần lễ từ đầu tháng Hai cho đến ngày 21/02/2015. Các chiếc phi cơ này đã thực hiện hơn 180 giờ bay trên vùng Biển Đông.
26 Tháng Hai 2015(Xem: 8284)
"Đối với Trung Quốc, chính sách coi trọng khu vực châu Á-Thái Bình Dương của chính quyền Obama ít nhất là để kiềm chế Trung Quốc về quân sự... có bình luận từ TQ cho rằng: “Mặc dù Mỹ nhiều lần đề cập đến chính sách “coi trọng châu Á”, nhưng coi tình hình Nga và tình hình IS là vấn đề hàng đầu, “bỏ mặc/bàng quan” với việc Trung Quốc xây đảo nhân tạo, làm cho sự thăm dò của Trung Quốc có được câu trả lời mà Bắc Kinh cho là “hợp lệ”.
23 Tháng Hai 2015(Xem: 7150)
(An Ninh Quốc Phòng) - Theo tiết lộ của báo mạng Nhật Bản The Diplomat vào hôm nay 18/02/2015, Trung Quốc lại gây sức ép để ngăn chặn các cuộc thảo luận đa phương về Biển Đông.
08 Tháng Hai 2015(Xem: 11979)
Trung Quốc chiếm bãi Đá Vành Khăn vào năm 1995, và hiện nay Bắc Kinh đang tiến hành công tác cải tạo trên sáu bãi san hô khác mà họ chiếm ở quần đảo Trường Sa, mở rộng diện tích đất gấp năm lần, theo như hình ảnh giám sát trên không cho thấy. Hình ảnh năm ngoái cho thấy đã xuất hiện một đường băng và những hải cảng
01 Tháng Hai 2015(Xem: 27634)
Mời bạn đọc cùng điểm lại các sự kiện xung quanh thời điểm 19-1-1974, dấu mốc không thể nào quên với người Việt Nam khi Trung Quốc dùng vũ lực cưỡng chiếm quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam
15 Tháng Giêng 2015(Xem: 9925)
41 năm sau, tại Quận Cam nam California; nhớ lại trang sử hải chiến đó, cựu Hải quân Đại Úy Thềm Sơn Hà (dù không là sĩ quan nhân chứng trong trận hải chiến), nhưng ông đã bỏ ra 10 năm truy tầm các tài liệu liên quan để cố gắng hoàn thành cuốn sách: "Sự thật về trận hải chiến Hoàng Sa".
13 Tháng Giêng 2015(Xem: 8659)
Ngày 03/01/2015, Bắc Kinh đã không ngần ngại công bố hình ảnh về sự hiện diện của quân đội Trung Quốc trên bãi đá được cải tạo này, cho thấy rằng họ không còn che giấu các hành vi nhằm thay đổi diện mạo địa lý của vùng Biển Đông, buộc các nước tranh chấp khác và cộng đồng quốc tế phải chấp nhận một “sự đã rồi”.
11 Tháng Giêng 2015(Xem: 8996)
Tháng 9/2014, người đứng đầu Cơ quan Điều phối An ninh Biển Indonesia, Phó Đô đốc Desi Albert Mamahit cảnh báo rằng, tranh chấp lãnh thổ trên Biển Đông là một mối đe dọa thực sự và sớm muộn sẽ ảnh hưởng đến đất nước này.
08 Tháng Giêng 2015(Xem: 9037)
Tổng thống Indonesia Joko Widodo tuyên bố rằng, đánh đắm các tàu cá nước ngoài là để “dạy cho họ một bài học để họ từ bỏ ý định đánh bắt trộm trong vùng biển Indoesia”. Bộ trưởng An ninh nội địa Tedjo Edhy Purdijatno trong tháng cuối cùng của năm 2014 đã ra lệnh đánh đắm 3 tàu cá Việt Nam. 2 tuần sau đó họ tiếp tục cho nổ tung 2 tàu cá Papua New Guinea và cuối tháng 12 tiếp tục cho nổ tung 2 trong số 5 tàu cá Thái Lan...
04 Tháng Giêng 2015(Xem: 9218)
Đài VOA bản tiếng Hán ngày 29/12 đưa tin, giới chức đảo Đài Loan bày tỏ cái gọi là “quan ngại về các hoạt động quân sự của Việt Nam” tại quần đảo Trường Sa (thuộc chủ quyền Việt Nam), đặc biệt là trên đảo Sơn Ca, cách đảo Ba Bình (Đài Loan đang chiếm đóng bất hợp pháp – PV) khoảng 11 km.
28 Tháng Mười Hai 2014(Xem: 15069)
Phân định biển có ý nghĩa rất lớn đến an ninh, an toàn hàng hải và ổn định khu vực, đồng thời tạo điều kiện phát triển kinh tế biển. Việt Nam đã rất tích cực trong vấn đề này. Sách “100 câu hỏi đáp về biển đảo dành cho tuổi trẻ Việt Nam” của Ban Tuyên giáo Trung ương sẽ nêu chi tiết dưới đây.
25 Tháng Mười Hai 2014(Xem: 11050)
Trong những năm 20 – 30, thế kỷ XX, nhiều tờ báo có uy tín của Pháp ở Đông Dương với đường lối nghiên cứu khoa học khách quan đã những đưa ra những đánh giá về vị trí chiến lược của Hoàng Sa; tầm quan trọng của Hoàng Sa trong phát triển kinh tế; cơ sở lịch sử rõ ràng, xác nhận chủ quyền của An Nam tại Hoàng Sa từ rất lâu đời. Không những thế, những tờ báo này thể hiện sự quan tâm đặc biệt đối với việc quản lý Hoàng Sa, Trường Sa và góp phần thúc đẩy nhanh quá trình xác lập chủ quyền của An Nam trên quần đảo Hoàng Sa do Pháp bảo hộ.
22 Tháng Mười Hai 2014(Xem: 8998)
Tháng trước, Tổng thống Aquino đã cam kết sẽ đầu tư bổ sung 2 tỷ USD để hiện đại hóa quốc phòng vào năm 2017. Phần lớn khoản đầu tư này, bao gồm các tàu ngầm, sẽ dành để mua sắm tăng cường các vũ khí, khí tài nhằm ngăn chặn Trung Quốc trên vùng biển tranh chấp.
14 Tháng Mười Hai 2014(Xem: 9335)
Itar Tass trích lời một nguồn thân cận tại Bộ quốc phòng Ấn Độ cho hay Việt Nam đang bắt đầu tiến hành đàm phán mua tên lửa BrahMos của Ấn Độ nhằm tăng cường năng lực phòng thủ trên biển. BrahMos có thể phóng từ tàu ngầm lớp Kilo, từ tàu chiến Gerpard hay máy bay Su-30 và dĩ nhiên là bệ phóng cơ động trên bộ. Những khí tài đó quân đội Việt Nam đều có sau khi mua từ Nga.
07 Tháng Mười Hai 2014(Xem: 10393)
Cuối tuần trước, người phát ngôn quân đội Mỹ Jeffrey Pool lên tiếng yêu cầu Trung Quốc ngừng việc xây đảo nhân tạo trên Đá Gạc Ma thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam. Báo cáo của hãng IHS Jane’s Defense cho biết đảo nhân tạo này dài 3.000m và rộng 200-300m và Trung Quốc đang xây đường băng tại đây.
30 Tháng Mười Một 2014(Xem: 11025)
Gạc ma, Chữ Thập và Vành Khăn hợp thành một Tam Giác đối phó với mọi tình huống chiến tranh, gồm cả một sàn ( platform) dài 116 m, rộng 96 m, (1 trong 5 kiến trúc tại Chữ Thập) sẽ dùng để đặt dàn phóng hạ vệ tinh của Mỹ điều khiển và hướng dẫn Hàng Không Mẫu Hạm Mỹ. Nếu chỉ làm mù vệ tinh của Mỹ mà thôi, thì HKMH Mỹ sẽ bị vô hiệu hoá...