Trần Thùy Mai: Từ Dụ Thái Hậu - Chương 21 – 40

02 Tháng Tư 20247:09 CH(Xem: 511)

VĂN HÓA ONLINE – VĂN HỌC NGHỆ THUẬT – THỨ BA 02 APRIL 2024


LTS: Tòa soạn Văn Hóa Online-California vừa nhận được trọn bộ Tiểu thuyết ‘Từ Dụ Thái Hậu' của Nhà Văn Trần Thùy Mai gởi tặng. Truyện gồm Quyển Thượng và Quyển Hạ.


Tác phẩm lấy bối cảnh hậu cung để làm nền cho bộ tiểu thuyết viết về cuộc đời bà Phạm Thị Hằng, vợ vua Thiệu Trị, mẹ vua Tự Đức, sau trở thành Hoàng Thái Hậu Từ Dụ.


Thời gian câu truyện trải dài 30 năm, qua ba triều vua Nguyễn: Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị, từ lúc Phạm Thị Hằng 13 tuổi theo cha về kinh đô Huế, chịu bao thăng trầm dâu bể rồi trở thành vị đệ nhất phu nhân đứng đầu hậu cung.


Ngoài trục trung tâm xoay quanh bà Từ Dụ, tác giả mở rộng biên độ với các nhân vật tương ứng mối quan hệ quân thần, huynh đệ. Những yêu ghét, hận thù, toan tính, thủ đoạn cùng tồn tại trong hậu cung, được hóa giải bằng tình yêu, lòng từ bi … Hình ảnh Từ Dụ Thái hậu - người phụ nữ ở trung tâm quyền lực triều Nguyễn đã đi vào lịch sử dưới ngọn bút tài hoa lôi cuốn của Trần Thùy Mai.


Văn Hóa Online-California trân trọng cảm tạ Nhà Văn Trần Thùy Mai đã gởi đến bạn đọc Văn Hóa Online bộ tiểu thuyết được giới nhà văn trong nước đánh giá là hay nhất hiện nay. ‘Từ Dụ Thái Hậu' đã đoạt Giải Nhất cuộc thi tiểu thuyết 2016-2019 của Hội Nhà Văn Việt Nam (trong nước) và Giải Sách hay 2020 của IRED.


Ngòi bút của Trần Thùy Mai không những mở ra một trào lưu văn chương văn hóa mới mà còn khai phóng cuộc “đổi mới tầm tư duy tư tưởng lịch sử”, bà xứng đáng là người mang “sứ mệnh của người viết tiểu thuyết - lịch sử”. (lkt)


"Từ Dụ Thái Hậu" do Nhà xuất bản Phụ nữ ấn hành. Ảnh bìa: NXB Ph n.

image015

Chương 1- 11


https://www.nhatbaovanhoa.com/p153a12223/tran-thuy-mai-tu-du-thai-hau


Chương 11- 20


https://www.nhatbaovanhoa.com/a12233/tran-thuy-mai-tu-du-thai-hau-chuong-11-20


Trần Thùy Mai: Từ Dụ Thái Hậu - Chương 21 – 40


Chương 21 - 40


Gặp gỡ trong cung


Phủ Long Thành quay lưng ra bờ sông Hương, có cổng sau bằng tre dẫn xuống bến thuyền. Thuyền của Ngô Tiệp dư trang trí lộng lẫy ghé vào bến. Được thị tỳ nâng đỡ hai bên, Tiệp dư Ngô Thị Chính bước lên, ngồi kiệu nhỏ, có lính hầu khiêng tiến vào phủ.


Phủ công chúa Ngọc Tú rộng lớn nhưng rất đơn sơ mộc mạc. Trong phủ, công chúa đang ngồi tụng kinh, mắt nhắm nghiền, tay đều đều gõ mõ.


Hạnh Thảo quỳ sau lưng công chúa, chắp tay thành kính.


Ngoài sân, Ngô Thị Chính xuống kiệu. Người hầu trong phủ chạy túa ra, thấy kiệu và


thuyền, biết là bà phi trong cung nên lật đật quỳ thưa:


- Ngô Tiệp dư đến bất ngờ, chúng con ra đón chậm trễ, xin bà tha lỗi. Con xin đi báo với


công chúa.


Ngô Thị Chính ngăn lại:


- Đừng đừng, ta nghe có tiếng tụng kinh, thôi để cho Thái trưởng công chúa yên tĩnh. Ta


sẽ ngồi chờ.


Ngô Thị Chính vốn là người nghiêm cẩn nên gọi Ngọc Tú đầy đủ tước vị, chứ không gọi tắt là công chúa như mọi người. Theo lệ, con gái vua gọi là công chúa, chị em gái vua là Trưởng công chúa, cô ruột của vua là Thái trưởng công chúa. So với Ngọc Tú, Chính là cháu dâu, tuổi nhỏ và thế thứ cũng nhỏ hơn nên rất cung kính giữ lễ.


Người hầu thấy Ngô Tiệp dư nhất định không cho đi báo, liền thưa:


- Bẩm lệnh bà, công chúa thường tụng kinh niệm Phật suốt buổi chiều, sợ lệnh bà chờ không nổi đâu.


Ngô Thị Chính ngần ngừ:


- Ta phụng mệnh hoàng thượng đi thắp nhang cho các phi tần quá cố, trên đường về ghé thăm Thái trưởng công chúa. Nếu công chúa niệm Phật suốt buổi chắc không kịp gặp rồi! Này, ta nghe nói ở phủ có người nấu ăn tài giỏi lắm, trước đây làm trong Bếp hoàng cung, biết rất nhiều


bí quyết về ẩm thực…


Người hầu mách ngay:


- Dạ vậy chắc là chị Hạnh Thảo đó! Nếu bà cần sai bảo để con đi gọi chị ấy cho.


Hôm ấy nhờ gặp Ngô Tiệp dư, Hạnh Thảo hỏi thăm mới biết tin Phạm phu nhân đã mất,


Phạm thượng thư lại gặp chuyện không may phải vào Quảng Nam làm chức quan nhỏ. Hạnh Thảo xót xa trong lòng: Tội nghiệp cho Hằng, bơ vơ ở kinh thành, biết nương dựa vào ai bây giờ.


Biết được tâm nguyện của Tiệp dư, Hạnh Thảo tặng cho bà một tập ghi chép về cách nấu vài món ăn đặc biệt. Cảm kích vì hảo ý, thêm cũng quý cái tài của nàng, Tiệp dư Ngô thị hứa với


Hạnh Thảo:


- Em có nghĩa với chủ cũ như vậy, ta cũng cám cảnh lắm. Em cứ yên lòng đi, ta về hoàng cung sẽ cho người thăm nom nhà họ Phạm. Có tin tức gì về Phạm thượng thư, sẽ cho người báo


em hay.


Hạnh Thảo thưa:


- Bẩm bà, con muốn nhờ bà một việc có được không?


- Được chứ! Hôm nay em không giấu nghề, bày cho ta nhiều bí quyết gia truyền quý lắm,


ta rất cảm ơn. Nếu em cần ta giúp gì cứ nói đừng ngại.


- Thưa bà, con rời phủ họ Phạm ra đi, đã thề đến chết cũng không quay lại. Nay nghe tin trong phủ gặp nhiều chuyện rủi, lòng con xót lắm! Chẳng biết làm sao bây giờ! Nay con muốn nhờ chuyển cho em Hằng một ít bánh ngon và nhang thơm để thắp cho Phạm phu nhân, gọi là chút lòng chia sẻ.


Ngô Thị Chính gật đầu:


- Được, được, trên đường về ta sẽ chuyển giúp em ngay. Thôi, bây giờ ta đi, để còn ghé phủ Phạm cho sớm.


Ngô Thị Chính ra đi. Hạnh Thảo tần ngần bước theo đến tận kiệu, dặn dò:


- Bà cứ cho cung nữ làm đúng như trong giấy, con đã ghi tỉ mỉ lắm. Đặc biệt là cách pha món xuân dược bí truyền mà cha con để lại. Món này con cũng chưa thử làm bao giờ, nhưng nghe cha con bảo đó là thứ rượu tiên có một không hai trên đời này.


Ngô Thị Chính cảm động:


- Nếu quả vậy thì ta chịu ơn em nhiều lắm!


Ngô Tiệp dư cùng đoàn tùy tùng về đến phủ Phạm thì trời đã sẩm chiều. Kiệu dừng trước cổng. Ngô Thị Chính đi vào. Lối đi cỏ lún phún mọc. Trong phủ rất âm u, thấp thoáng ngọn đèn


= dầu lạc mới thắp.


Ngô Thị Chính và hai nữ tỳ đi quanh nhà, chỉ thấy sân vườn vắng lặng.


Ghé nhìn vào gian nhà chính, Tiệp dư thấy Hằng đứng trước bàn thờ, đang thắp nhang cho mẹ.


Ngô Thị Chính ra hiệu, nữ tỳ Hỷ Nhi lên tiếng:


- Cô là Hằng, tiểu thư nhà họ Phạm phải không?


121


Hằng giật mình quay lại, bước ra. Thấy người phụ nữ sang trọng có kẻ hầu người hạ vây quanh, Hằng hỏi:


- Dạ, chính cháu. Thưa bà, bà là phu nhân ở dinh nào phủ nào, sao lại có ý tốt đến thăm?


Ngô Thị Chính mỉm cười:


- Ta là Tiệp dư họ Ngô ở trong cung.


Hằng kinh ngạc, vội cúi đầu thi lễ:


- Con xin ra mắt lệnh bà.


Ngô Thị Chính ái ngại:


- Con ở đây có một mình sao?


Hằng buồn rầu:


- Dạ, cha con vào Quảng Nam, cũng muốn đem con đi theo, nhưng khổ nỗi trong đó ở


công quán, tạm thời chung chạ không tiện… Lại còn mộ má, sợ không ai trông nom, nên con


đành ở lại đây, lần lữa qua ngày.


Ngô Thị Chính lắc đầu, thở dài. Phúc bất trùng lai, họa vô đơn chí. Nghĩ mà buồn cho đời


người, vinh nhục tụ tan trong nháy mắt. Bà quay lại, bảo Hỷ Nhi đưa gói quà và kể chuyện gặp


Hạnh Thảo ở phủ Long Thành.


Hằng ôm gói quà vào ngực, nghẹn ngào cúi đầu, không ngăn được dòng nước mắt.


- Chị Hạnh Thảo ơi…


Ngô Thị Chính thấy vậy cũng xúc động, vội quay đi, bước ra phía cổng. Các thị tỳ đi theo. Được chừng bốn năm bước, bỗng bà quay lại.


- Này con…


- Dạ, bẩm lệnh bà…


- Con ở đây chỉ côi cút một mình, hay là ta đưa con vào cung.


Hằng hoảng hốt.


- Vào cung? Vào cung ạ?


Ngô Thị Chính hiểu ý Hằng:


- Con đừng sợ, trong cung cũng có những nữ quan vào để làm việc chứ không phải ai vào đó cũng đều là thê thiếp của nhà vua đâu! Con chỉ vào ít lâu với ta cho vui, khi nào cha con trở lại thì ta cho con về, đừng ngại!


Hằng ngẫm nghĩ:


- Con tạ ơn bà có lòng thương con. Nhưng… xin bà cho con suy nghĩ thêm một chút.


Ngô Thị Chính gật đầu:


- Được rồi, con cứ suy nghĩ đi. Thôi, ta phải về kẻo muộn lắm rồi.


Đêm trong phủ, Hằng một mình nằm thao thức. Đêm nào cũng vậy, cô không dám ngủ


sâu. Thỉnh thoảng nghe chim rúc hay có tiếng động đâu đó, cô lại giật bắn mình, lo lắng.


Bỗng trong đêm vắng có tiếng bước chân đều đều vang lên.


Hằng nằm im nín thít, áp tai nghe. Tiếng chân im một lúc rồi lại vang lên, nhịp nhàng, có


vẻ như có ai đó đang đi quanh ngoài bờ rào.


Hằng ngồi dậy, thắp thêm cây đèn, bưng ra ngoài nhìn quanh.


Theo tiếng chân, cô đi dần ra phía trước.


122


Một bóng đen đang đứng lù lù trước cổng.


Sợ quá, Hằng bưng đèn chạy ngược vào trong.


Có tiếng người gọi:


- Hằng! Hằng! Đừng sợ!


Ánh trăng vừa chui ra khỏi đám mây, lộ rõ khuôn mặt của Trương Đăng Quế.


Hằng hoàn hồn, đưa tay lên ngực, cố chặn hơi thở:


- Anh Quế, sao anh lại ở đây?


- Tiểu thư ở một mình, tôi lo lắm! Tối nào tôi cũng đến đây canh chừng. Có động tĩnh gì,


tiểu thư cứ gọi một tiếng là có tôi ngay.


Hằng cảm động.


- Anh tốt với em quá! Nhưng mà như vậy không được đâu, bất tiện lắm. Anh đừng đến nữa. Mặc em.


Đăng Quế xua tay:


- Tôi chỉ đứng canh ngoài cửa thôi mà, có gì mà bất tiện.


Hằng kiên quyết:


- Không được đâu anh ạ, lỡ có ai thấy anh ban đêm ở đây, người ta lại nghi oan thì khổ cho em, khổ cho anh. Anh về đi.


Đăng Quế lắc đầu:


- Tôi không sao yên bụng được Hằng à!


Hằng thở dài.


- Em sẽ có cách, anh cứ yên lòng. Thôi, anh đi đi!


Đăng Quế đành nghe theo, nhưng đi chừng chục bước, lại dừng lại, băn khoăn.


Hằng bưng đèn trở vào. Một lát nhìn lui, thấy Quế vẫn đứng đó. Cô khoát tay, dậm chân, ý cương quyết bảo Quế đi đi.


Hơn mười ngày sau, trước cửa Chương Đức, có hai cô gái xuống võng đi vào. Cổng này khá lớn, sơn son thếp vàng, nằm phía bên hữu, vốn là cổng riêng cho phụ nữ ra vào hoàng cung.


Lính Dực Chấn chặn lại, xét hỏi. Một trong hai cô gái chìa ra hai tấm thẻ bằng xương có khắc


chữ “Nhập nội”.


Lính gác lay hoay xem thẻ.


- Chị là cung nữ ở cung Tiệp dư, còn cô này thì sao?


Cung nữ bảo:


- Đây là khách đặc biệt của Tiệp dư, bác quyền không thấy hai chữ “Đặc cách” khắc trên


thẻ sao.


Lính giữ cổng vội vàng khoát tay ra hiệu cho qua.


Lần đầu tiên bước chân vào cung vàng điện ngọc, Hằng nhìn quanh, bỡ ngỡ. Thị nữ mang hộ tay nải, đưa nàng vào cung thất của Ngô Tiệp dư. Hằng thong thả bước lên thềm cung, vừa đi vừa đưa tay khép giữ tà áo.


Hoàng tử Miên Hoằng từ trong đi ra, cậu quay đầu nhìn chăm chăm, rồi hỏi thái giám


theo hầu.


- Ai vậy?


123


Thái giám tủm tỉm cười:


- Nghe đâu đó là con gái họ Phạm, Tiệp dư đem vào cung để phụ giúp chăm lo lớp học ở


điện Văn Minh.


Miên Hoằng sáng mắt lên, hai tay vỗ đánh bốp.


- Vậy hả? Thế thì còn gì bằng?


Thái giám gật đầu:


- Từ nay, hoàng tử hết kêu ca chán học nhé!


***


Hôm sau, Miên Hoằng đến điện Văn Minh sớm hơn mọi ngày. Các hoàng tử lục tục đến lớp. Miên Hoằng là người ăn mặc đẹp nhất, đặc biệt có đến hai thái giám đi theo cầm sách và hầu quạt.


Trương Đăng Quế bước vào. Các hoàng tử đều lễ phép đứng dậy vái chào.


- Chúng con xin ra mắt sư phó!


Đăng Quế gật đầu:


- Xin các hoàng tử hãy ngồi xuống. Hôm nay các hoàng tử nhỏ sẽ tập viết lối chữ chân.


Còn các hoàng tử lớn sẽ học tiếp Kinh Thi.


Miên Hoằng vừa giở sách ra đọc, vừa chốc chốc liếc mắt ra hành lang.


Trương Đăng Quế thấy vậy, gọi:


- Hoàng ngũ tử! Ý nghĩa của nhan đề bài Quan thư là gì. Hoàng tử hãy nhắc lại cho các


anh em cùng nghe.


Miên Hoằng giật bắn mình.


- Quan thư là... là…


Trương Đăng Quế nghiêm mặt:


- Là gì?


Miên Hoằng gãi tai. Đăng Quế lừ mắt:


- Có học bài không? Hoàng tử hãy đọc lại bài thơ thử xem!


Miên Hoằng bắt đầu trấn tĩnh lại.


- Dạ, con xin đọc:


Quan quan thư cưu


Tại hà chi châu


Yểu điệu thục nữ,


Quân tử hảo cầu.


Đăng Quế gật đầu:


- Cũng còn khá, không đến nỗi quên hết. Quan thư nghĩa đen là tiếng chim kêu cúc cu, đấy là nhan đề bài hát giao duyên được ghi lại trong Kinh Thi. Theo Khổng Tử thì đó là bài ca về nàng Thái Tỷ, vợ vua Văn Vương nhà Chu. Khi nàng Thái Tỷ mới vào cung, vẻ mặt đoan trang, phong thái nhàn nhã nên người ta làm bài này để ca ngợi…


124


Ngoài hành lang, Hằng cùng với hai cung nữ đi đến, đem theo trà bánh.


Từ trong lớp, Đăng Quế nhìn thấy Hằng. Anh ngạc nhiên quá, đang giảng bài chợt im bặt.


Miên Hoằng nghe nói đến mỹ nhân thì thích lắm, hỏi ngay:


- Thưa sư phó, nàng Thái Tỷ ngày xưa đẹp như thế nào ạ?


Đăng Quế mải nhìn ra hành lang, mặt sững sờ, không nghe câu hỏi.


Miên Tông cũng đã thấy Hằng, cậu ngạc nhiên vì khuôn mặt, dáng người sao quen thế.


Cố nhớ lại, một lúc sau Tông bật ra một tiếng “À”, hình ảnh cô thiếu nữ thả đèn trong đêm hoa


đăng vụt hiện ra…


Giờ giải lao, Hằng ngồi nghiêm nghị trên một chiếc ghế trong hành lang. Hai cung nữ


dọn trà bánh. Các hoàng tử vừa dùng trà vừa nhìn lén Hằng.


Trương Đăng Quế lại gần.


- Tiểu thư! Đâu ngờ gặp tiểu thư ở đây! Sao tiểu thư lại vào cung?


Hằng kể lại chuyện Tiệp dư đến thăm rồi ngỏ ý cho vào đây tạm nương náu chờ cha về.


“Vào đây bỡ ngỡ, lạ cảnh lạ người, may gặp anh, em mừng quá.”


Đăng Quế cũng mừng:


- Được vậy tôi cũng yên tâm phần nào. Tiểu thư vào đây, có gì khó khăn đã có tôi.


Miên Tông đi ngang qua, tủm tỉm cười. Hằng chợt nhìn thấy, cô tròn mắt ngạc nhiên, hỏi


Đăng Quế:


- Cái cậu kia là con nhà buôn ở cửa Đông, sao lại được vào cung học với các hoàng tử?


Đăng Quế nhíu mày:


- Đâu? Làm gì có ai bên ngoài vào đây?


Hằng chỉ vào Miên Tông lúc ấy đã xuống đứng dưới sân.


Đăng Quế nhìn theo:


- Ồ, tiểu thư lầm rồi, đó là hoàng trưởng tử đó!


Hằng ngẩn người:


- Hoàng trưởng tử? Con đầu của vua?


- Đúng vậy, hoàng trưởng tử Miên Tông, con trai đầu lòng của đương kim hoàng đế.


Một cung nữ đến bên Hằng, nhắc:


- Tiểu thư, đã đến giờ vào học lại rồi đó.


Hằng vội đứng dậy, lấy cái dùi nhỏ gõ vào chiếc khánh bằng đồng đặt trên bàn.


Lớp học lại nghiêm túc. Tiếng Đăng Quế vang lên:


- Hoàng trưởng tử đã soạn xong bài diễn nôm thơ Quan thư, các hoàng tử khác hãy lắng


nghe.


Miên Tông đứng dậy, đọc.


Chim cưu kêu tiếng líu lo,


Cùng nhau âu yếm trên bờ Hà giang.


Có người con gái dịu dàng,


Khiến lòng quân tử mơ màng sánh đôi.


125


Các hoàng tử khác đều xuýt xoa khen. Miên Tông khoái chí, liếc ra ngoài, ý xem Hằng


có nghe thấy không.


Nhưng Hằng đã cùng hai cung nữ quay lưng đi xa dần.


Chương 22


Vò rượu Minh Mạng


Việc Hằng vào nương náu trong cung, Phạm Đăng Hưng ở xa nên không biết.


Lòng ông vẫn thấp thỏm thương con, tội nghiệp đứa con gái nhỏ bé lủi thủi vào ra một mình. Vào xứ Quảng xa xôi, trông coi một kho thóc, cái chức nhỏ nhoi này đâu cho ông đủ phương tiện để đem con gái theo. Đăng Hưng tâm niệm: Dù ở chức vụ khiêm tốn, cũng hết lòngvới bổn phận, mong sao có ngày được trở về sống gần đứa con gái thân yêu.


Hôm ấy kho gạo tỉnh Quảng Nam đang vào đợt kiểm kê. Phạm Đăng Hưng tất bật đi lui đi tới trong kho. Thủ Hoạt, một viên chức dưới quyền chạy theo sau ông. Đăng Hưng bảo y:


- Số thóc dự trữ mùa trước đã vào sổ sách, nằm ở phía này, dành để cung cấp cho quân lính. Sắp tới có quân triều đi dẹp giặc sẽ ghé ngang đây nhận lương, chú phải lo cho sẵn, nội trong ba hôm họ sẽ đến chở đi.


Thủ Hoạt thân hình béo tròn, lạch bạch chạy theo, dạ dạ liên tục.


- Còn một phần ba số bồ thóc nằm trong góc phía đông là để dành cứu đói. Năm nay Quảng Nam mất mùa, ta đã xin triều đình phát chẩn cứu tế cho dân, hoàng thượng đã chuẩn y rồi. Vậy nên số thóc đó phải để y nguyên không được xuất kho. - Đăng Hưng căn dặn.


Bỗng lính canh vào báo:


- Bẩm quan, có khách.


Đăng Hưng quay ra. Thật không ngờ, đấy là Tả quân Lê Văn Duyệt!


Lê Văn Duyệt mặc đồ tướng soái, nai nịt gọn gàng.


- Ta đây. Lâu ngày mới gặp, cố nhân có khỏe không?


Đăng Hưng chưa hết bàng hoàng:


- Tạ ơn Đức ông! Đăng Hưng vẫn khỏe, vẫn làm việc hết sức mình, như Đức ông đang thấy đây!


Lê Văn Duyệt cười khà khà:


- Cố mệnh đại thần đi coi kho gạo, vậy mà vẫn vui vẻ thế này. - Tả quân ngắm nghía một lúc: - Trông có phần hơi nhếch nhác đó, nhưng thần thái ông thảnh thơi, thế là tốt rồi! Có khi vậy còn khá hơn ta đó!


Đăng Hưng cũng cười:


- Đăng Hưng chẳng có việc gì lại không thảnh thơi. Trước kia làm bộ Lễ, lo toàn việc lớn của hoàng cung, tác động đến cả hoàng đế, hoàng phi. Nay coi kho gạo, lo miếng ăn từ anh lính ngoài sa trường đến thằng dân đói trong hang cùng ngõ hẻm. Cũng là việc nước cả, đâu có việc nào kém quan trọng hơn việc nào đâu?


126


Lê Văn Duyệt vỗ vai Hưng:


- Hà hà, đúng là khẩu khí Phạm Đăng Hưng! Ta lúc nào cũng thích nói chuyện với ông!


- Còn Đức ông, sao lại có dịp vào đây mà ghé thăm Hưng?


- Triều đình cử ta đi dẹp loạn ở Quảng Ngãi. Cái đám giặc Đá Vách đó, mấy lần dẹp yên rồi mà cứ quay đi là chúng lại nổi lên.


Đăng Hưng thắc mắc:


- Triều đình không có tướng trẻ hay sao mà nguyên lão đại thần phải xuất chinh? Cất


quân gặp lúc đang nạn đói, chuyến này Đức ông sẽ vất vả nhiều đó!


Lê Văn Duyệt gật đầu, mặt đanh lại:


- Ta biết. Nhưng loạn nổi lên là phải dẹp ngay, đâu có chờ hết đói được. Vả lại, nếu vì khó quá mà ta bị giặc Đá Vách nó thịt mất, chắc thái hậu cũng hả dạ lắm đó. Còn hoàng thượng thì sẽ đỡ một gánh nặng, vì từ nay những lúc bàn việc nước sẽ chẳng còn ai khôn ai giỏi hơn hoàng thượng nữa.


Phạm Đăng Hưng nghiêm mặt:


- Đức ông sắp ra quân, không nên nói đùa chuyện gở. Vả lại theo Hưng nhận xét thì hoàng thượng tuy nghiêm khắc nhưng cũng rất công bằng, người không nhỏ nhặt đâu. Đăng Hưng cũng xin nhắc Đức ông: khôn hơn vua, tài hơn vua chính là cái họa lớn nhất từ cổ chí kim, xin Đức ông hãy thận trọng!


Lê Văn Duyệt cười chua chát:


- Ta biết, ta biết! Cảm ơn Đăng Hưng nhắc nhở. Thôi, ta sắp phải đi rồi, Đăng Hưng có gì


dặn dò ta nữa không?


Đăng Hưng ngẫm nghĩ rồi thưa:


- Nay đang nạn đói mà động binh, nếu cứu đủ dân đói thì binh lương không đủ, mà cấp cho đủ binh lương thì dân chắc chắn sẽ chết đói đầy đường. Tình thế nan giải ấy, Hưng nói qua chắc Đức ông cũng hiểu. Nhưng người Đá Vách vốn không phải hung dữ, chỉ vì bị hiếp bức quá


nên mới nổi lên. Trương Đăng Quế biết rành tình hình trên miền núi, thường kể rằng tên quan Lê


Quốc Huy nổi tiếng tàn độc, ăn mòn của dân đến tận khố. Đức ông đi chuyến này, chỉ cần trị bọn


tham quan thì không đánh cũng thắng, khỏi tốn binh lương khí giới, quân sĩ cũng được sớm về nhà. Như vậy là phúc đức cho dân lắm đó.


Lê Văn Duyệt cầm tay người bạn tri kỷ:


- Đa tạ lời nói tâm huyết của Đăng Hưng. Ta đi đây.


Vị tướng già nhanh nhẹn thót lên ngựa. Sau lưng ông là đoàn quân rầm rập lên đường.


Phạm Đăng Hưng bùi ngùi nhìn theo.


***


Trong viện Đoan Trang, Ngô Thị Chính đang trông cho hai thị nữ nấu nướng.


Tay cầm tờ giấy của Hạnh Thảo, Ngô Thị Chính lẩm nhẩm:


- Thương chồng nấu cháo le le, Nấu canh bông lý, nấu chè hạt sen. Đâu, các em nấu ra


sao…


127


Khánh Nhi múc cháo ra chén sứ Giang Tây, hai tay dâng lên:


- Bẩm bà, đây ạ! Con nấu cẩn thận lắm, đây là cháo le le, xin bà nếm thử.


Ngô Thị Chính nếm, gật đầu hài lòng. Theo lời Hạnh Thảo thì món ăn này bổ dưỡng lắm. Thịt le le đại bổ, tính nóng nên phải cho nhiều đậu xanh để quân bình âm dương...- Còn món canh bông lý?


- Bẩm bà, canh bông lý nấu với nạc tôm, con hái hoa buổi sáng sớm đang còn thơm lừng đây! - Hỷ Nhi thưa.


Ngô Thị Chính cảm thấy yên lòng phần nào. Trong chỉ dẫn của Hạnh Thảo có ghi: Cháo le le, canh bông lý và chè hạt sen được mệnh danh là Tam bổ đại trượng phu, chẳng những ngon tuyệt mà còn đặc biệt tốt cho nam giới trong chốn khuê phòng. Lại còn thứ rượu xuân dược đặc biệt nữa, thứ rượu đó mới là quý nhất…


Thấy chủ nhân lo lắng hỏi thăm, Khánh Nhi chỉ tay vào chiếc vò bằng gốm da lươn để trên nền nhà:


- Dạ, con đã ngâm rồi, theo chỉ dẫn con đặt dưới sàn để lấy khí mát của đất. Tất cả


là 60 vị thuốc theo đúng cân lượng. Chỉ chừng nửa tháng sau là dùng được rồi đó.


Ngô Thị Chính băn khoăn:


- Đến nửa tháng sau mới dùng được à?


- Dạ, thì cũng phải đến chừng ấy họa chăng hoàng thượng mới giá lâm đến đây.


Hoàng thượng mới nạp người mới mà, ít nhất cũng phải sủng ái nửa tháng sau mới chán.


Ngô Thị Chính bất giác cúi mặt, không giấu được vẻ buồn tủi.


Hỷ Nhi thấy vậy, an ủi:


- Bà đừng buồn, trên đời này bệnh gì cũng có thuốc chữa mà. Bệnh háo sắc thì đã có mỹ tửu này trị lại, lo gì. À, mà thứ rượu này có một không hai, mình phải đặt tên cho nó bà ạ!


Ngô Thị Chính gượng vui.


- Rượu này ta chế ra chỉ để dâng hoàng thượng, vậy tức là rượu của hoàng đế.


Năm nay là năm Minh Mạng thứ ba, ta gọi tên rượu là Minh Mạng thang nhé?


Hai cung nữ gật đầu tán thưởng:


- Dạ đúng rồi. Minh Mạng thang, thứ rượu đặc biệt này nhất định chỉ riêng cung phòng mình biết với nhau thôi.


Ngô Thị Chính cảm thấy lòng nhẹ đi phần nào. Khánh Nhi và Hỷ Nhi là hai nữ tỳ đã theo nàng từ khi còn là tiểu thư nhà họ Ngô. Hồi đó cha đang bị tội, nhà đang nghèo…


Hai thị nữ này đã từng đồng cam cộng khổ với nàng, nay phú quý cùng hưởng. Khánh Nhi và Hỷ Nhi lúc nào cũng hết lòng hết dạ sống chết với nàng, có thể chia sẻ những bí mật không dám thổ lộ cùng ai, ngay cả những người thân thích nhất.


Đúng như Khánh Nhi dự đoán, hoàng đế Minh Mạng vẫn còn say người mới. Lúc thư thả việc triều chính, ngài không về viện Đoan Trang mà thường thường ngự ra hồ Tịnh Tâm, có đình lục giác ngay giữa hồ. Buổi trưa, vua thích nằm nghỉ trong nhà thủy tạ; Đang mùa sen nở, gió hiu hiu mát đưa mùi thơm tinh khiết của loài sen bách diệp, giống sen đặc biệt ở hồ này.


128


Cung nữ chầu hầu quanh sập rồng vua nằm. Một cô quạt, một cô hát nho nhỏ, hai cô khác quỳ túc trực ở góc đình, bên chiếc án nhỏ với mâm trà bánh sắp sẵn. Một cô ngồi đàn tranh khe


khẽ ở trên bậc thềm.


Quý nhân Nguyễn Thị Bảo, trong chiếc áo lụa đỏ thắm mềm mại, đang đứng dựa vào lan can, vui thích ngắm hoa sen. Tiếng chim hót từ những lùm cây xa xa, tỏa lan trên mặt nước.


Nguyễn Thị Bảo vừa nhìn hoa vừa khe khẽ ngâm thơ. Đang ngủ, vua Minh Mạng chợt hé mắt.


- Ái khanh! Ái khanh đâu rồi?


Cung nữ vội gọi:


- Quý nhân, quý nhân, hoàng thượng dậy rồi!


Nguyễn Thị Bảo chạy lại, nhí nhảnh:


- Dạ, chắc hoàng thượng nằm mơ nhiều mộng đẹp, quên cả thiếp rồi!


Vua Minh Mạng vẫn còn ngái ngủ:


- Lại đây!


Nguyễn Thị Bảo nhích tới gần. Vua Minh Mạng kéo nàng nằm xuống bên cạnh, khoác tay lên người nàng, tiếp tục ngủ.


Bảo không ngủ. Tính thích tự do nên nằm bất động dưới cánh tay vua, nàng thấy khó chịu, nhưng phải cố gắng nằm im không dám nhúc nhích.


Cung nữ ngồi bên sập tiếp tục hát nho nhỏ khúc Nam Xuân. Bảo nằm im một lúc, thấy Vua ngủ say, cô rón rén nhẹ đặt tay vua sang một bên, khe khẽ chui ra. Vua giật mình:


- Nằm im! - Thấy Bảo sợ, vua dịu giọng, dỗ dành: - Nằm đây với trẫm, đừng đi.


Bảo đành nằm xuống, im thin thít.


Hai cung nữ xa xa bên khay trà thì thầm với nhau:


- Vậy là hoàng thượng cưng người mới lắm đó, chứ bọn mình mà nhấp nhổm vậy thì chết với ngài.


- Không cưng sao được, người ta đã đẹp lại văn hay chữ tốt, đâu có phải mù chữ như chị


em mình.


Mấy tháng trời, Nguyễn Thị Bảo được chuyên sủng. Nhà vua thời gian ấy chỉ chuyên tâm có hai việc, mà việc nào ngài cũng tận tâm tận lực không thiên bên nào hơn. Đó là việc xướng


họa thi ca với nàng Quý nhân sủng ái, và việc tập trung đôn đốc công việc bên bộ Hộ. Sở dĩ


trong sáu Bộ, vua chú tâm vào bộ Hộ là vì đang có nạn đói ở miền Trung và miền Bắc, do ảnh


hưởng mấy trận lụt lớn từ mùa thu năm trước.


Nhân công việc của bộ Hộ, vua sực nhớ đến Phạm Đăng Hưng. Một hôm, vua hỏi đại


thần Tôn Thất Tịnh, vừa làm khâm sai đi kinh lý Quảng Nam về. Tôn Thất Tịnh tâu: “Đăng


Hưng làm việc ngày đêm rất mẫn cán, hết lòng tận trung với hoàng thượng.”


Nhà vua vừa ý gật đầu, nghĩ thầm: “Đăng Hưng là cố mệnh đại thần, ta đày y làm chức


quan thấp thỏi như vậy cũng là hơi quá tay. Vậy mà y không oán vọng, thật đáng khen. Để rồi


tùy cơ sẽ cho y lập công, phục chức.”


129


Chương 23


Vụ gian lận ở kho thóc


Trước kho gạo tỉnh Quảng Nam, dân đói đang tụ tập trên sân chờ phát chẩn.


Phạm Đăng Hưng đích thân trông coi việc phát gạo, ông đứng ngay trên một bồ lúa lớn


để tiện việc quan sát, đôn đốc. Nghe tiếng dân kêu nhao nhao chung quanh, Đăng Hưng hô to.


- Bắt đầu phát chẩn, cứu tế!


Dân đói ùa đến, chen lấn xô đẩy nhau, những cánh tay gầy guộc đua nhau giơ những cái bị, cái rá nhỏ ra chực hứng thóc.


Cửa kho hé mở, thủ kho đứng xúc thóc vào những cái thúng to, lính lần lượt sắp thành hàng bê thúng ra ngoài hiên.


Nhiều bàn tay thò lên chỉ chực giật phắt cả bát xúc của các viên chức phát chẩn. Một người lính phải dùng roi đánh vào tay những kẻ nôn nóng.


Đăng Hưng nói lớn:


- Bà con hãy nghe đây! Triều đình chăm lo cho dân như cha mẹ chăm lo cho con. Năm nay nạn đói nặng nề, nên hoàng thượng sai mở kho cứu tế. Nạn dân phải trật tự, lần lượt lên lãnh thóc hết người này đến người khác. Không được gây rối, ai gây rối sẽ bị mất phần!


Dân đói nghe vậy lùi lại, cùng ngồi xệp xuống đất chờ.


Họ xếp thành hàng, lần lượt lên lãnh thóc. Từ tinh mơ đến xế chiều, số gạo dành cứu đói đã phát hết sạch.


Đăng Hưng kiểm tra sổ sách, gọi viên chức lại hỏi:


- Lạ quá, đã tính đủ số cấp phát cho năm trăm dân đói, vậy mà bây giờ lại thiếu là sao?


Viên chức thưa:


- Dạ, thuộc hạ đã đếm lại, trước khi phát chẩn thấy đủ số bồ thóc ạ!


Đăng Hưng nghi hoặc:


- Nếu số bồ vẫn đủ, thì nhất định là thóc trong bồ đã có cánh bay đi bớt! Hãy mau xem lại cho ta!


- Bẩm, đã phát hết sạch gạo trong bồ, bây giờ còn xem vào đâu nữa ạ?


Ngoài cửa kho, những dân đói lãnh được thóc đã ra về. Vẫn còn khoảng hơn năm mươi người chưa có phần đang ngồi chờ, họ đều gầy giơ xương, mặt phờ phạc. Có người đói quá, lả đi, nằm dài trên đất.


Một người đói kêu rên:


- Các quan ơi, có cứu chúng tôi xin cứu nhanh đi, con tôi sắp chết rồi đây.


Đăng Hưng bảo thuộc hạ:


- Chưa tra tìm được manh mối tại sao, đành phải hẹn nạn dân ngày mai phát chẩn tiếp.


Đêm ấy Đăng Hưng không ngủ, ông cho gọi Thủ Hoạt, viên coi kho đến, bảo y cùng xem xét lại kho lẫm. Vào kho, ông băn khoăn đi lui đi tới giữa các bồ thóc, thỉnh thoảng lại đập tay vào bồ, chừng như đang suy nghĩ điều gì chưa ra.


Mấy tên lính canh đang tụm nhau đánh bạc thấy vậy, vội đứng dậy làm nhiệm vụ, không dám lơ là. Thủ Hoạt vừa đi vừa ngáp, cố can:


130


- Bẩm quan, chuyện thất thoát này thật khó hiểu, nhưng việc đã rồi, cũng khó lòng mà truy tìm. Thôi đành chịu vậy, để rồi thuộc hạ cân đối lại sổ sách, đâu sẽ vào đấy thôi mà.


Đăng Hưng xua tay, ra hiệu bảo y im đi. Ông không nói, chừng như đang cố hết sức gỡ một nút thắt nào đó trong trí não. Chợt ông vỗ trán, mắt sáng lên:


- Thôi, ta hiểu rồi!


Ngày mai lại, Đăng Hưng gọi hết các viên chức dưới quyền lại, dõng dạc:


- Các bồ lúa cho dân đói đã phát hết hôm qua, không còn dấu vết tra xét nữa. Nhưng trong kho vẫn còn các bồ lúa dành nuôi quân. Hãy khui các bồ lúa này ra xem. Nếu các bồ lúa nuôi quân đang còn niêm mà lại bị hao hụt, thì rõ là đã có người cạy niêm rút thóc rồi gắn lại.


Người đó là ai, các ông suy ra cũng rõ.


Các bồ lúa lần lượt được cậy niêm. Bồ lúa nào cũng lưng hơn phần ba. Viên chức và quân lính ai nấy đều tấm tắc:


- Quan sáng suốt lắm, quả là như vậy! Vậy thủ phạm chỉ có thể là thủ kho chứ không ai


khác!


Tất cả quay lại nhìn Thủ Hoạt.


Tên này biết không thể giấu giếm được nữa, cuống quýt:


- Dạ... Dạ... xin quan tha tội! Thuộc hạ cứ tưởng… Thuộc hạ không ngờ năm nay quan đích thân vào kho phát chẩn.


Đăng Hưng tức giận:


- Nói vậy nghĩa là ngươi đã nhiều lần cướp gạo của dân, mặc cho người ta chết đói. Bao nhiêu người chết oan vì ngươi rồi? Ăn bớt cả gạo cứu tế, gạo nuôi quân, thật chẳng khác chi ăn


thịt người! Lính đâu! Bắt nó!


Lính nghe lệnh, lôi thủ kho đi.


Thủ Hoạt kêu van:


- Xin quan nghĩ tình tha thứ. Thuộc hạ vốn là gia nhân của hoàng thân Kiến An Công


Phúc Đài, em cùng mẹ của hoàng đế!


Đăng Hưng nghe càng tức giận:


- Ngươi không khai quen biết thì còn đỡ, ngươi khai quen hoàng thân nọ công chúa kia lại càng làm ta sôi máu đây! Lính đâu, căng nó ra đánh ngay hai mươi gậy để làm gương!


Thủ Hoạt khóc rầm lên:


- Bẩm quan xin quan thương tình, thuộc hạ đang có bệnh suy nhược trong người, xin quan làm phúc!


- Bệnh gì mà mập tròn như thế, đừng có điêu với ta. Không lôi thôi gì nữa, đánh!


Lính hầu lôi thủ kho ra ngoài.


Đăng Hưng ngồi phịch xuống ghế, thở gấp vì quá giận.


Bỗng có tiếng la ó ồn ào đinh tai nhức óc ở bên ngoài. Một lính canh hơ hãi chạy vào.


- Bẩm quan, chúng con mới đánh được vài gậy thì dân đói ùa vào lôi y ra xa, đua nhau dùng gậy đá ném tới tấp! Dân đang căm thù sôi sục quá nên chúng con không dẹp nổi ạ!


Đăng Hưng giật mình:


- Có vậy sao? Mau tìm cách dẹp đi, không người ta sẽ đánh nó tới chết đó!


131


Ông chưa dứt lời thì một lính khác chạy vào, lắp bắp:


- Bẩm quan, chúng con không cứu nổi, Thủ Hoạt đã bị đánh chết rồi!


Đăng Hưng bàng hoàng, chỉ kêu lên được một tiếng “Trời ơi!”


***


Một tốp lính kéo đến trước công quán, vây quanh.


Viên đội trưởng xuống ngựa, lên thềm, hô lớn:


- Có trát của quan tỉnh Quảng Nam: Vâng lệnh triều đình, cho bắt Phạm Đăng Hưng giải về Kinh xử tội!


Đăng Hưng từ bên trong thong thả bước ra:


- Ta đây. Ta đã chuẩn bị rồi.


Nói rồi ông đưa hai tay cho lính tra gông vào.


Viên đội trưởng thấy phong thái của phạm nhân, lòng không khỏi kính nể. Y cúi đầu, vái chào:


- Hạ chức từ lâu hâm mộ nghĩa khí của quan lớn, nay bất đắc dĩ phải tuân lệnh trên, xin quan lớn tha tội mạo phạm.


Đăng Hưng ôn tồn an ủi:


- Ngươi cũng như ta, đã nhận công vụ của triều đình, ắt phải làm tròn. Làm sao ta trách ngươi được? Hãy cứ thi hành nhiệm vụ đi, đừng có băn khoăn.


Lính dẫn Đăng Hưng đi.


Viên đội trưởng ngại ngần:


- Hạ chức xin dắt ngựa theo sau, không dám đi trước quan lớn.


Đăng Hưng không chịu:


- Ai lại áp giải tù kiểu như thế? Ta nay chỉ là tội nhân, không còn là quan lớn quan bé gì nữa, ông bất tất phải ngần ngại.


Đội trưởng vẫn một mực cung kính:


- Không, mãi mãi quan lớn là vị quan mẫu mực nhất trong lòng hạ chức.


Đăng Hưng lắc đầu, nhất quyết:


- Nếu ông quả thực thương ta thì ông chịu khó nhảy lên ngựa đi trước đi, cho ta khỏi lúng túng.


Thấy Đăng Hưng cương quyết, đội trưởng đành lên ngựa, đi trước dẫn tù. Hai bên đường, dân kéo nhau ra xem, nhiều người che mặt khóc.


Đi hết hai ngày đường mới qua khỏi đèo Hải Vân. Bụi nhuốm bạc vai áo cả tù nhân lẫn quan, lính. Nhắm chừng đã qua khỏi đoạn hành trình gian nan nhất, đội trưởng ra lệnh dừng bên đường, cho lính nghỉ chân, lấy nước.


Hoàng hôn xuống dần. Nuốt xong nắm cơm nhỏ, Đăng Hưng ngồi lặng nhìn những mô đá mấp mô bên bờ biển. Mấy tên lính nấu nướng xong đã vùi bếp lửa, rủ nhau


ra một góc xa uống rượu.


Đội trưởng lại ngồi bên Đăng Hưng, hạ giọng:


132


- Hạ chức có điều này gan ruột, xin nói với quan lớn. Quan lớn đi chuyến này về Kinh, quả thật lành ít dữ nhiều. Tên thủ kho bị chết đó xuất thân là gia nhân tin cẩn của Kiến An Công


Nguyễn Phúc Đài, mà Kiến An Công là con út thái hậu, thế lực rất lớn. Nghe đâu bộ Hình đang


ghép ngài vào tội tự tiện giết người. Nếu thành án, nhẹ nhất cũng phát vãng lên miền ngược. Sức


vóc của ngài như vậy, đã bị phát vãng lưu đày thì đằng nào cũng chết.


Đội trưởng nói xong nhìn mặt Đăng Hưng, thấy ông vẫn không đổi sắc. Y thở dài, tiếp


tục:


- Nay thừa cơ mấy tên lính không để ý, hạ chức muốn mở khóa gông cho ngài, đã có sẵn thuyền nhỏ gần đây, ngài hãy trốn thoát đi. Xin ngài mau mau quyết định, kẻo không kịp.


Đăng Hưng cau mày suy nghĩ:


- Ta trốn đi? Còn ông thì ăn làm sao, nói làm sao với cấp trên?


Đội trưởng khẳng khái:


- Có gì đâu, nếu cần thì hạ chức bỏ luôn chức quan này, đi theo bảo vệ quan lớn! Chúng


ta thay tên đổi họ, giả làm khách buôn trốn vào Nam. Sau này đợi khi thời thế thay đổi sẽ quay


về.


Đăng Hưng cảm động:


- Ông đội ơi! Sao mà tôi lại may mắn gặp người coi trọng nghĩa khí như ông? Nhưng không lẽ tôi lại chịu kém ông sao?


Đội trưởng nhăn mặt:


- Làm sao lại kém ạ?


- Tôi trốn đi để lụy để khổ đến ông, thế mà tôi chịu được sao? Không được đâu! Tôi sẽ theo ông cho đến tận nhà lao Thừa Phủ. Ông đừng lo cho tôi, dù bị ghép tội gì lương tâm tôi cũng thanh thản vì tôi biết rõ là mình không có tội. Ông hãy làm ơn cất cái khóa gông cho kỹ đi!


- Quan lớn đã đành không sợ chết, nhưng lẽ nào không thương tưởng đến con. Nghe nói nay phu nhân đã mất, còn có một mình tiểu thư trên đời, quan lớn lẽ nào không mong có ngày thấy mặt con hay sao?


Đăng Hưng nghe nhắc đến con, động lòng, vẻ mặt buồn hẳn đi. Lặng đi một lúc, ông thở dài:


- Đúng. Ông nói đúng. Ta nay chỉ còn có đứa con gái thân yêu. Từ lúc ta vào Quảng, chỉ đêm ngày thiết tha mong được về thăm nó… - Đanh mặt, Đăng Hưng cương quyết: - Nhưng đến hoàn cảnh này, cũng đành phải dứt tình thôi. Ta có chết đi ắt còn trời, còn đất hiểu thấu lòng ta, sẽ phù hộ độ trì cho con ta. Chứ nay nếu ta nghịch mệnh vua mà trốn đi, để lại cái tiếng phản thần xấu xa thì con ta gánh chịu đến bao giờ cho sạch. Thôi, ta xin tạ lòng ông, nhưng tuyệt đối


đừng nói chuyện này nữa.


Đội trưởng chảy nước mắt, nhìn Đăng Hưng, không biết nói gì hơn.


Thêm hai hôm miệt mài trên đường thiên lý, đoàn áp tù mới giải phạm nhân về tới kinh đô. Phạm Đăng Hưng nhìn lại con đường ngày trước đã từng qua: ra đi là quan, trở về là thằng tù mang trọng án trên đầu. Ông nhớ tới lời Lê Văn Duyệt viết trong bức thư tiễn biệt: “Cả hai ta nay đã nằm trong tầm ngắm của thái hậu, hãy hết sức cẩn thận, chớ có coi


thường.”


133


Đăng Hưng nhếch cười chua chát. Dân gian vẫn có câu “Bôn ba không qua số phận”, dù có đề phòng đến đâu, ai ngờ được tai bay vạ gió. “Ta chỉ biết giữ tấm lòng trong trắng, còn thì mặc số mệnh trong tay Trời mà thôi!”


Chương 24


Bước qua lời thề


Việc Đăng Hưng bị giải giam vào lao Thừa Phủ chẳng hề đến tai vua, bởi lúc bấy giờ ông


chỉ là một chức quan nhỏ, bộ Hình không cần tâu lên, chỉ giao cho hạ ban lo liệu việc xét xử.


Hoàng đế Minh Mạng lại đang bận việc lớn bên bộ Binh: Lập xưởng đúc súng và đóng tàu, theo


mô hình súng và tàu của Tây dương. Công việc thu hút tâm trí ngài, đến nỗi có nhiều đêm ngài ở


lại luôn trong điện Cần Chánh, không đến thăm Quý nhân Nguyễn Thị Bảo, người đẹp đang


được yêu dấu lâu nay.


Điện Cần Chánh gần viện Đoan Trang hơn chỗ ở của Quý nhân, nên tiện thể một hôm


ngài tạt đến thăm Tiệp dư Ngô Thị Chính - người đang tạm bị sao nhãng nhưng vẫn được nhà


vua quý nể. Khỏi nói, cái tin vua sắp ngự đến làm cả viện Đoan Trang náo loạn lên. Nhất là hai ả


Khánh Nhi, Hỷ Nhi, ba chân bốn cẳng chạy đi chạy lại, lật đật chuẩn bị các món ăn lâu nay đã


tập dượt hàng chục lần.


Quá giờ Tuất hoàng đế mới đến, ham việc quá nên đã muộn như vậy mà ngài vẫn chưa


dùng một chút ngự thiện nào. Ngô Thị Chính quỳ nghênh tiếp.


- Thần thiếp xin nghênh đón hoàng thượng!


Vua Minh Mạng ân cần:


- Đứng dậy đi. Lâu nay không gặp, ái khanh xem chừng có gầy đi vài phần. Nàng có đau


ốm gì chăng?


Ngô Thị Chính rơm rớm nước mắt, cố mỉm cười.


- Thần thiếp có ốm đau gì đâu, chỉ vì lâu nay không được thấy hoàng thượng, trong lòng


thương nhớ thành ra biếng ăn mất ngủ đó thôi.


Vua Minh Mạng vừa ý cả cười, nâng mặt Chính lên, thân mật.


- Vậy ư? Nàng có lòng trung với trẫm như thế, trẫm rất vui lòng! Nàng phải biết trẫm bận


rộn việc nước rất nặng nề, khi vào hậu cung lại phải chiếu cố ban ơn khắp các cung phòng. Ơn


mưa móc phải công bình mới khỏi lời ra tiếng vào than oán. Bận gì thì bận, trẫm vẫn không quên


nàng đâu, hôm nay trẫm đã đến đây nàng phải thật vui mới được!


Ngô Thị Chính dịu dàng:


- Dạ. Hoàng thượng như mặt trời, soi đến đâu thì ấm áp sáng láng đến đó. Thiếp chỉ mong cung phòng này lúc nào cũng vui cũng sáng như ngày hôm nay!


Hai cung nữ thân tín của Ngô Thị Chính dâng thức ăn “Tam bổ đại trượng phu” và rượu


Minh Mạng thang. Vua đang đói, được dâng thức ăn vừa lạ vừa ngon, ngài cảm thấy vô cùng đặc


biệt. Vừa yến ẩm, vua vừa gật gù.


- Hay quá! Ái khanh vừa thay đầu bếp mới hay sao? Đáng khen lắm!


Ngô Thị Chính nhỏ nhẹ:


134


- Tâu, đâu có! Có đầu bếp nào đâu. Chỉ vì thần thiếp mong mỏi cho hoàng thượng được


vừa miệng, nên đã tìm tòi, tập tành làm món lạ đó thôi.


Vua Minh Mạng càng hài lòng:


- Nàng quả là người vợ hiền thục tận tụy nhất của trẫm! Trẫm nhất định sẽ ban thưởng


cho nàng.


Hớp một ngụm rượu, vua phán:


- Chà, cái thứ rượu này mới thật là tuyệt! Uống vào mấy chén mà trẫm thấy lâng lâng như


đang bước vào cõi thiên thai. Ái khanh hãy ngồi xích lại đây, uống với trẫm cho vui nào.


Với tay, nhà vua kéo Ngô Thị Chính dựa sát vai mình. Chính sung sướng ngả đầu vào


lòng vua, tay bưng chén rượu dâng tận miệng vua.


Hai thị nữ đưa mắt nhìn nhau, chẳng ai bảo ai cùng lùi xa ra ngoài tấm màn.


Chỉ còn tiếng cười đùa âu yếm lả lơi vang ra.


Sáng mai, vua tỉnh dậy, cảm thấy trong người minh mẫn, sảng khoái lạ thường. Ngô Thị


Chính nằm cạnh vua, vẫn còn say ngủ.


Vua gọi:


- Người đâu?


Ngô Thị Chính mở mắt, vội ngồi dậy, khép lại vạt áo:


- Khánh Nhi, Hỷ Nhi!


Hai cung nữ chờ sẵn ngoài thềm, vội chạy lên:


- Dạ bẩm bà, chúng con đã sẵn sàng.


Bên ngoài màn, chậu nước, khăn và trà bánh đã để sẵn.


Vua Minh Mạng bước ra, Khánh Nhi nhúng khăn, Ngô Thị Chính đỡ lấy tự tay lau mặt


cho nhà vua. Hỷ Nhi đưa áo, Chính cẩn thận khoác lên mình vua.


Vua Minh Mạng thần sắc vui vẻ, kề tai Chính, hạ giọng:


- Ái khanh à, thứ rượu của nàng quả thật là thần kỳ đó! Đêm qua thật là một đêm nhất dạ


thần tiên!


Ngô Thị Chính sung sướng đến nỗi không nói nên lời, chỉ biết nũng nịu dụi đầu vào ngực


nhà vua.


- E hèm… Ngày mai trẫm có một tiệc nhỏ ở bên Tây viện của Nguyễn quý nhân, nàng


hãy cho cung nữ đưa một bình rượu này sang đó cho trẫm dùng.


Ngô Thị Chính đang bay bổng trên chín tầng mây bỗng hụt hẫng, chới với:


- Dạ… Dạ…


Cung nữ Khánh Nhi vội đỡ lời:


- Tâu hoàng thượng, rượu này quý hiếm lắm, do người đạo sĩ trên núi chế ra, mỗi lần chỉ chắt được có mấy chén đó thôi ạ. Hoàng thượng đã thích thì chúng con sẽ cho người lên núi tìm, khi nào có sẽ xin dâng.


Vua Minh Mạng hứ một tiếng:


- Hm… Thật khó khăn vậy sao?


Hỷ Nhi nói chắc như đinh đóng cột:


- Dạ đúng vậy ạ, xin hoàng thượng chờ cho ít lâu ạ.


135


Vua bước ra ngoài. Hai thái giám túc trực sẵn hai bên cửa vội bươn bả bước theo. Ngô Thị Chính đứng ngơ ngẩn nhìn.


Hỷ Nhi và Khánh Nhi bước tới gần. Ngô Thị Chính lo âu:


- Em dám nói dối với hoàng thượng như vậy, lỡ ra ngài biết thì chết cả đám.


Hỷ Nhi gần như gắt lên:


- Bà thật thà quá, thứ rượu này là bí quyết của riêng bà, có chết cũng không dâng cho


địch thủ nó dùng.


Chính vẫn chưa hết e ngại:


- Nhưng em nói sẽ lên núi tìm, khi có sẽ dâng. Thì trước sau cũng phải dâng thôi?


Khánh Nhi kề tai:


- Em cứ hoãn binh cho bà đã, đến lúc đó sẽ kiếm cớ khác. Vả lại hoàng thượng tuy bảo vậy, nhưng nếu mình cứ lờ đi, ngài cũng chẳng nhắc lại đâu. Ngài là thiên tử, có đanh thép là đanh thép việc lớn kia, chứ vô lẽ lại lằng nhằng nhắc lui nhắc tới chuyện một be rượu.


Ngô Thị Chính nghe có lý, thở phào gật đầu:


- Ừ, em nói phải đó. Hóa ra có lắm chuyện tớ lại khôn hơn cả thầy!


***


Đêm đã khuya. Trong lao Thừa Phủ, Phạm Đăng Hưng ngồi trên ổ rơm, lưng dựa vào tường vôi loang lổ. Tay ông cầm cuốn sách. Ngục tối âm u, ông cố ghé trang sách vào dưới cây


đuốc đang tàn.


Vài khắc sau, ngọn đuốc lụi, lửa tắt.


Đăng Hưng cố xoay sở tìm chút ánh sáng. Có tiếng chân đều đều tiến lại gần.


Đăng Hưng đánh tiếng:


- Bác Quản ơi, làm ơn cho tôi xin chút lửa.


Quản ngục chao chát:


- Lửa à? Ông xin lửa làm chi? Giờ ni ông muốn đốt nhà ngục hay răng mà cần lửa.


- Tôi không ngủ được, xin bác châm cho tôi chút lửa để đọc sách.


Quản ngục cất tiếng cười:


- Hô hô, đã vô đây mà còn đọc sách chi nữa? Sách có dạy cách chi bay ra khỏi tù không?


Thấy quản ngục đùa cợt, Đăng Hưng cũng trào lộng:


- Đức Khổng dạy: “Người quân tử ba ngày không đọc sách, soi gương thấy mặt mũi khó


coi.” Tôi bị giải từ trong Quảng ra, dãi dầu nắng gió đã khó coi sẵn rồi, nay chú còn không cho


tôi đọc sách, tôi lo cho cái mặt xấu xí của tôi quá.


Quản ngục đổi giọng, hét:


- Đức Khổng là cái lão nào mà nói lăng nhăng như vậy. Ông nghe đây, đã vô đây rồi thì


cơm nước lửa đèn chi cũng có định mức cả rồi, muốn có thêm cái chi thì phải biết điều mới


được.


Đăng Hưng nghiêm mặt.


136


- Ta cũng hiểu ông nói gì rồi đó, nhưng cả đời ta làm quan chưa biết hai chữ biết điều ấy,


thôi đành chịu vậy.


Bên ngoài cửa tù, một bóng đen trùm kín mặt đang bước đến gần lính canh. Tên lính dậm


dọa:


- Ta đã nói rồi, tù chưa xử, không ai vô thăm được hết. Nói mãi không nghe, có muốn ta


bắt nhốt luôn không?


Bóng đen không nói gì, dúi vào tay người lính một nén bạc to.


Người lính vẫn lắc đầu, tay chỉ vào quản ngục ở phía trong.


Bóng đen lại dúi thêm một nén nữa.


“Thôi được… Thôi được.” Tên lính canh thôi gắt gỏng, ra hiệu cho bóng đen đi theo


mình. Vào gặp quản ngục, lính canh dúi bạc vào tay y.


Quản ngục nhét bạc vào cạp quần, vui vẻ thắp lại cây đuốc.


- Phạm Đăng Hưng, mau hãy ra đây, có người đến thăm.


Dứt lời Quản ngục bỏ ra ngoài.


Bóng đen bỏ khăn che mặt xuống. Đó chính là Hạnh Thảo.


Đăng Hưng bất ngờ quá, kêu lên:


- Hạnh Thảo!


Hạnh Thảo mừng tủi: “Dạ, thiếp đây.”


Lặng đi một lúc, Đăng Hưng mới nói được:


- Đã lâu không thấy nàng… Nay không ngờ lại gặp trong hoàn cảnh này.


Hạnh Thảo cúi đầu:


- Khi vào phủ công chúa, thiếp đã thề đến chết không quay về phủ. Nhưng nghe tin quan


lớn gặp nạn, thiếp không nén lòng được đành phải bỏ lời thề.


Đăng Hưng cảm động:


- Đa tạ lòng nàng. Nàng không sợ phạm lời thề độc sẽ bị chết ư?


Hạnh Thảo mỉm cười, nhìn Đăng Hưng, lắc đầu. Đăng Hưng cũng mỉm cười. Trong giây


lát cả hai dường như quên hẳn cảnh tù ngục chung quanh. Hạnh Thảo đưa hay tay nắm lấy song


sắt, Đăng Hưng cũng đưa hai tay nắm lấy tay nàng:


- Ta nay là phạm nhân, mang tội giết người, nàng không ghét ta ư?


- Thiếp không bao giờ tin là quan lớn giết người. Không bao giờ. Dù có ai bảo quan lớn


là kẻ đại gian đại ác đi nữa, thiếp cũng biết ngay là dối trá. Thiếp tin, trước sau rồi ngài sẽ được


minh oan.


Đăng Hưng lắc đầu.


- Cũng không chắc đâu nàng ơi! Đúng là vậy đó, trước sau rồi lẽ phải cũng sẽ bày tỏ rõ


ràng. Nhưng có thể đến lúc phải trái rõ ràng thì người bị oan đã chết tiêu ra tro rồi!


Hạnh Thảo ứa nước mắt:


- Quan lớn đừng nản lòng. Thiếp cùng công chúa đang cố nghĩ làm sao gỡ tội cho quan


lớn, nhưng chưa biết tính cách nào giúp được đây.


Đăng Hưng khẽ vỗ vai Hạnh Thảo, an ủi:


- Có, có chuyện này nàng có thể giúp ta, ta cần nàng giúp lắm!


137


- Việc gì xin quan cứ nói, dù có tan xương nát thịt thiếp cũng làm cho được.


Đăng Hưng gượng cười:


- Ấy ấy, ấy chớ, sao lại tính đến chuyện tan xương nát thịt làm gì, ta đâu có để cho nàng


làm chuyện nguy hiểm như vậy được. Đây, ta chỉ nhờ nàng việc này: Nàng làm sao thương yêu


chăm sóc con Hằng giúp ta. Ta để nó ở một mình trong phủ, cứ nghĩ tới là thấy lo âu lắm…


- Tưởng chuyện gì, chứ chuyện ấy xin quan lớn yên tâm. Hằng nay đã được Ngô Tiệp dư


đón vào cung rồi.


Đăng Hưng giật mình:


- Trời ơi! Sao lại vào cung? Chết tôi rồi, có chuyện đó sao?


- Dạ, đúng vậy, nhưng đâu có sao? Ở trong đó an toàn lắm!


Đăng Hưng dậm chân:


- Nàng ơi, trong cung chính là chỗ thiếu an toàn nhất! Ta xưa nay sợ nhất là phải đưa con


vào cung sống cuộc đời phi tử, chầu vua chực chúa lo lắng tủi hổ lắm chứ sung sướng cái gì?


Trời ơi, con ta bị đưa vào cung nào, viện nào, dâng cho ai rồi?


Hạnh Thảo lật đật trấn an:


- Xin quan trấn tĩnh lại, em Hằng được Ngô Tiệp dư đưa vào cung làm nữ quan phụ trách


lớp học hoàng gia, chứ không phải làm cung tần mỹ nữ đâu mà!


Đăng Hưng thở phào, đỡ lo:


- Vậy à? Vậy thì còn tạm được. Nhưng ta vẫn ngại lắm. À, ta dặn nàng, đừng cho con


Hằng biết việc ta bị tù ở đây. Nó mà biết thì nó không chịu nổi đâu!


Nghe tiếng trống canh tư điểm, Hạnh Thảo biết không còn nhiều thời gian nữa, vội lúi


húi lấy mấy gói đồ trong giỏ ra, nhét qua song sắt:


- Dạ, thiếp xin vâng.


Đăng Hưng vẫn chưa yên tâm:


- Nhớ cho kỹ đó, nhất định nàng không được nói với nó.


Hạnh Thảo lẳng lặng mở chiếc liễn đựng cháo, tay cầm thìa gỗ, múc từng muỗng đút cho


Đăng Hưng qua song sắt.


- Xin quan hãy ráng dùng một chút lấy sức.


Đăng Hưng nuốt ngụm cháo, mùi vị thơm ngon lan tỏa trong chiếc dạ dày lâu nay chỉ


biết có cơm hẩm với mắm khô. Cầm bàn tay Hạnh Thảo, Đăng Hưng bùi ngùi:


- Tạ ơn nàng. Ơn này, tình này, chắc kiếp sau ta mới đền được.


Hạnh Thảo nghẹn ngào chưa nói được thì lính canh đã xuất hiện:


- Hết giờ thăm rồi, thôi mau lui ra!


Đăng Hưng đứng chôn chân nhìn theo Hạnh Thảo lủi thủi đi trong bóng đêm khuya


khoắt.


Chương 25


Kêu oan


138


Hạnh Thảo về đến phủ Long Thành thì trời đã sáng rõ. Vừa tụng xong thời kinh Nhật


tụng, công chúa xuống thềm cởi áo tràng. Thấy Hạnh Thảo, công chúa hỏi ngay:


- Người ta nói sao, con ?


- Bẩm công chúa, con đã hỏi kỹ thầy lại họ Ngô bên Tam pháp ty rồi! - Thảo nghẹn ngào:


- Ai cũng nói chắc Đăng Hưng không sao thoát tội. Nặng thì trảm, giảo, nhẹ thì phát vãng miền


ngược, có đi không về.


Công chúa thở dài.


- Nam mô a di đà Phật! Ta bao lâu nay tu hành, chẳng tiêu pha gì, bổng lộc vua ban ta chỉ


đem làm phước thôi. Nay cũng còn chút ít để dành dưỡng già, nếu con cần thì cứ lấy đi mà lo lót


cho chủ. Cứu được một người phúc đẳng hà sa, huống chi con với ta thân như tình ruột thịt.


Hạnh Thảo lắc đầu:


- Công chúa thương con như vậy, biết kiếp nào báo đáp cho hết đây? Chỉ tiếc là thầy lại


nói, việc này không lo lót được! Vì việc có đụng đến thái hậu nên không quan nào dám nhận của


lót đâu.


Công chúa ngạc nhiên:


- Sao lại đụng đến thái hậu?


Tội nghiệp, Thái trưởng công chúa Ngọc Tú ẩn dật tu hành, xa lánh phồn hoa đã lâu nên


đâu có biết những chuyện rắc rối trong cung. Hạnh Thảo bóp trán, nghĩ lui nghĩ tới không biết


nhờ ai, hay là nhắn Hằng kêu cầu với Ngô Tiệp dư… Nhưng Phạm Đăng Hưng lại không chịu để


cho Hằng biết, thế thì làm sao bây giờ?


Về phần Hằng, ngày ngày vẫn chăm chỉ với phần việc của một nữ quan, đâu có hay tai


biến đang đổ xuống nhà mình.


Chiều hôm ấy đang giờ học, Hằng ngồi nghiêm trang trên ghế ngoài hành lang.


Vẻ mặt nàng hơi buồn. Cung nữ Khánh Nhi theo giúp nàng, đang sắp sửa trà, bánh, trái


cây. Thấy việc sắp dọn đã xong, Hằng cầm dùi gõ vào chiếc khánh đồng.


Các hoàng tử từ trong lớp túa ra. Mấy hoàng tử nhỏ lấy bánh và trái cây xong đến bên


Hằng, nghển cổ nhìn vào cuốn sổ trước mặt nàng. Đó là sổ điểm danh, Tiệp dư Ngô Thị Chính


sai Hằng ghi để cho các hoàng tử khỏi biếng học.


- Chị ơi, cho ta xem sổ với. Chị có ghi điểm tốt cho ta không?


Hằng cười:


- Không được đâu, Tiệp dư cấm không cho các hoàng tử xem sổ này.


Miên Tông lại gần, cầm chùm mận nhỏ chìa ra:


- Cô Hằng, tôi lấy cho cô này. Mận ngon lắm!


Hằng khẽ lườm thật dài, không chịu cầm. Miên Tông gặng hỏi:


- Cô giận gì tôi sao?


Hằng hơi ngoảnh mặt đi:


- Tôi sao dám giận hoàng tử. Chỉ giận cái anh con nhà buôn ở cửa Đông, anh ta phỉnh


phờ vậy mà lúc đó tôi cũng tin.


Miên Tông cười:


139


- Thì tôi đã nói rằng ông nội tôi và cha tôi có cửa hàng bán ghế ở thành Phú Xuân, không


phải đúng như vậy sao? Cô nghĩ kỹ lại đi! Còn cô, cô là thị nữ ở phủ nào mà dám vào đây ngồi


chấm điểm tốt điểm xấu cho các hoàng tử, to gan vậy a.


Hằng bật cười:


- Thôi, vậy là huề nha.


Miên Tông đưa ngón tay.


- Huề thật nghe, nghoéo tay cho nhớ.


Hằng đưa tay ra định ngoéo tay với Miên Tông, bỗng một bàn tay khác thò vào, ngoéo


lấy ngón tay Hằng. Miên Hoằng đang chồm tới từ phía sau:


- Ha ha, ngón tay người đẹp vừa nhỏ vừa xinh, đúng là tay búp măng, dễ thương quá!


Hằng đỏ mặt rụt tay lại. Miên Hoằng nắm chặt lấy, không buông.:


- Cho ta cầm tay chút mà…


Miên Tông can:


- Hoằng, em đừng trêu chọc người ta. Coi chừng sư phó đến kia kìa.


Trương Đăng Quế đang đến gần. Cả Hoằng lẫn Tông vội vàng lảng đi nơi khác.


Thấy Đăng Quế, Hằng hỏi ngay:


- Không biết sao đã lâu không thấy cha viết thư về. Anh có nghe tin tức gì của cha em


không?


- Có. - Giọng Đăng Quế buồn buồn.


- Cha em ra sao, có chuyện gì bất thường không?


Đăng Quế lúng túng:


- Cũng không thường cho lắm, à, việc quan trong đó nặng nề, lại thêm nạn đói…


- Dạ, em biết! Xưa nay cha chỉ biết sách vở lễ nghĩa, nay phải lo chuyện thóc áo gạo tiền,


em chắc ổng cực lắm! Nhưng tính cha là vậy đó, việc gì dù khó mấy đã làm là nhất định phải


làm tròn.


Đăng Quế gật đầu:


- Tiểu thư biết vậy rồi thì cứ yên tâm đi, đừng lo lắng gì cả.


Hằng nhìn chăm vào mặt Quế.


- Hình như có việc gì… Sao em thấy anh có vẻ khang khác!


Đăng Quế gắng gượng:


- Có gì đâu, tiểu thư đừng có cả nghĩ. Thôi, đến lúc phải vào lớp rồi.


Quế quay đi. Hằng nhăn mày suy tư một lúc, rồi gõ khánh báo hiệu giờ học tiếp tục.


Miên Hoằng đi lướt qua, cố tình đi vẹo vào cho đụng phải chiếc ghế Hằng đang ngồi:


- Lúc nãy tôi đùa nghịch chút xíu, cô Hằng đừng giận nhé.


Hằng cau mặt làm thinh không nói.


Miên Tông từ trong lớp học nhìn ra, cậu nhìn chăm chăm cho đến lúc Miên Hoằng đi vào


lớp mới thôi.


***


140


Cùng lúc ấy, cách không xa, chỉ vài bức tường hoa, có người cũng đang quan tâm đến số


phận của Phạm Đăng Hưng.


Trong điện Hoàng Nhân, thái hậu đang đứng nhìn hai cung nữ dâng hoa. Hai bình hoa


lớn được đặt trước án thờ. Lính hầu vào bẩm có Tổng quản thái giám Trần xin ra mắt. Thái hậu


gật đầu, khẽ vỗ tay. Biết ý chủ, các cung nữ liền lui ra.


Tổng quản thái giám Trần bước vào.


- Bẩm lệnh bà, việc Đăng Hưng, hoàng thượng vẫn chưa xét!


Thái hậu cau mặt:


- Sao vậy? Còn chờ gì nữa?


- Dạ, con cũng đã thúc giục Trung Trực nhiều lần, bảo Trung Trực phải đưa hồ sơ lên.


Tội Đăng Hưng to lắm, không trị sao được. Giết người phải đền mạng.


Thái hậu cười nhạt.


- Ngươi chỉ được cái đón ý nói theo. Tội Đăng Hưng lớn hay không, không quan trọng.


Lớn hay nhỏ là tùy phán quan bẻ bác ra thôi. Ba tấc lưỡi phán quan, muốn lớn thì lớn, muốn nhỏ


thì nhỏ, lạ gì.


Tổng quản Trần rụt đầu:


- Dạ, dạ…


- Việc này, ngươi hãy làm sao vận động cho Tham tri bộ Hình Trương Công Kế ngồi xử.


Ông này là người của ta. Phen này Đăng Hưng có ba đầu sáu tay cũng không thể thoát.


- Dạ, lệnh bà cứ yên tâm, cái chi chớ mấy việc đó con rất rành.


- Ngươi nghe đây: Tội Đăng Hưng thật ra không lớn. Với ta, cái mạng của một thằng thủ


kho gian lận cũng chẳng có chi đáng kể. Nhưng cái tội to của Đăng Hưng là cái tội dám hỗn láo,


dám thách thức thế lực của ta, của con ta. Không trị lão ta tới nơi tới chốn thì ai còn sợ ta nữa. À,


còn việc gia phong cho con Bảo, sao rồi?


- Bẩm thái hậu, Quý nhân Nguyễn Thị Bảo đã được phong làm Thục tần, đúng như ý thái


hậu.


Thái hậu gật đầu thỏa mãn:


- Có thế chứ. Có vậy tam cung lục viện mới biết, đã có ta đỡ đầu thì muốn lên tiên cũng


dễ. Con Bảo do ta đưa vào cung, tất nhiên phải được ưu ái hơn người rồi.


Tổng quản Trần cười nịnh:


- Dạ, phen này Ngô Tiệp dư lép vế, chắc phải ghen tị đến đứt ruột ra!


Thái hậu nở một nụ cười hả dạ, đứng dậy bước ra cửa. Giám Trần đi theo.


Khi đi qua các án thờ, cả hai không để ý thấy thái giám trông coi điện Hoàng Nhân đang


nín thở nép mình sau màn, nghe hết câu chuyện.


Cái tin Trương Công Kế sẽ ngồi ghế phán quan làm Trương Đăng Quế rất lo âu. Dù chưa


hiểu hết thế lực nào đang đứng sau vụ án, nhưng nghe ngóng lời đồn đoán trong chốn quan


trường, anh biết tên tham quan này rất ghê gớm, xưa nay ai cũng sợ.


Trong tòa nhà cũ lạnh lẽo của họ Phạm, Hạnh Thảo thắp nhang trước án thờ Phạm phu


nhân:


- Phu nhân, xin phu nhân có thiêng hãy phù hộ cho quan lớn qua khỏi cái nạn này.


141


Vái rồi nàng bước ra. Trương Đăng Quế đang ngồi buồn rầu, khuỷu tay chống


trên án thư phủ bụi. Hạnh Thảo thì thầm:


- Cậu ra vào trong cung, có cách gì cứu giúp được quan lớn không?


Đăng Quế trầm ngâm:


- Tiếng là Quế ngày nào cũng vào cung nhưng chỉ tiếp xúc với các hoàng tử. Mấy


ông hoàng này ăn chưa no lo chưa tới, làm sao giúp được mình. Ngô Tiệp dư thì dạo này


đang còn lo giữ thân giữ thế, đâu dám tâu điều gì trái tai vua. Quế lo nghĩ lắm mà chưa


biết cách nào.


Hạnh Thảo nghẹn giọng:


- Tôi cũng đã chạy chọt khắp nơi nhưng ai cũng lắc đầu!


Đăng Quế bảo:


- Tôi nghĩ kỹ rồi, quan lớn đâu có giết người, chỉ là sơ ý làm chết người thôi.


Không thể nào làm án giảo hay trảm được. Chỉ sợ là…


- Thì đó, tôi cũng nghĩ như cậu, chỉ sợ là quan tòa có ý riêng, cố gán ép cho quan


lớn.


Đăng Quế đứng phắt dậy.


- Vậy phải có người tâu rõ sự tình lên hoàng thượng.


Hạnh Thảo ngước mắt, hồi hộp:


- Nhưng làm sao mà gặp được hoàng thượng?


- Quế nghĩ ra rồi, có một người có thể gặp hoàng thượng được.


- Ai?


- Hoàng trưởng tử Miên Tông!


***


Chiều đã muộn. Trong điện Cần Chánh, vua Minh Mạng đang ngồi phê duyệt tấu sớ.


Thái giám Trung Trực đứng hầu.


Vua ngừng bút son, nghỉ vài giây. Hôm nay ngài cảm thấy đẹp lòng vì việc khai hoang


lấn biển ở miền Bắc đã khởi đầu. Lại còn việc tổ chức thi Hội, cũng là việc rất quan trọng. Nhất


định không để xảy ra việc xằng bậy như trong kỳ thi Hương Tiến trước đây.


- Trung Trực, sắp xếp cho quan Thượng thư bộ Học ngày mai vào điện Cần Chánh nhận


chỉ riêng của ta. - Vua phán.


- Dạ, thần xin tuân.


- Còn một việc nữa. Hôm trước trẫm đã chuẩn y phong Nguyễn Thị Bảo làm Thục tần.


Vậy là gia ơn rất đặc biệt. Nay trẫm nghĩ lại, Tiệp dư Ngô Thị Chính hầu trẫm đã lâu, tuy không


tài hoa thông tuệ như Bảo nhưng rất trung hậu nhu mì, cũng nên ban phong mới công bằng. Vậy


khanh cho thảo chiếu để trẫm châu phê, phong Ngô Thị Chính lên chức Hiền tần.


Trung Trực lo lắng:


- Dạ muôn tâu, việc này hoàng thượng đã hỏi ý thái hậu chưa ạ?


Vua Minh Mạng lừ mắt:


142


- Trẫm đã bảo làm thì cứ làm đi, không được hỏi tới hỏi lui.


Trung Trực hiểu ý, cúi đầu tuân lệnh.


Chợt có tiếng thái giám hô to bên ngoài:


- Hoàng trưởng tử xin yết kiến!


Vua Minh Mạng ngạc nhiên:


- Hoàng trưởng tử? Ai vậy? Miên Tông sao? Hôm nay động trời hay sao, nó lại đến tìm


trẫm ở đây! Thường ngày gặp trẫm nó cứ len lét như rắn mồng năm ấy mà. Cho vào!


Miên Tông đang bước lên thềm, hồi hộp quá nên cậu bước hụt, rơi cả một chiếc giày ra.


Trung Trực bước ra đón, thấy vậy không khỏi mỉm cười.


Miên Tông ngượng ngùng đứng yên để ống quần phủ lên cho khỏi lộ chiếc giày bị tuột.


Một bàn chân khều khều chiếc giày, cố mang lại vào chân. Xong, cậu cố hết sức ra vẻ đĩnh đạc


bước lên, đi vào điện.


Thấy phụ hoàng, Miên Tông sụp lạy.


- Hoàng thượng vạn tuế!


Vua Minh Mạng nghiêm nghị:


- Đứng dậy đi. Có việc gì mà phải đến gặp ta?


Miên Tông rụt rè:


- Dạ… Đã lâu không được gặp phụ hoàng nên con đến vấn an.


Vua Minh Mạng nhìn xoáy vào mặt con trai:


- Nói thật đi. Có việc gì? Ta biết nhất định có việc gì quan trọng lắm nên ngươi mới đến


đây.


Miên Tông ấp úng:


- Dạ… Phụ hoàng sáng suốt… Phụ hoàng rất sáng suốt…


Nhà vua sốt ruột:


- Ừ, sáng suốt, rồi làm sao?


- Dạ, hôm nay con đến đây là muốn thưa với phụ hoàng về việc vụ án của Phạm Đăng


Hưng…


Vua Minh Mạng trợn tròn mắt:


- Phạm Đăng Hưng! Ngươi biết Đăng Hưng là ai mà dám nói? Hay là thái hậu sai ngươi


đến thúc giục trẫm mau mau trị tội. Khổ thật, trị thì trị, cũng phải từ từ để trẫm lo hết việc này


mới đến việc khác được!


Miên Tông vội vã:


- Không, không, tâu phụ hoàng, không phải thái hậu sai ạ. Chỉ là vì con nghe nói ông ấy


bị oan nên mới đến trình với phụ hoàng. Ông ấy không giết người, chỉ sai đánh đòn viên thủ kho


ăn bớt gạo của dân đói. Chính là dân đói căm thù đã ào vào đánh chết tên thủ kho ấy.


- E hèm, còn gì nữa?


- Dạ, người ta ghét ông ấy nên mới sắp đặt cho viên tham tri họ Trương ngồi xử vụ án...


Vua Minh Mạng quắc mắt:


- Người ta là ai?


Miên Tông run bần bật.


143


- Dạ… Người ta…


Vua Minh Mạng gằn giọng:


- Là ai?


Miên Tông quýnh quáng, không biết nói sao. Cuối cùng cậu cắn môi:


- Dạ, con không biết ạ…


Vua Minh Mạng đập bàn:


- Ngươi thật to gan, dám nói những chuyện không bằng cớ. Tự ý dựng chuyện xúc phạm


mệnh quan triều đình, há phải là chuyện nói chơi được sao?


Miên Tông cúi đầu lí nhí:


- Dạ… con đã biết lỗi. Chỉ vì con nóng lòng muốn kêu oan cho ông Phạm Đăng Hưng,


con nghe nói ông ấy là người tốt.


- Hãy bỏ hai chữ “Nghe nói” đi. Từ nay chỉ nói những gì ngươi biết chắc, nắm chắc mà


thôi. Hãy nhớ lời ta dạy.


- Vâng, con xin cáo lui. - Cậu vội vã đi giật lùi rồi quay ra.


Vua Minh Mạng gọi giật lại:


- Miên Tông, ta vừa dạy bảo ngươi, sao ngươi không tạ ơn ta.


Miên Tông hồn vía đã lên mây, gắng gượng quay lại, lạy tạ:


- Con xin tạ ơn phụ hoàng dạy bảo. Tâu phụ hoàng, con xin nói thêm điều này… - Bỗng


nhiên can đảm khác thường, cậu thốt lên: - Không phải con chỉ nghe nói Đăng Hưng là người


tốt, mà con biết chắc chắn ông ấy là người tốt!


Vua Minh Mạng thấy đứa con trai nhút nhát bỗng kiên cường như vậy thì lấy làm lạ, chú


ý nghe:


- A chà chà, ngươi dựa vào đâu mà nói như vậy?


Miên Tông hơi vững lòng, giọng trở nên cứng cỏi:


- Con dựa vào lời nói của những người đáng tin. Bậc vương giả không thể tự mình tiếp


cận mọi việc, nhưng có thể biết rõ mọi việc bằng cách xa người nịnh, gần người trung, nghe lời


phải. Biết tin lời nói của ai và không tin lời ai, ấy chính là yếu quyết đầu tiên của thuật làm vua!


Vua Minh Mạng im lặng, nhìn chằm chằm Miên Tông một lúc.


- Sư phó ngươi dạy cho ngươi như vậy phải không? Học thuộc bài đấy! - Vua gằn giọng -


Những việc ấy ta phải đợi ngươi nói mới biết sao? Hãy lui ra!


Miên Tông ra khỏi điện. Cậu cắm cổ đi một mạch về cung Từ Thọ mà không biết sóng


gió đang chờ mình ở đó.


Chương 26


Hoàng tử chịu phạt


Người đi chưa đến nơi mà tin đã đến rồi, thái hậu đã biết chuyện thằng cháu cưng mạo


hiểm đến xin tội cho Phạm Đăng Hưng trước mặt vua. Thấy Miên Tông vừa ló mặt vào, bà cầm


cái quạt ngà ném xuống đất. Cái quạt rơi kêu đánh sạt, gãy lìa.


144


- Miên Tông! Ai khiến nhà ngươi làm chuyện tày trời như vậy? Ai khiến ngươi đi kêu


oan cho tên giặc già đó?


Miên Tông sợ xanh mặt, nín im thin thít.


Thái hậu lồng lộn:


- Mà ai nói cho ngươi biết về Phạm Đăng Hưng? Ngươi ở trong cung, làm sao biết


chuyện bên ngoài? À, chắc lại mồm mép thằng Giám Lê rồi, có phải không?


Miên Tông vội gỡ:


- Dạ, không… Không phải đâu!


Thái hậu trừng mắt nẩy lửa:


- Lại còn chối à? Thái giám đâu, nọc thằng Giám Lê ra đánh hai mươi roi cho ta.


Miên Tông rối rít:


- Thái hậu, xin thái hậu tha tội cho cháu. Cháu xin thề, Giám Lê không có liên quan gì


việc này.


- Vậy thì là đứa nào? Đứa nào xúi dại ngươi? Mau khai ra! Ta nhất định không bao giờ


cho qua việc này đâu.


Miên Tông cắn môi, đau khổ, không biết nói làm sao.


Giám Lê đoán chắc người đó là Hằng, nghĩ Miên Tông không nỡ khai ra, nên đành đánh


liều nhận thay:


- Xin hoàng tử đừng giấu cho con nữa, để cho con chịu tội với lệnh bà.


- Không được đâu, Giám Lê!


Giám Lê không nghe, cứ bước ra, nằm sấp xuống chờ đánh:


- Con ngu dốt lỡ có tội, xin lệnh bà nương tay.


Thái hậu cười khẩy:


- Giám Lê, đừng tưởng muốn chịu đòn là có đòn ngay đâu. Từ từ đã. Ta hỏi ngươi: Tại


sao ngươi biết việc này?


Giám Lê nói rất trơn tru:


- Dạ, con ra ngoài cửa Đông mua sắm, gặp bà vợ Phạm Đăng Hưng, bà ấy nhờ con nói


với hoàng tử xin kêu oan ạ.


Thái hậu vẫn tiếp tục tra:


- Vợ Phạm Đăng Hưng? Bà ấy khoảng bao nhiêu tuổi, béo hay gầy?


Giám Lê liếng thoắng:


- Dạ, bà ấy khoảng năm mươi tuổi, người hơi mập mập ạ!


- Hay! Vậy bà ta có cho ngươi tiền bạc lót tay không mà ngươi dám sốt sắng như vậy?


Đã trót thì phải trét, Giám Lê đành nói dối luôn:


- Dạ, bà ấy cho con một lạng bạc ạ!


Thái hậu cười gằn:


- Hay cho thằng Giám Lê! Thật là nói dối không có sách, ngươi tưởng ngươi qua mặt


được ta sao? Vợ Phạm Đăng Hưng đã chết, sao còn đội mồ dậy mà đi chạy chọt cho y? Thôi


được, ngươi đã muốn chịu tội thay cho ai đó thì cho ngươi được như ý. Thái giám, đánh nó gấp


145


đôi, chẵn bốn mươi roi, cho nó hả dạ. Còn Miên Tông, từ hôm nay ngươi ở trong phòng cấm, có


người đưa cơm nước vào tận nơi, tuyệt đối không được ra ngoài.


Giám Lê bị đánh, tiếng roi quất, tiếng kêu khóc vang rùm lên.


Miên Tông khóc ròng, lấy tay áo che mặt.


Bị phạt cấm cửa, luôn mấy hôm Miên Tông không đến lớp. Đăng Quế ngóng tin, càng


ngày càng lo lắng trong lòng. Hằng cũng thấy lạ, không biết vì sao Miên Tông vắng lâu như vậy.


Cô nghĩ chắc hoàng trưởng tử bị cảm mạo gì đây?


Cuối buổi học, Hằng đang ngồi ngoài hành lang thì chợt Giám Lê khập khiễng lại gần:


- Cô Hằng!


- Ô, chú Giám Lê! Sao mà chú ra nông nỗi này?


Giám Lê cười mếu:


- Cũng vì cô mà tôi mới bị trận đòn nên thân đây!


- Vì tôi? Chú có nói đùa không?


- Chớ vì ai nữa? Thế ai xui hoàng trưởng tử đến kêu xin với hoàng thượng, cô chứ còn


ai?


Hằng sửng sốt:


- Trời đất ơi, làm gì có ! Tôi có bao giờ phiền hoàng trưởng tử việc gì đâu?


- Thế hoàng tử nhà tôi nghe ai mà liều vậy? Thái hậu tra hỏi mãi mà hoàng tử không


khai, tôi thương quá nên ra nhận liều, mới bị đánh xiểng liểng thế này.


- Khổ thân Giám Lê! Tôi có một thứ dầu tốt lắm, để tôi cho Giám Lê bôi cho đỡ đau nha!


- Có thì tốt! Cảm ơn cô, cô Hằng tử tế quá. Nhưng còn chuyện này rất quan trọng, cô làm


ơn tử tế thêm chút nữa...


Hằng sốt ruột:


- Chuyện gì, nói mau đi.


Giám Lê kể lể:


- Hoàng trưởng tử vừa rồi bị hoàng thượng quở mắng rồi lại bị thái hậu phạt giam trong


phòng kín, ngài buồn quá nên ba hôm nay không ăn miếng gì vào bụng. Hôm nào cung nữ đưa


cơm vào cũng lại đem cơm ra. Thái hậu cũng cứng cựa không nhượng bộ, thành thử bây giờ


hoàng tử đói lả rồi, nguy quá. Kiểu này chỉ có cô là cứu được thôi!


Hằng cám cảnh:


- Tôi làm sao bây giờ? Nghe hoàng tử bị xui xẻo như thế tôi cũng thấy buồn lắm! Hay là


để tôi viết vài chữ khuyên hoàng tử giữ gìn sức khỏe, Giám Lê đưa dùm tôi nha?


Giám Lê nhăn mặt:


- Có ai vào gặp hoàng tử được đâu, tôi cũng bị cách ly với ngài rồi! Chỉ có hai cung nữ


thay nhau đưa cơm thôi. Bây giờ tôi tính thế này: Một trong hai cô cung nữ đó thân với tôi lắm,


tôi dàn xếp để cô Hằng vào đưa cơm thay cho cô ấy. Cô Hằng nhân đó khuyên nhủ hoàng trưởng


tử giúp tôi có được không?


- Tôi? Nào tôi có nề hà gì đâu, nhưng rồi liệu hoàng trưởng tử có nghe lời tôi không?


- Yên tâm đi, tôi biết tận trong ruột gan hoàng tử nhà tôi mà. Hoàng trưởng tử không


nghe cô thì nghe ai? Vậy là cô đồng ý rồi nhé!


146


Nghe lời Giám Lê, Hằng lật đật về phòng ở của mình trong cung thất của Hiền tần Ngô


Thị Chính, sửa soạn vài món ăn, cho vào chiếc giở nhỏ. Một liễn cơm, một liễn canh, một hộp


muối sả nhỏ. Bàn tay cô phân vân trước mấy món bánh và trái cây trên bàn, rồi dừng lại trước


một chùm mận đỏ. Cô cầm chùm mận cho vào giỏ, xách đi.


Ra khỏi phòng, Hằng hối hả đi. Bỗng một cành hoa phù dung từ trên cao rơi xuống ngay


trước mặt.


Hằng giật mình đứng lại, ngước lên nhìn. Trên lầu, Miên Hoằng đang thò đầu ra khỏi bao


lơn, cười với nàng. Đã quen với những trò chọc ghẹo của Hoằng, Hằng chỉ mỉm cười rồi đi tiếp.


Trên một hành lang khuất, Ngô Thị Chính đang nhìn, thấy hết trò nghịch ngợm của con


trai.


Giám Lê chờ sẵn bên ngoài, dẫn Hằng qua lối ngả sau đi vào khuôn viên cung Từ Thọ.


Con đường vòng vèo, băng qua một dãy nhà nhỏ có vẻ cũ kỹ, tối tăm. Hằng nhìn vào:


- Đây là nhà gì vậy, Giám Lê?


Có tiếng trẻ con khóc ngặt nghẽo từ bên trong.


Giám Lê vội kéo Hằng đi.


- Đây là lãnh cung. Đi nhanh đi, đừng nhìn vào đó phiền phức lắm.


Hằng tò mò:


- Sao lại có tiếng trẻ con khóc trong đó?


Giám Lê không trả lời:


- Đi thôi, làm ơn nhanh lên không trễ mất.


Hằng ngoái lại nhìn rồi vội vã bước theo, lòng không khỏi thắc mắc.


Trong phòng biệt cấm, Miên Tông nằm soài trên nền gạch. Mặc dù trong phòng có


giường trải đệm nhưng cậu không đụng tới. Một mâm cơm đã nguội lạnh cũng còn nguyên trên


bàn.


Có tiếng gõ nhẹ ngoài cửa.


Miên Tông đã nhịn đói mấy ngày nên rất mệt, cất giọng yếu ớt:


- Lui ra đi.


Tiếng gõ lại tiếp tục. Miên Tông im luôn không trả lời.


Cánh cửa hé mở, rồi mở rộng. Hằng bước vào. Luồng sáng từ cửa tràn vào căn phòng tối,


khiến hình ảnh Hằng sáng lên rực rỡ như có hào quang.


Miên Tông há hốc miệng:


- Hằng!?


Hằng chỉ đứng im, chúm chím cười.


- Dạ, nghe nói hoàng trưởng tử đang bị phạt nên Hằng phải mọc cánh bay đến thăm.


Miên Tông tự bấu vào cánh tay:


- Trời ơi, có thực không hay là mơ đây hở trời?


Hằng vẫn tủm tỉm:


- Mơ đấy thôi mà.


Miên Tông đến gần, đưa tay sờ nhẹ vào má Hằng:


- Không phải, thật mà, Hằng thật mà. Vậy là trời còn thương tôi rồi.


147


- Hoàng tử nói nhảm gì thế, Hằng đem cơm đến cho hoàng tử đây, cả cái này nữa…


Hằng đặt chùm mận vào tay Miên Tông.


Miên Tông đón lấy chùm mận, đưa lên mũi hít hà. Hằng sớt cơm ra bát, cho muối sả


thơm lừng vào cơm. Lại múc một chén nhỏ canh cá bống thệ, dỗ dành:


- Mấy hôm rồi nhịn đói, bây giờ phải húp một tí canh cho ấm bụng rồi mới được ăn cơm.


Mà hoàng tử có chịu ăn không đây?


Miên Tông bàng hoàng sung sướng:


- Mấy hôm nay tôi nghĩ quẩn quá, tôi nghĩ trời không thương tôi nên bắt tôi chịu số phận


cô độc, không ai nói với tôi một lời âu yếm. Tôi buồn chán chẳng còn thiết sống nữa. Nay Hằng


đến đây là tôi hiểu trời có lòng thương tôi lắm lắm, nên tất nhiên tôi phải ăn để mà sống chứ.


Miên Tông ăn ngon lành. Hằng thương cảm:


- Khổ thân hoàng tử quá, Hằng cứ tưởng làm con vua sung sướng lắm, ai ngờ cũng khổ.


Miên Tông tâm sự:


- Tôi không thiếu thốn cái gì, chỉ tủi vì không ai thương, từ nhỏ tôi chỉ biết chơi với Giám


Lê. Lớn lên thì có Hằng với sư phó, đó là những người thân yêu nhất trong đời tôi đó.


Hằng cảm động, đưa tay bẻ trái mận cho Miên Tông ăn.


- Lẽ nào hoàng thượng không thương hoàng tử sao?


- Nói là không thương cũng không đúng. Nhưng ngài rất nghiêm, cứ mỗi lần ngài đến


thăm là tôi lại run, chỉ sợ bị quở thôi. Lần này vì thương Hằng nên tôi quên cả sợ.


Hằng ngạc nhiên:


- Sao lại vì Hằng?


- Tôi thương Hằng lắm. Tôi sinh ra đã không có mẹ rồi, tôi biết không có mẹ thì dù giàu


có đầy đủ thế nào cũng vẫn khổ. Nay Hằng đã mất mẹ, nếu lại mất cả cha thì rồi sẽ ra sao…


Hằng nhíu mày:


- Mất cả cha… Hoàng tử nói gì, Hằng chưa hiểu?


- Ủa, vậy sư phó không nói cho Hằng biết sao, cha Hằng mang tội đánh chết người, đang


phải giam trong ngục thất Thừa Phủ. Nay mai sẽ đem ra Tam pháp ty xử tội.


Hằng rụng rời:


- Trời ơi! Chính là Đăng Quế nói với hoàng tử như vậy sao?


Miên Tông gật đầu:


- Tội nghiệp sư phó cũng lo cho Hằng lắm, chính sư phó khuyên tôi đến kêu với hoàng


thượng đó!


Hằng vỡ lẽ, òa khóc:


- Trời ơi! Sao Đăng Quế ác vậy, nỡ giấu không nói gì với Hằng. Cha ơi! Thương cha


quá!


Hằng nức lên, bưng mặt bỏ chạy ra cửa.


Miên Tông hoảng hốt, chạy theo níu lại. Hằng vùng ra, chạy dọc theo hành lang thâm u.


Miên Tông chạy theo, nhưng mới được một đoạn ngắn đã có hai thái giám vạm vỡ bước


ra ngăn lại:


- Bẩm hoàng tử, thái hậu đã lệnh cấm không cho hoàng tử ra khỏi chỗ này.


148


Miên Tông chỉ còn biết dậm chân, bứt tóc nhìn theo…


Về tới tư phòng, Hằng lăn ra giường khóc ngất. Ngô Thị Chính nghe biết chuyện, ghé


đến thăm. Hằng gượng chống tay ngồi dậy:


- Bẩm Hiền tần, bây giờ con là gia quyến của tội nhân, ở đây có làm liên lụy đến bà


không? Hay là con xin ra ngoài, chứ ở thế này làm khổ lây cả bà!


- Không được! Cháu phải ở đây, ta cho người trông coi chăm sóc cháu. Cháu đang suy


sụp thế này, gia đình không còn ai, ta để cháu đi sao nỡ?


Ngô Thị Chính thực lòng xót xa cho Hằng. Ngày xưa, khi cha bà đang làm Chưởng cơ ở


trấn Thanh Hoa cũng bị tội nặng, đến nỗi mất hết chức tước tài sản. May sao cơ Trời xui khiến


bà được nhập cung, gặp gỡ hoàng tử Đảm, nhờ đó gia môn mới dần dần được cất nhắc cho đến


bây giờ. Thấy Hằng cứ lịm đi, tay chân giá lạnh, bà lo lắng sợ nàng liều mình nên dặn dò Khánh


Nhi canh chừng cẩn thận, nếu có gì trầm trọng xảy ra phải gọi bà ngay.


Mặc mọi người an ủi, Hằng cứ nằm sấp úp mặt xuống gối, khóc sưng cả mắt.


Trăn trở một lúc, bỗng Hằng ngồi bật lên.


Cô vụt đứng dậy, xốc lại áo khăn, chải buộc lại tóc.


- Đi, ta phải đi.


Hằng bươn bả ra cửa. Mới mấy bước, đụng đầu phải Miên Hoằng đang đi vào, tay cầm


cung tên.


Miên Hoằng kêu:


- Đi đâu vậy cô Hằng?


Hằng mím chặt môi:


- Đi gặp hoàng thượng!


Miên Hoằng há hốc miệng:


- Úy chu cha!


Hằng vẫn xăm xăm đi. Miên Hoằng co cẳng chạy vào cung thất.


- Mẹ ơi, cô Hằng điên rồi, cô ấy đòi đi gặp phụ hoàng!


Ngô Thị Chính sợ quá, thất thanh.


- Thôi chết rồi, Khánh Nhi, Hỷ Nhi, mau chạy theo kéo nó lại. Trời ơi, mắc tội phạm


thượng thì chết hết không có chỗ chôn.


Khánh Nhi và Hỷ Nhi rối rít chạy. Hằng vẫn đi xăm xăm, xộc thẳng vào điện Càn Thành,


nơi vua ở.


Hai lính canh ngăn lại.


- Đi đâu?


Hằng dõng dạc.


- Tôi muốn vào gặp hoàng thượng!


Lính canh quát:


- Muốn chém đầu sao? Lui ra ngay!


Hằng như điên:


- Các chú phải vào báo với hoàng thượng, có thứ dân là Phạm Thị Hằng, con gái Phạm


Đăng Hưng xin yết kiến.


149


Lính xô Hằng ra:


- Con của ông Trời cũng không vào được. Đi ra!


Hằng thấy hai bên cửa một bên treo cái khánh, một bên treo cái trống. Cô giật lấy cái dùi,


toan đánh vào cái khánh.


Lính giật cái dùi quăng đi. Hằng lại lăn xả vào, giật cái dùi trống định đánh trống.


Lính lại giật mất cái dùi trống, lôi sểnh Hằng ra, xô ngã xuống đất:


- Muốn làm loạn hả, ông cho vào tù bây giờ.


Phía sau, Khánh Nhi, Hỷ Nhi hơ hãi chạy theo. Cả hai cô hợp nhau kéo Hằng lại, lôi về.


Khánh Nhi năn nỉ:


- Tiểu thư ơi, tỉnh lại đi, dại quá, làm như vậy là liên lụy cả Hiền tần đó.


Hằng đau đớn khóc rống lên.


- Cha ơi! Cha! Con biết làm sao bây giờ! Đành lòng ngồi nhìn cha bị hại hay sao?


Hai cung nữ dìu Hằng về. Hằng vừa chuệnh choạng bước theo vừa khóc vật vã.


Chương 27


Án oan


Cuối tháng Dần năm ấy, Phạm Đăng Hưng bị xử tội tại Tam pháp ty.


Lính canh kéo tới trong sân công đường, sắp thành hai hàng nghiêm chỉnh.


Tham tri bộ Hình Trương Công Kế bước vào, theo sau là hai hộ vệ.


Ngoài cổng Tam pháp ty, Hạnh Thảo đến sớm nhất, ngồi xệp bên đường, chờ chực. Một


chiếc xe tù chở Phạm Đăng Hưng tới. Đăng Hưng bước xuống, có lính áp giải, hai tay mang


gông.


Hạnh Thảo kêu lên:


- Quan lớn…


Đăng Hưng ngoái lại, muốn dừng một chút nhưng bị lính lôi đi, áp giải thẳng vào công


đường.


- Trương tham tri thăng đường! - Lính hầu hai hàng hô vang. Trương Công Kế lên ngồi


ghế giữa, tay cầm thẻ gõ mạnh xuống bàn.


- Truyền khai tòa xử vụ án Phạm Đăng Hưng lạm dụng quan chức giết chết người ở


Quảng Nam!


Phạm Đăng Hưng bị điệu ra, tay đã tháo gông, đứng phía dưới.


Trương Công Kế sang sảng:


- Phạm Đăng Hưng, ngươi vốn là mệnh quan của triều đình, trước kia từng được tiên đế


ân sủng giao cho làm cố mệnh đại thần. Phải chăng vì vậy mà tự đắc tự kiêu, quen thói làm bậy,


tác oai tác phúc? Ngươi phải biết rằng, nếu không có kiếm lệnh của hoàng thượng trao thì dù là


nhất phẩm đại thần cũng không thể tự ý giết người được!


Phạm Đăng Hưng dõng dạc:


- Ta không phải là người cậy quyền tác oai tác phúc. Quân dân Quảng Nam đều biết rõ


như vậy. Từ lúc chịu mệnh thánh hoàng vào coi kho lương, ta sớm tối thành tâm lo việc nước, dù


150


việc lớn việc nhỏ đều không nề hà. Cái chết của viên thủ kho, ta cũng chịu một phần trách


nhiệm, nhưng không thể gán ghép ta là cố ý sát nhân.


Trương Công Kế hừ một tiếng:


- Đăng Hưng! Ngươi còn to gan chối tội. Ngươi nói quân dân Quảng Nam ai cũng khen


ngươi, vậy nhân chứng nào khai rõ ràng đây? Lúc ấy nạn nhân đã van xin tha tội, mà ngươi còn


nhất quyết ném y ra ngoài, mượn tay dân đói giết chết y. Phải chăng ngươi có tư thù với thủ kho,


hay là do dính líu việc sổ sách không phân minh rồi tìm cách giết người diệt khẩu?


Phạm Đăng Hưng chua chát:


- Tư thù, diệt khẩu… Những điều ngài nói đó thật làm cho ta vô cùng kinh ngạc. Ta cả


đời chưa nghĩ ra được những chuyện ghê gớm như thế! Chỉ trong suy nghĩ cũng không có, làm


sao mà làm những chuyện đê hèn xấu xa như vậy!


Trương Công Kế vẫn hạch:


- Đăng Hưng, ai ra trước công đường cũng nói hay nói tốt, cũng kêu oan cho mình, ta còn


lạ gì những lời lẽ chống chế ấy. Ngươi nói ngươi trong sạch mà có bằng chứng gì không? Lính


đâu, hãy giải các tòng phạm của y vào đây!


Nghe mấy chữ “tòng phạm”, Đăng Hưng ngẩn người không hiểu Công Kế đang nói đến


ai?


Vừa lúc ấy, lính giải vào ba tên du thủ du thực mặt mũi cực kỳ gian giảo.


Một nha lại cầm bản khẩu cung tiến ra.


- Ba tên kia, trước công đường ta hỏi lại lần nữa. Các ngươi khai nhận rõ ràng có nhận


tiền của Đăng Hưng để cố ý đánh chết tên thủ kho phải không?


Ba tên du thủ đồng thanh:


- Bẩm đúng như vậy! Dân ngu vì tham bạc nên nghe lời dụ dỗ, xin quan lớn thương tình.


Phạm Đăng Hưng đã ngoài năm mươi tuổi, lăn lộn ở đời cũng đã từng, nhưng chưa bao


giờ gặp cảnh huống như thế này. Ông tái mặt, tức giận đến nghẹn họng:


- Ta… Ta chưa từng biết ba tên này là ai! Tại sao chúng mày vu hãm cho ta?


Một trong ba tên du thủ trơ tráo:


- Chính tay ông đã đưa chúng tôi ba chục lạng để giết viên thủ kho đó, sao bây giờ lại


chối?


Trương Công Kế đập bàn:


- Tội chứng đã ghi rõ rành rành trong hồ sơ, có đủ bản cung đây! Nay ta chiểu theo luật


bộ Hình, xét xử như sau…


***


Trong lúc phiên xử diễn ra thì bên ngoài Tam pháp ty, một đám đông đang xúm nhau


đứng hóng. Tuy sợ lính canh không dám đến gần, họ vẫn dõi mắt về phía cổng tòa, thì thầm bàn


tán.


Trong công đường, Trương Công Kế đang lập nghiêm:


151


- Phạm Đăng Hưng làm quan thiếu lương tâm, câu kết với tiện nhân, lợi dụng chức quyền


coi thường nhân mạng. Tội chứng đã rành rành, không thể nào chối cãi. Nay ta chiểu theo luật bộ


Hình, xử ngươi tội trảm!


Đăng Hưng căm phẫn:


- Ta từng trải cuộc đời đã bao nhiêu năm, đây là lần đầu tận mắt thấy thế nào là gắp lửa


bỏ tay, ngậm máu phun người! Ta chết không sợ, chỉ đau vì chết đi với cái tội danh nhơ nhuốc.


Xuống suối vàng ta sẽ mở mắt chờ xem, bao giờ thì công lý sáng tỏ, rửa sạch nỗi oan này cho ta!


Trương Công Kế quát to:


- Trước công đường ngươi dám nói càn hay sao? Lính đâu, giải đi ngay!


Lính chạy tới tra tay Đăng Hưng vào gông.


Bên ngoài công đường, người lính canh đứng sát cửa thì thầm truyền tai với người lính


kế cận phía ngoài. Rồi cứ thế, tin tức truyền đi. Đám đông bên ngoài đang hóng tin, nhìn vào.


Một người lính đưa tay làm dấu hiệu cắt ngang cổ.


“Vậy là trảm rồi đó!” Tiếng lao xao truyền đi. “Án tuyên rồi, chém đầu!”


Một tiếng “trảm” vừa lọt vào tai Hằng, cô kêu lên thất thanh, ngất xỉu. Đăng Quế vội đỡ


Hằng, trong khi Hạnh Thảo ôm mặt khóc.


Bỗng một hồi tù và rúc lên từ phía cổng Thượng Tứ. Có tiếng lính hô:


- Hoàng thượng giá lâm! Truyền bá tánh mau mau núp mặt.


Đám đông đang xúm xít vội vã tản ra, chạy vào núp trong những lùm cây gần đó. Đăng


Quế cũng vội cùng với Hạnh Thảo đỡ Hằng lên chiếc xe ngựa chực sẵn, chạy ra xa.


Đoàn tùy tùng bao bọc quanh kiệu vua, tiền hô hậu ủng đi vào cổng Tam pháp ty.


Trương Công Kế quá bất ngờ, vội vã đem hết thuộc chức quỳ mọp nghênh đón.


Vua Minh Mạng ung dung tiến vào, theo sau là hai thái giám hầu cận và hai cung nữ cầm


quạt hầu.


- Đứng dậy đi. Đích thân trẫm sẽ ngồi xử vụ án này!


Trương Công Kế vội tâu:


- Tâu hoàng thượng, vụ án vừa xử xong!


Vua Minh Mạng lạnh lùng:


- Chưa xong đâu!


Thái giám khiêng một ghế gấm đặt lên cao. Nhà vua ngồi xuống.


- Quân đâu, truyền dẫn họ vào!


Từ ngoài cửa tòa, hiện ra hai viên chức làm việc dưới quyền Phạm Đăng Hưng ở kho


lương Quảng Nam.


Vua Minh Mạng chỉ mặt Trương Công Kế:


- Trương Công Kế, đây là những nhân chứng thực sự của vụ án này. Ngươi phải biết


rằng, các miền lãnh thổ tuy xa xôi, tin tức khó thông, nhưng không phải vì thế mà ánh sáng của


vương triều không soi đến được đâu!


Trương Công Kế xanh mặt:


- Tâu hoàng thượng…


Nhà vua truyền:


152


- Nhân chứng, hãy nói rõ đầu đuôi câu chuyện, xem thử ba tên kia đối chất ra sao.


Viên chức thứ nhất tiến lên, tay cầm một cuộn giấy dài.


- Tâu hoàng thượng, thần là Lê Quý Tiết, tòng sự tại kho lương tỉnh Quảng Nam. Trước


hết thần xin trình lên hoàng thượng tờ biểu của hơn hai trăm quân dân xứ Quảng cùng xin minh


oan cho Phạm Đăng Hưng…


- Thái giám đâu, thu lấy tờ biểu. Nhân chứng hãy tiếp tục nói đi.


- Tâu hoàng thượng, thần xin tường thuật câu chuyện từ đầu như sau…


Viên chức kho lương kể lại đầu đuôi sự việc.


Dưới thềm, Đăng Hưng dần dần định thần trở lại. Mọi vật trước mắt ông mờ ảo, tưởng


như trong một giấc mơ. Sự thật đã tỏ bày.


Tiếng nhà vua sang sảng vang lên:


- Trương Công Kế, ba tên chứng gian này đã thú nhận hết tội lỗi, ngươi còn gì để nói


không?


Trương Công Kế hết dám chối cãi, chỉ còn biết sụp lạy lia lịa:


- Hạ thần ngu muội không biết rõ đầu đuôi, hồ đồ xử bậy, xin hoàng thượng thương tình


lượng xét.


Vua Minh Mạng hết sức giận dữ:


- Ngu muội à? Ngươi là khoa bảng xuất thân, làm quan tới chức tham tri bộ Hình, sao lại


ngu muội được? Chẳng qua là tâm địa xấu xa, hiểm hơn rắn độc, lừa vua dối dân. Ta phải trị


ngươi thật nghiêm, từ nay không ai được lợi dụng Tam pháp ty để làm điều thất đức.


Trương Công Kế khóc rống lên:


- Oan thần lắm hoàng thượng ơi! Hạ thần ngồi đây thật là trên đe dưới búa, đâu phải hạ


thần muốn xử sao thì xử đâu…


Vua Minh Mạng không để cho hắn ta nói dứt câu, quát:


- Im ngay! Quân đâu, gông cổ nó lại!


Quân kéo Trương Công Kế xuống, lột áo mũ, tra gông vào cổ.


Vua truyền:


- Truyền trả tự do cho Phạm Đăng Hưng!


Đăng Hưng quỳ sụp xuống.


- Thần xin đội ơn tái tạo của thánh thượng!


***


Đăng Hưng thoát chết, trở về nhà. Cả kinh thành đồn vang, dân chúng ai cũng tấm tắc ca


ngợi hoàng đế thật là bậc minh quân, đèn Trời soi thấu khắp nơi trong thiên hạ. Các quan lại


nghe tin cũng đều khiếp uy hoàng thượng, lo giữ gìn liêm khiết không dám kéo bè kết cánh


nhũng nhiễu dân lành nữa.


Trong cung thái hậu thì ngược lại. Được tin nhà vua đến trực tiếp xét xử ở phiên tòa, thái


hậu không kịp trở tay. Bà choáng váng ngã ngồi xuống tràng kỷ:


153


- Cái gì? Trương Công Kế bị cách hết phẩm hàm ? Án đã ra chưa? Còn cách gì


vớt lại được không?


Tổng quản thái giám Trần vò đầu bứt tai:


- Một lời hoàng thượng đã phán, tức là đã thành án rồi! Đã bị lột áo mũ ngay giữa


công đường, còn vớt vát gì được nữa?


Thái hậu lo lắng:


- Liệu hắn có khai gì liên can đến ta không?


Giám Trần mặt buồn xo, cố trấn an chủ:


- Lệnh bà yên tâm, lúc làm việc với hắn con đâu hề nhắc đến lệnh bà. Giờ trăm sự


có đổ xuống đầu con cũng ráng chịu, miễn sao lệnh bà che chở cho con là được!


- Ừ, ta hy vọng hắn cũng biết khôn, cắn răng mà chịu, không khai vung vãi ra


dính đến ai. Biết cắn răng thì sống, không thì chết, hắn làm bộ Hình lâu năm chắc cũng


biết cái luật đó rồi.


Một cung nữ vào, trình:


- Bẩm lệnh bà, hoàng thượng cho truyền…


Thái hậu tái mặt:


- Hoàng thượng cho gọi ta?


Giám Trần đứng bên cạnh run lẩy bẩy.


Cung nữ thưa:


- Bẩm lệnh bà, hoàng thượng cho gọi hoàng tử Miên Tông. Trưa nay hoàng


thượng ban cho hoàng tử được dùng ngự thiện với ngài. Hiện theo lệnh thái hậu, hoàng tử


đang bị biệt cấm. Bây giờ tính sao ạ?


Thái hậu thở phào:


- Bỏ lệnh biệt cấm ngay, chứ còn gì nữa! Mau bảo Miên Tông tắm rửa chuẩn bị


áo khăn tề chỉnh, hầu cơm hoàng thượng!


Vậy là Miên Tông thoát nạn cấm túc, khỏi nói, cậu vui mừng muốn điên lên, nhất


là khi biết tin cha Hằng đã được phụ hoàng xử cho trắng án. Việc này khiến cậu hoàng tử


nhút nhát cảm thấy tự tin. Thật hãnh diện được phụ hoàng gọi đến cho ngồi cùng mâm!


Dù đã mười lăm tuổi và là hoàng trưởng tử nhưng đây là lần đầu tiên cậu được cái vinh


dự ấy.


Chương 28


Miên Hoằng đòi nạp phi


Về phía vua Minh Mạng, sau vụ án Phạm Đăng Hưng, lần đầu tiên ngài tiếp xúc đặc biệt


với Miên Tông: Đứa con trai mà lâu nay ngài hơi coi thường vì cho rằng tính tình nhút nhát mềm


mỏng quá, không phải cung cách của bậc vương giả. Lần gặp gỡ vừa rồi, phong cách của Miên


Tông đã tạo được một ấn tượng tốt. Ngài nghĩ mình phải quan tâm đến đứa con này nhiều hơn.


“Phải dạy dỗ nó thành một người đàn ông thực sự.”


154


Trong cung cấm, sự việc gì dù cỏn con đến đâu cũng đủ cho cung này viện nọ xôn xao


bàn tán. Việc Miên Tông được hoàng đế ban ân cho cùng ngồi dùng ngự thiện chỉ hôm sau đã trở


thành đề tài bàn tán trong khắp các phi tần. Ai cũng phân bì, ao ước cho con mình được cái vinh


hạnh ấy.


Chỉ riêng trong Tây viện, chỗ ở của Thục tần Nguyễn Thị Bảo, là chẳng ai nhắc nhở.


Thục tần tuy tước vị cao nhưng mới chân ướt chân ráo vào cung, con cái chưa có đã đành, tính


tình lại ham mê sách vở thơ phú, chẳng ưa bàn chuyện linh tinh của thiên hạ. Cả ngày sinh nhật


thái hậu sắp đến mà nàng cũng vô tình chẳng biết, đến nỗi vua Minh Mạng - là người bận trăm


ngàn công việc - cũng phải lo thay cho nàng sủng phi còn trẻ người non dạ.


Hôm ấy vua Minh Mạng đang ngự đến, ngồi trước án thư, trước mặt ngài là một cuộn


giấy lớn.


Vua cầm bút lông, viết mấy chữ đại tự.


Nguyễn Thị Bảo đang nhìn vào gương cài lại trâm, thấy vua cầm bút, nàng chạy lại gần.


- Tâu, hoàng thượng viết gì thế?


Vua Minh Mạng quàng một tay qua vai ái phi:


- Trong đầu trẫm cả ngàn việc nhưng vẫn không quên lo cho ái khanh đây. Sắp tới ngày


mừng thọ thái hậu rồi, trẫm biết ái khanh còn vô tư không biết lo quà cáp đâu. Vì vậy trẫm viết


hai chữ Phúc và Thọ, ái khanh dùng cái này mà dâng tặng. Thái hậu nghĩ là ái khanh tự tay viết


để chúc mừng, tất sẽ hài lòng lắm!


Nguyễn Thị Bảo ghé đầu xem, hơi ngúng nguẩy tỏ ý không thích. Vua Minh Mạng hỏi:


- Sao, trẫm viết chữ có đẹp không?


Nguyễn Thị Bảo chỉ cười tủm tỉm.


- Tâu hoàng thượng, Phúc tối hậu, Thọ tối trường: Phúc rất dày, thọ rất dài ạ!


Vua Minh Mạng nhíu mày:


- Vậy là sao, ý khanh muốn nói gì?


Nguyễn Thị Bảo đưa tay chỉ vào nét ngang quá to của chữ phúc và nét dọc quá dài của


chữ thọ.


- Tâu, Phúc thế này thì không phải là phúc dày sao, cái chữ mập ú luôn. Thọ thế này


không phải là dài sao, nó cao lêu đêu thế này.


Vua Minh Mạng dừng tay, nhìn. “À há! Hm…” Vua im lặng, vẻ cụt hứng.


Nguyễn Thị Bảo hồn nhiên:


- Để thiếp sửa lại cho hoàng thượng!


Vua Minh Mạng lắc đầu:


- Trẫm quên mất là thư pháp của nàng giỏi lắm. Vậy mà trẫm lại đi lo cho nàng. Thôi,


trẫm không viết nữa, nàng tự viết đi.


Vua đứng dậy. Nguyễn Thị Bảo ngạc nhiên:


- Hôm nay hoàng thượng mới đến đã đi ngay sao?


- Hôm nay trẫm bận việc nên đến thăm ái khanh một chút thôi.


Nhà vua bước đi, được vài bước lại ngoái lại, cầm lấy bức tự mình vừa viết đem theo.


Vua ra khỏi Tây viện. Hoa trà mi nở rộ hai bên đường.


155


Bữa trưa hôm ấy vua dùng bữa ở cung thất của Hiền tần Ngô Thị Chính.


Sau bữa ăn ngon, vua nằm dài trên sập, chân gác lên gối thêu. Ngô Thị Chính tự mình


ngồi nhổ tóc sâu cho nhà vua.


- Có mấy sợi tóc xoăn, chắc là ngứa lắm! Thiếp nhổ hết đi rồi, hoàng thượng có thấy dễ


chịu không ạ?


Vua Minh Mạng mải cầm bức tự vừa viết lúc nãy lên xem, không nghe thấy câu hỏi.


Ngô Thị Chính ghé mắt nhìn.


- Ô, bức tự đẹp quá!


- Ái khanh thấy đẹp thật sao? - vua hỏi. Ngô Thị Chính gật đầu quả quyết:


- Đẹp lắm ạ, đúng là chỉ có hoàng thượng mới viết được như vậy!


Vua Minh Mạng vẻ còn nghi ngờ, hỏi dò:


- Ta thấy nét ngang của chữ phúc hơi to, nét sổ của chữ thọ cũng hơi dài! Nếu hai nét này


không quá khổ thì mới hài hòa, phải thế không?


Ngô Thị Chính nương theo:


- Đúng là vậy đó, nhưng cái hài hòa ấy chỉ là cái chữ đẹp bình thường của bọn văn nhân.


Chữ của hoàng thượng đẹp cách khác, cái đẹp uy nghi, ngạo nghễ khác người. Theo thiếp hai nét


ấy phải phóng khoáng cương mãnh như thế mới đúng là nét chữ quân vương!


Vua Minh Mạng nghe Chính nói lấy làm đắc ý:


- Đúng, đúng! Nàng nói đúng lắm! Trẫm thật may mắn có nàng là hồng nhan tri kỷ!


Ngô Thị Chính cảm động:


- Đâu phải ạ, chính là thiếp nhờ kiếp trước có tu nên kiếp này mới được nương bóng bậc


chí tôn tài ba đức độ như ngài.


Giọng nhà vua mãn nguyện:


- Vậy là ta với nàng cùng có phước cả, phải không?


- Dạ phải rồi! - Tiện dịp, Chính bắt sang câu chuyện đang ấp ủ trong lòng: - À, thiếp nghe


nói hôm kia hoàng thượng cho vời Miên Tông lại, ban cho cùng dự yến. Thật vinh dự cho Miên


Tông quá. Thiếp cứ dặn Miên Hoằng của thiếp phải cố gắng giỏi giang để may ra được ưu ái như


hoàng trưởng tử.


Vua Minh Mạng cười:


- Miên Tông là con đầu, lâu nay trẫm cứ cho là nó con nít, không mấy khi rảnh mà để


mắt đến nó. Nay chợt nhận ra nó đã lớn, suy nghĩ cũng đã chững chạc rồi. Vậy nên thỉnh thoảng


trẫm cho vời để còn dạy dỗ nó. Trẫm đang có ý này, định nói cho nàng nghe, chắc nàng sẽ vui


lắm!


Ngô Thị Chính hồi hộp:


- Tâu vâng, thiếp xin chờ nghe thánh ý.


- Ta thấy Miên Tông đã lớn, đã đến lúc phong tước Công cho nó, để nó chính thức là


hoàng tử Công được dự các lễ lớn ở Thái miếu và Thế miếu. Phần Miên Hoằng nhỏ hơn ít tuổi,


đáng ra chờ thêm vài năm mới phải, nhưng nhân dịp này ta cũng phong tước Công cho Hoằng


luôn. Nàng có biết vì sao đặc biệt gia ơn cho Hoằng như vậy không, ấy là nhờ - Ngài chỉ thẳng


156


ngón tay vào Chính - phúc đức tại mẫu, con nhờ phúc mẹ. Trẫm biết phong cho Tông mà chưa


phong cho Hoằng thì thế nào nàng cũng buồn, nên muốn cho nàng được vui đó!


Ngô Thị Chính mừng rỡ:


- Thần thiếp xin tạ ơn hoàng thượng! Hoàng thượng quả là chí thánh, nhìn suốt đến khắp


mọi nơi ạ!


Vua Minh Mạng hết sức hài lòng:


- Nàng nói đúng lắm, chỗ ẩn khuất nhất là cõi lòng của nàng mà trẫm còn soi thấu thì


chẳng có gì trẫm lại không biết! À này, cứ theo lệ trước, các hoàng tử đến mười lăm tuổi thì Tôn


Nhân phủ sức cho các nhà quan tiến con gái vào hầu. Việc này ta giao cho ái khanh lo liệu cho


cả hai đứa chúng nó.


- Tâu hoàng thượng, thiếp xin lo việc ấy. Nói thực là từ năm Miên Hoằng mới mười ba


tuổi, đã nhiều nhà quan muốn dâng con gái, danh sách thiếp ghi đến nay cũng dài lắm rồi.


Vua Minh Mạng gật đầu:


- Ừ, tốt lắm, ái khanh cứ chọn đi, nhưng phải chọn cẩn thận mới được. Con gái các đại


thần không phải cô nào cũng tử tế nết na cả đâu.


Tròn tháng sau, tại điện Văn Minh, lễ phong tước Công cho Miên Tông và Miên Hoằng


diễn ra.


Vua Minh Mạng ngồi trên ghế cao, các đại thần và tôn thất đứng hai bên.


Miên Tông và Miên Hoằng đứng bên nhau trước mặt vua. Cả hai cùng mặc áo hoàng tử


bằng gấm đỏ thêu rồng bốn móng. Theo lệ từ triều trước, áo vua thêu rồng năm móng, áo hoàng


hậu thêu phụng, áo hoàng tử cũng thêu rồng nhưng chỉ bốn móng thôi.


Thái giám tuyên đọc.


- Sắc phong hoàng tử Nguyễn Phúc Miên Tông tước Công, hiệu là Trường Khánh Công.


Phong hoàng tử Nguyễn Phúc Miên Hoằng tước Công, hiệu là Vĩnh Tường Công.


Hai thái giám bưng hai khay trên có quả ấn và giây thao trao cho hai hoàng tử.


***


Miên Hoằng cầm xấp giấy đọc tới đọc lui, rồi quăng phịch xuống bàn.


- Nhiều quá, nhiều quá, hàng mấy chục cô mà cô nào cũng chỉ có cái tên thôi.


Hiền tần Ngô Thị Chính bảo:


- Con phải xem kỹ đi, mẹ cho con chọn trước đó. Lần đầu kén cung tần, mỗi hoàng tử chỉ


được thu nạp một tiểu thư thôi.


Miên Hoằng nhăn nhó:


- Con xem rồi! Chỉ thấy nói cô này con quận công nọ, cô kia con thượng thư kia. Con có


biết các cô ấy béo gầy thế nào mà lựa chọn.


Hiền tần dỗ dành:


- Ông bà ta đã dạy từ xưa, lấy vợ xem tông, lấy chồng xem giống. Chọn vợ, quan trọng


nhất là gia thế, dòng dõi. Bên cạnh tên mỗi tiểu thư còn có lá số tử vi đó, con xem cho kỹ đi.


- Hứ, con không xem đâu, sao này cung kia rắc rối lắm, cái cần biết là mặt mũi xấu đẹp ra


sao thì không thấy.


157


- Hay là mẹ cho người vẽ truyền thần các cô cho con xem thấy dung nhan.


Miên Hoằng lắc đầu quầy quậy:


- Ối, ối, con cũng chẳng tin vào ngòi bút mấy lão họa sư của triều đình đâu! Mà


thôi, con chẳng chọn ai hết, con chỉ thích một người, mẹ cho người ấy vào hầu con là


nhất. Hiền tần lườm con.


- Biết rồi, con thích con Hằng chứ gì?


- Ủa, sao mẹ biết?


- Hiểu con có ai bằng mẹ. Mấy hôm nay nó mới xin phép về nhà thăm cha, con đã


cuống quýt lên rồi!


Miên Hoằng hoan hỉ.


- Vậy mẹ cho con Hằng vào hầu con nghe mẹ!


Hiền tần gật đầu:


- Mẹ cũng thích cái tính con Hằng lắm, lâu nay lưu nó trong cung cũng là có ý


chấm trước cho con đó! Để rồi mẹ tâu xin với phụ hoàng con.


Miên Hoằng nhảy cỡn lên vì mừng.


- Con tạ ơn mẹ! Mẹ tuyệt quá, khi nào cũng lo chu đáo cho con.


Mấy hôm nay thấy Hằng được về nhà, lại nghe tin cha Hằng không làm quan


trong Quảng nữa, về Kinh chờ bộ Lại sắp xếp, Miên Hoằng cảm thấy chột dạ, sợ e Hằng


về ở luôn với cha, không quay lại Đoan Trang viện nữa. Nay nghe mẹ hứa hẹn như vậy


thì cảm thấy như mở cờ trong bụng.


Cả Phạm Đăng Hưng, cả Hằng đều về nhà, một dịp hiếm hoi, nên Hạnh Thảo


cũng về thăm. Tai qua nạn khỏi, theo tục cũ của người dân Phú Xuân, nhà họ Phạm làm


lễ phóng sinh trên bờ sông Hương. Trên bãi cỏ ven sông, Hạnh Thảo tay xách lồng chim,


cúi đầu lâm râm khấn:


- Nay quan vừa thoát khỏi nạn lớn, thiếp theo ý tiểu thư, xin thả chim làm phúc để


tạ ơn trời đất.


Cô mở cửa lồng. Đàn chim vỗ cánh chập choạng một lúc rồi cùng nhau bay thẳng


lên trời.


Đăng Hưng nhìn theo cánh chim bay. Trời xanh quá! Đã bao nhiêu ngày rồi ông


mới được thanh thản nhìn trời. Quả thật là “Nhất nhật tại tù, thiên thu tại ngoại.”


Hạnh Thảo nhìn Đăng Hưng, mỉm cười, vẻ mặt chứa chan hạnh phúc.


Đăng Hưng bước tới gần nàng:


- Vậy là ta không phải chờ đến kiếp sau... Nàng có cho ta đền đáp ơn nàng ngay


trong kiếp này không?


Hạnh Thảo thẹn thùng:


- Quan lớn đừng nói vậy. Thiếp có làm gì mà dám nói ơn với nghĩa.


- Không có hoàng thượng sáng suốt thì ta đã chết. Không có hoàng trưởng tử kêu


cầu, hoàng thượng không biết. Không có Đăng Quế, hoàng trưởng tử không biết. Không


có nàng, Đăng Quế không biết. Ta chịu ơn nhiều người lắm, nhưng đầu tiên là nàng.


Hạnh Thảo cúi đầu:


158


- Thiếp là phận nô tỳ tất phải hết lòng trung nghĩa với chủ nhân. Xin quan lớn đừng nặng


lòng quá mà thiếp mang tội lớn.


Đăng Hưng cầm tay Hạnh Thảo:


- Không, ta không coi nàng là nô tỳ, chưa bao giờ ta coi nàng là nô tỳ cả.


Hạnh Thảo cảm động, để yên bàn tay giây lát, rồi nói với giọng hơi nghèn nghẹn:


- Thiếp tự biết phận mình chứ! Thôi, trời đã xế chiều, để thiếp về phủ kẻo công chúa lại


mong!


Gỡ tay Đăng Hưng, Hạnh Thảo đi thật nhanh xa dần.


Đăng Hưng cảm kích nhìn theo…


Chương 29


Ân sủng đặc biệt của hoàng đế


Đầu tháng Thìn, quan quân triều đình chiến thắng giặc Đá Vách trong Quảng Ngãi, rầm


rộ kéo quân về kinh đô.


Ngày Vọng, tức ngày rằm cùng tháng, vua Minh Mạng ngự lễ đại triều, sai các quan bộ


Binh chuẩn bị ban thưởng cho toàn thể tướng sĩ.


Thái giám đứng dưới bệ hô to:


- Quốc công Tiết chế Lê Văn Duyệt nhập triều!


Lê Văn Duyệt hiên ngang đi vào. Được hưởng quy chế “nhập triều bất bái”, ra mắt vua


không phải lạy, vì vậy Tả quân chỉ đứng chắp tay:


- Thần Lê Văn Duyệt ban sư hồi trào, xin ra mắt thánh hoàng.


Vua Minh Mạng thấy Lê Văn Duyệt đứng sừng sững trước mặt mình thì bất giác hơi khó


chịu, nhưng cố không lộ ra, lấy giọng ôn tồn:


- Lão thần vì nước nhà chinh chiến, chẳng quản gian lao. Nay bình định được giặc Đá


Vách, công ấy lớn lắm! Trẫm ban cho khanh chung ngự tửu này, để tỏ lòng quý trọng tin yêu của


trẫm.


Thái giám bưng khay có chung rượu đến bên. Vua tự tay bưng chén bước xuống mời Lê


Văn Duyệt.


Tả quân Lê Văn Duyệt điềm nhiên, mặt không đổi sắc:


- Hạ thần xin nhận.


Uống cạn ly, Tả quân tâu vua:


- Tâu hoàng thượng, thần đến Quảng Ngãi, điều tra sự tình, biết tên quan gian ác là Lê


Quốc Huy cai trị quá tàn bạo gây nên mầm loạn. Thần đã dùng kiếm lệnh của hoàng thượng


chém đầu y để chiêu an. Quả nhiên dân Đá Vách đều hả lòng hả dạ, chẳng bao lâu tù trưởng của


họ đã đến tận trại quân xin quy phục.


Vua Minh Mạng ban hỏi, giọng ân cần nhưng kín đáo pha chút ngạo nghễ:


- Quốc công từ thời theo phò tiên đế, mỗi lần dẹp giặc đều chủ trương đánh phủ đầu. Lâm


trận thì nổi tiếng sát khí đằng đằng, quân địch nghe tiếng đã sợ mất mật. Sao nay lại bỗng nhiên


159


thay đổi chiến sách, khéo léo chiêu hàng. Có lẽ nay tuổi cao sức yếu, tính khí trầm tĩnh hơn trước


hay chăng?


Lê Văn Duyệt nhếch mép cười:


- Tâu hoàng thượng, lão thần tuy tuổi cao nhưng sức chưa yếu, lúc nào cũng sẵn sàng xả


thân ở trận tiền. Lần này sở dĩ tiết kiệm được sức lực, nhân mạng, lương tài khí giới cho triều


đình - Tả quân nhấn mạnh giọng ở mấy tiếng “cho triều đình” - một phần cũng nhờ có lời hiến


kế của Phạm Đăng Hưng. Nhờ biết rõ dân tình, nên mới có cách không đánh mà thắng.


Nghe nhắc tới Phạm Đăng Hưng, vua Minh Mạng dịu nét mặt, gật đầu:


- Quả thật hiểu lòng dân thì tự nhiên giặc giã yên, chăm sóc dân thì tự nhiên bốn phương


no đủ. Vậy là trong việc thắng giặc này, Đăng Hưng cũng có một phần công trạng, trẫm sẽ nhớ


ban thưởng cho y.


Ngày Sóc, tức mồng một, cùng tháng, tại điện Cần Chánh, vua Minh Mạng cho gọi Phạm


Đăng Hưng vào chầu.


Phạm Đăng Hưng vừa bước vào, vội sụp lạy dưới thềm:


- Hoàng thượng vạn tuế! Hoàng thượng chí công chí minh, đã rửa sạch cái oan nhục cho


thần. Ân đức ấy thần đền đáp biết bao giờ cho hết.


Vua hết sức đẹp lòng, bước ra, dắt tay Phạm Đăng Hưng đỡ dậy:


- Tên tham quan khốn kiếp biến trắng thành đen, làm khanh phải chịu dãi dầu khổ cực.


Trẫm nghĩ tới chuyện đó, lòng rất thương xót. Vì vậy để cho khanh nghỉ ngơi dưỡng sức một


thời gian. Nay xem chừng khanh đã hồi phục, nên trẫm gọi khanh vào để tính chuyện giao công


việc mới cho khanh đây.


Đăng Hưng sốt sắng:


- Tâu, thần chịu ơn hoàng thượng đến tận chân tơ kẽ tóc, dù giao việc gì nặng nhọc nguy


hiểm mấy thần cũng không từ.


- Chính ta muốn giao một việc rất khó đây, nhưng việc khó này nhất định không gây


nguy hiểm cho khanh.


- Tâu hoàng thượng, việc gì thần cũng tuyệt đối không nài hà.


Vua Minh Mạng gật đầu:


- Tốt lắm, vậy khanh nghe đây. Từ lúc ta lên ngôi đến nay, thấy khanh đã hai lần gặp trắc


trở trên đường hoạn lộ. Lần thứ nhất vì khanh sơ suất trong việc phong thần, ta định nghiêm trị


cho khanh sửa chữa rồi sẽ tìm dịp cất nhắc. Chưa kịp cất nhắc thì khanh lại sơ suất lần thứ hai.


Vì sao khanh thường sơ suất như vậy, khanh có nghiệm ra không?


Đăng Hưng cúi đầu:


- Thần vì kém cỏi nên không tròn nhiệm vụ, thần biết tội ạ!


Vua Minh Mạng cười sảng khoái:


- Không, khanh không hề kém cỏi, trái lại khanh là bề tôi giỏi của trẫm. Luận về chữ tâm,


chữ tài cái gì khanh cũng hơn người, trong triều hiếm ai được như khanh. Nhưng trong công


việc, khanh hay lỡ lầm, chính là vì khanh quá tốt!


Đăng Hưng ngỡ ngàng:


- Tâu hoàng thượng, sao ạ?


160


- Chính vì lòng khanh trong sáng nên khanh không lường được sự bất trắc của người đời.


Khanh càng tin người thì khanh càng dễ dàng sa bẫy. Khanh càng cầm quyền, cầm tiền trong tay


thì khanh càng dễ bị họa sát thân, vì những thứ đó thường kích thích kẻ xấu thêu dệt mưu gian.


Vì vậy, nay ta không giao cho khanh công việc cai trị hay quản thủ của cải, ta giao cho khanh


một công việc khác, việc này rất nặng nề quan yếu, nhưng rất hợp với phẩm chất ngay thẳng


trong sáng của khanh!


Đăng Hưng không thể không hồi hộp:


- Tâu hoàng thượng, thần xin chờ nghe mệnh lệnh.


Vua Minh Mạng cất cao giọng:


- Nay trẫm giao cho khanh làm Tổng tài Quốc sử quán, lo việc chép sử, kiêm cả việc biên


soạn gia phả cho hoàng tộc. Việc này khó lắm không phải dễ, bởi cầm bút viết một chữ không


khó, nhưng để viết một chữ đôi khi phải chống chọi lại với ngàn binh đao trước mặt. Không


vững vàng, bản lĩnh, không làm việc này được! Biết vậy nên trẫm ân cần giao cho khanh. Khanh


hãy nhớ lời trẫm!


Đăng Hưng bàng hoàng, cảm động:


- Hoàng thượng sáng suốt, đã hiểu thần hơn cả chính thần! Người xưa nói kẻ sĩ gặp được


người hiểu mình, có thể chết không ân hận. Thần nay quả thật có chết cũng không tiếc gì nữa!


Vua Minh Mạng hết sức vui vẻ, đỡ Đăng Hưng đứng lên:


- Đứng dậy đi. Trẫm còn một tin mừng này nữa cho khanh, nay trẫm báo cho khanh biết.


- Tâu, thần xin chờ nghe thánh ý.


- Trẫm nghe nói khanh có một con gái, nay tuổi đã mười bốn, dung nhan xinh đẹp tính


tình thảo hiền. Nay trẫm ban ơn cho con gái khanh vào làm cung tần cho hoàng tử. Khanh hãy về


chuẩn bị, chờ bộ Lễ chọn được ngày lành tháng tốt rồi trẫm sẽ cho tiến cung.


Đăng Hưng hoàn toàn bất ngờ, trong giây lát bỗng rụng rời tay chân. Lát sau mới lắp bắp:


- Tâu… Tâu…


Vua Minh Mạng cười lớn, hân hoan:


- Khanh đừng khiêm nhượng gì nữa, hãy vui nhận cái vinh dự này, vì khanh rất xứng


đáng. Thái giám, hãy dẫn Phạm tổng tài ra nhà Tả vu nhận quà ban thưởng của trẫm.


Dứt lời vua đứng dậy đi vào cung.


Phạm Đăng Hưng đứng sững như trời trồng.


Cha được bổ phong chức mới, con gái được tiến cung, thật còn vinh dự nào hơn. Bao


nhiêu nhà quan chỉ mong có vậy mà không được. Tối hôm ấy trong phủ Phạm, Đăng Hưng ngồi


lặng trên ghế, suốt buổi không nói một tiếng nào.


Hằng thấy cha buồn cũng rơm rớm nước mắt:


- Dạ, con biết cha thương con, nhưng chối từ thì e hoàng thượng nổi giận, mang tội


không nhỏ.


Đăng Hưng thở dài:


- Không phải cha sợ cái uy của hoàng thượng, mà khổ nhất là ràng buộc bởi cái tình.


Hoàng thượng công tâm với cha như vậy, cha vừa nói cái mạng không tiếc, không lẽ việc này lại


đắn đo với ngài cho được.


161


Hằng an ủi:


- Thôi cha đừng buồn nữa, cũng là cái số con nó xui nên vậy! Mà cha có nghe hoàng


thượng nói vời con vào cung làm cung tần cho hoàng tử nào không?


- Hoàng thượng không nói! Nhưng cha nghe thái giám bảo là hình như bà Hiền tần họ


Ngô có ý xin con cho hoàng tử Miên Hoằng.


Hằng kêu lên:


- Trời ơi! Miên Hoằng! Chết con rồi cha ơi!


Lâu nay ở trong cung Hiền tần, Hằng cũng biết rõ là Hoằng rất thích mình. Thật ra Miên


Hoằng cũng là một chàng trai dễ thương, hồn nhiên, mạnh khỏe và hoạt bát. Nói cho đúng thì


không có gì để chê. Nhưng tự nhiên Hằng không thấy thích, trước các trò trêu ghẹo của anh


chàng, cô luôn tìm cách khéo léo tránh né. Nay cảm thấy mình sắp bị ghép đôi với anh ta, cảm


giác sợ hãi chợt dâng trào trong lòng Hằng, không kiềm chế được.


Còn một lý do nữa, một lý do âm thầm khó mà thổ lộ cho cha biết… Mà thổ lộ để làm gì


khi lệnh vua đã ban ra, chẳng còn cách gì chạy trốn được số phận đã an bài.


Cô buồn rầu khóc cả đêm, làm cho Phạm Đăng Hưng thương con đứt ruột mà không biết


tính sao.


Mấy hôm sau, hết hạn nghỉ thăm nhà, Hằng trở lại hoàng cung. Hôm nay Đăng Quế dạy


võ cho các hoàng tử. Trong vườn, các hoàng tử đang chia thành từng cặp tập so gươm với nhau,


tay cầm những thanh gươm bằng gỗ tùng.


Hằng vẫn ngồi trên chiếc ghế quen thuộc trên hành lang nhìn ra, vẻ mặt buồn thiu.


Hết buổi học, Hằng về phòng riêng, đi lủi thủi một mình. Thình lình, Miên Tông nấp sau


một bụi cây ven đường nghịch ngợm nhảy xổ ra.


Hằng giật mình, nhận ra Miên Tông, cô gượng cười.


Miên Tông vẻ hí hửng:


- Hằng đừng vội về, đến đây, tôi chỉ cho cái này hay lắm!


Dẫn Hằng chạy qua các lối đi loanh quanh, Miên Tông dừng trước một chiếc đu treo lủng


lẳng dưới vòm hoa tường vi trắng.


Miên Tông rủ Hằng trèo lên chiếc đu, cả hai vừa đánh đu vừa nô đùa.


- Cả đời tôi chưa bao giờ thấy vui thế này đấy Hằng ạ!


Hằng đang cười, nghe Miên Tông nói vậy bỗng rầu rầu.


- Hằng sao vậy?


- Không, không có gì đâu!


Miên Tông nhìn kỹ mặt Hằng, hỏi gặng:


- Sao Hằng buồn. Tôi có làm gì khiến Hằng giận không?


- Không, hoàng tử tốt với Hằng lắm! Hằng chỉ buồn vì sợ mai đây không còn được vui


với hoàng tử như vầy nữa.


Miên Tông tưởng Hằng nghi ngờ mình, liền quả quyết:


- Hằng không tin tôi sao? Tôi thề cả đời chỉ làm cho Hằng vui, không bao giờ để cho


Hằng phải buồn, phải khổ đâu.


Hằng cúi mặt, thổn thức:


162


- Tạ ơn hoàng tử. Chỉ tiếc Hằng không có được cái may mắn được nhận tấm lòng của


hoàng tử thôi. Nay mai Hằng đã trở thành cung tần của hoàng tử Miên Hoằng rồi!


Miên Tông khựng lại:


- Cái gì? Nàng? Thành cung tần của Miên Hoằng? Ai nói vậy?


Hằng rơm rớm nước mắt.


- Hoàng thượng. Chính hoàng thượng truyền cho cha Hằng, bảo là chuẩn bị sẵn chờ ngày


tiến cung.


Miên Tông dậm chân, nhảy xuống đất:


- Thật có vậy ư? Trời ơi, làm sao bây giờ? Hoàng thượng có nói đích xác là vời nàng vào


cung cho Miên Hoằng không?


- Hình như hoàng thượng chưa nói đích xác, nhưng thái giám bảo với cha Hằng như vậy!


- Hằng nói rồi bưng mặt khóc.


Thấy Hằng khóc, Miên Tông cuống quýt:


- Nàng đừng khóc, đừng khóc! Hằng ơi, ta sợ nhìn thấy nàng khóc lắm. Nếu hoàng


thượng chưa nói đích xác, thì ta nghĩ chưa hết hy vọng đâu…


Anh chàng vốn nhút nhát là Miên Tông, vì tình yêu với Hằng mà trở thành can đảm trong


việc kêu cầu cho Phạm Đăng Hưng, nay lại vì tình yêu với Hằng mà làm thêm một chuyện liều


lĩnh nữa…


Cuối tuần trăng, trong điện Càn Thành, vua lại gọi Miên Tông đến cùng dùng cơm. Từ


lúc thấy Tông đã trưởng thành và có vẻ cũng có tư chất, nhà vua thỉnh thoảng cho cậu được gần


mình để bảo ban, uốn nắn. Việc ấy được thái hậu ủng hộ, nên đã thành một cái lệ trong cung.


Cố kiên nhẫn chờ cho vua cha dùng gần xong bữa, Miên Tông lấy hết can đảm nói một


hơi:


- Tâu phụ hoàng, Ngô Hiền tần nói là sắp kén con gái nhà quan để làm cung tần cho con.


Con thấy con gái Tổng tài Phạm Đăng Hưng nết na xinh đẹp, con rất muốn có người ấy, xin phụ


hoàng chuẩn y cho phép!


Vua Minh Mạng hơi bất ngờ, nhíu mày nhìn Miên Tông, một lúc sau mới hỏi:


- Nội trong kinh thành biết bao nhiêu tiểu thư khuê các, sao ngươi không chọn? Lẽ nào


trên đời chỉ có một người con gái sao?


Miên Tông vẫn chăm chăm:


- Tâu phụ hoàng, lòng con đã quyết, suốt đời chỉ chọn một mình Phạm tiểu thư thôi ạ!


Nhà vua hứ một tiếng:


- Nói bậy! Làm trai thường dân cũng đã năm thê bảy thiếp, làm vương công hoàng tử thì


sau này trong viện ngoài phủ phải ít nhất năm sáu chục đàn bà. Càng nhiều thê thiếp càng chứng


tỏ mức độ giàu sang cao quý. Ngươi là con vua, sao lại tự hạ mình xuống hạng cùng đinh khố


rách, cái hạng ấy mới cả đời chỉ có một vợ.


Miên Tông vẫn cương quyết.


- Tâu phụ hoàng, con thường đến miếu thờ mẹ con thắp nhang, mỗi lần nhìn mẹ trong


bức tranh con thấy cốt cách dịu dàng phảng phất như Phạm tiểu thư. Nếu không được con gái họ


Phạm thì con không cần ai hết ạ!


163


Vua Minh Mạng lắc đầu, thở dài.


- Thôi hãy khoan nói việc này, để trẫm xem đã.


Miên Tông đi rồi, nhà vua về tẩm điện, vừa đi vừa nói với Trung Trực:


- Trung Trực, trẫm khó nghĩ quá. Không biết con gái Phạm Đăng Hưng có gì hay mà cả


hai đứa nó đều thích. Bây giờ nạp cung cho đứa này thì đứa kia lại oán trẫm. Trẫm biết tính sao


đây.


Trung Trực dò ý:


- Tâu hoàng thượng, làm con phải vâng mệnh cha, hoàng thượng phán cho hoàng tử nào


thì hoàng tử ấy được ạ! Ai không được phải chịu chứ, lẽ nào lại dám oán trách hay sao?


- Hiền tần đã xin cho Miên Hoằng, không cho thì cũng tội nghiệp cho nàng. Mà cho thì


phải từ chối Miên Tông, thực tình lòng trẫm cũng không nỡ. Chưa biết tính sao đây!


Trung Trực gõ trán:


- A, hạ thần có một kế này, chắc là dùng được!


- Kế làm sao, mau nói trẫm nghe.


- Hoàng thượng cho hai hoàng tử thi tài, ai thắng thì được lấy Phạm tiểu thư. Như vậy dù


ai thua cũng cam tâm, không thể nói là hoàng thượng bất công.


Vua Minh Mạng gật gù:


- Thi tài? Ý ấy hay lắm! Cũng là nhất cử lưỡng tiện, nhân đây trẫm xem xét giữa hai anh


em chúng nó ai hơn ai thua.


Vua nghĩ thầm, không nói: “Nạp phi là chuyện nhỏ, còn chuyện lớn hơn nữa kia… Để


xem bản lĩnh hai đứa con ta ra sao!”


Chương 30


Cuộc tranh tài


Trong vườn ngự, Miên Tông đi lui đi tới, sốt ruột chờ tin. Thấy Giám Lê thò ra từ một


ngách nhỏ dẫn từ nhà Hữu Vu, Miên Tông lộ rõ vẻ mừng, mắt sáng lên chờ đợi.


Giám Lê chạy lại gần. Miên Tông nôn nóng:


- Gặp Trung Trực chưa?


- Rồi, rồi!


- Bây giờ phụ hoàng tính sao?


- Cho hai hoàng tử thi tài.


Miên Tông dậm chân:


- Chuyện thi tài thì ta đã biết tin rồi. Nhưng thi tài thế nào, thi cái môn gì?


Giám Lê nhăn nhó:


- Dạ, con hỏi kỹ Trung Trực rồi, hoàng thượng nghe theo lời Hiền tần, quyết định cho hai


hoàng tử thi bắn cung!


164


Miên Tông há miệng, ngã ngồi xuống chiếc ghế đá sau lưng:


- Bắn cung!


- Dạ! Trung Trực nói hoàng thượng phán rằng, cung đạo là đỉnh cao của võ nghệ, môn


này thường ngày ngài vẫn dụ ban các hoàng tử phải chú tâm rèn luyện. Nay lấy ra làm đề thi


tranh tài cao thấp.


Miên Tông chết điếng người, lặng đi không nói được tiếng nào. Bởi tuy mỗi lần đến thăm


lớp học hoàng gia, phụ hoàng đều có ban bảo như vậy thật, nhưng có mấy hoàng tử chịu siêng


năng luyện tập đâu. Nhất là Miên Tông, vốn ham chuyện chữ nghĩa thơ phú chứ võ nghệ thì môn


nào cũng chỉ ở mức trung bình. Chỉ riêng Miên Hoằng, vì vua thường xuyên lui tới cung Hiền


tần, thói thường ở nhà vua chúa bao giờ cũng vậy, mẹ được yêu thì con mới được ẵm. Miên


Hoằng thường được đi tập võ, đi săn cùng với hoàng đế. Luôn luôn xuất hiện dưới con mắt


nghiêm khắc của phụ hoàng, làm sao mà kém cỏi được? Hơn nữa khí chất Hoằng mạnh khỏe,


hiếu động, nên nói về võ nghệ thì món nào mà Hoằng chẳng hơn hẳn các anh em khác.


Chiều hôm ấy Hằng từ lớp học bước ra, đi thong thả giữa hai hàng tử vi đầy hoa. Chợt cô


nghe tiếng Miên Tông:


- Hằng ơi!


Hằng dừng lại nhìn. Vẻ mặt Miên Tông hôm nay bơ phờ như người ốm dậy.


- Hằng đây. Hoàng tử làm sao vậy?


Miên Tông không trả lời, hỏi Hằng:


- Hằng ơi, Hằng có đủ can đảm không?


- Chi vậy, sao hoàng tử lại hỏi vậy?


Miên Tông thở dồn dập:


- Hằng, Hằng có dám trốn đi với tôi không?


Hằng kêu lên như dẫm phải gai:


- Á! Trốn đi? Trốn đi đâu?


- Trốn đi một nơi nào đó thật xa. Tôi sẽ đưa Hằng đi, tôi che chở cho Hằng cả đời.


Hằng giẫy nẩy:


- Chao ôi, Hằng sợ lắm!


Miên Tông nài nỉ:


- Hằng đừng sợ. Mình sẽ đi với nhau như Phạm Lãi cùng với Tây Thi đi ngao du Ngũ Hồ


vậy. Hằng có nhớ tích đó không?


Hằng vẫn lắc đầu quầy quậy:


- Nhưng… Sao hoàng tử lại nói những chuyện kỳ lạ vậy. Hằng không dám nghĩ tới


chuyện đó! Vả lại hoàng tử còn địa vị cao quý trong cung, sao có thể đùng một cái bỏ đi lang


thang như vậy được?


Miên Tông vẻ thiểu não:


- Ở trong cung có gì vui đâu, chỉ vui vì có Hằng, nếu nay mai Hằng thuộc về người khác


thì tôi đâu có thiết ở trong cung làm gì nữa. Bây giờ hoàng thượng bắt tôi phải thi bắn với Miên


Hoằng, ai hơn thì được lấy Hằng.


Hằng nghe nói vậy, cũng phát hoảng:


165


- Thi bắn? Trời ơi, thôi rồi, Hằng thấy giờ học bắn hoàng trưởng tử có bao giờ bắn trúng


đâu.


- Thế mới chết. Bảo tôi thi với cái thằng thiện xạ đó thì tôi thua là cái chắc rồi. Phải trốn


đi thôi Hằng ạ! Hằng hãy tin tôi, tôi thương Hằng cả đời này không bao giờ hết thương.


Hằng mếu máo:


- Không được đâu hoàng tử ơi! Hằng mà trốn đi như vậy, cha Hằng ở nhà nhục nhã chịu


làm sao cho thấu.


Miên Tông khùng lên:


- Thế Hằng chịu ở yên cho người ta đưa vào cung làm vợ Miên Hoằng sao?


Hằng lắc đầu:


- Không! Không! Mà sao hoàng tử không gắng lên, tập bắn cho giỏi, quyết tâm thi thố


xem sao?


- Hừ, nói nghe thì dễ lắm, còn có tuần trăng nữa là thi rồi, tôi có mọc thêm ba đầu sáu tay


cũng không tập luyện cho kịp!


Hằng dỗ dành:


- Ráng lên đi hoàng tử ơi, hoàng tử thương Hằng thì ráng lên đi.


Mắt Miên Tông đỏ au lên:


- Không ráng nổi Hằng ạ, tôi biết sức tôi mà!


Miên Tông và Hằng nhìn nhau, chỉ còn biết cùng nhau khóc vùi trong một góc vườn


Ngự.


Giữa lúc tuyệt vọng hoàn toàn, chợt trong lòng Hằng lóe lên một ý nghĩ.


Không nói cho Miên Tông biết, ngày mai lại nhân lúc Trương Đăng Quế vào cung dạy


học, cô tìm gặp anh.


Khi ấy trời chiều, lớp học vừa xong. Trương Đăng Quế một mình bước trên lối đi. Trên


vẻ mặt anh phảng phất một nỗi buồn âm thầm.


- Anh Quế!


Đăng Quế giật mình đứng lại. “Hằng đấy à?”


Hằng lại gần:


- Em đây. Em có chút việc này muốn nhờ anh!


- Nghe nói Hằng sắp làm dâu hoàng thất rồi, còn gì phải nhờ anh nữa.


Hằng nhăn mặt:


- Anh cũng trêu em như mọi người sao. Ai gặp em cũng chúc mừng, mà chẳng ai biết là


em khổ tâm lắm!


Đăng Quế giọng nửa đùa cợt, nửa mát mẻ:


- Vào cung hầu hoàng tử, danh giá vẻ vang như thế, còn khổ tâm cái gì.


Hằng bực mình:


- Anh Quế, anh tệ lắm. Trước đây anh đã nói thương em như là em gái của anh, em cũng


coi anh như người anh cả. Vậy mà nay anh không hỏi han gì đến tâm sự của đứa em gái này, chỉ


nói những lời chia vui hời hợt cũng như người lạ. Anh làm em tủi lắm!


Đăng Quế vội vàng dịu giọng.


166


- Em có tâm sự gì, hãy nói cho anh nghe đi!


Hằng thở dài thậm thượt:


- Anh Quế ơi, nay hoàng thượng truyền thi bắn cung…


Cô kể lể hết tất cả sự tình. Đăng Quế nghĩ thầm trong bụng: Miên Tông và Miên Hoằng


đều là học trò của ta, sức học của cả hai, nếu đem văn tài mà thi thì Miên Tông hơn chắc. Còn


đem võ nghệ thì Hoằng nhất định là hơn. Chọn thi bắn cung, chắc chắn là do Hiền tần xui hoàng


thượng, để giành phần thắng cho con mình rồi, nhưng cũng do tính cách hoàng thượng mạnh mẽ,


chuộng võ. Bây giờ ý trên đã quyết, xoay chuyển rất khó. Mà đằng nào, ai thắng ai thua thì Hằng


cũng sẽ phải vào trong hậu cung, mình không gặp Hằng nữa rồi. Dẫu mình có vào cung dạy học,


cũng vẫn mãi mãi kẻ bên ngoài, người bên trong Tử Cấm Thành, suốt đời cách biệt.


Nghĩ đến đó Đăng Quế cảm thấy đau lòng. Hằng nói mấy lần, anh mới sực nghe:


- Hằng sợ lắm anh Quế à! Anh Quế cố gắng giúp Hằng đi?


Đăng Quế bồi hồi:


- Em muốn anh giúp như thế nào đây?


- Anh bắn cung còn giỏi gấp mấy Miên Hoằng, bây giờ anh dạy liền cho Miên Tông, họa


chăng Miên Tông giành được phần thắng!


Đăng Quế nhìn chăm vào mặt Hằng:


- Vậy nghĩa là… em muốn Miên Tông thắng cuộc? Nghĩa là trong lòng em đã chọn Miên


Tông?


Hằng lúng ta lúng túng:


- Thì em thấy… Miên Tông hiền lành hơn, sâu sắc hơn, lại có hoàn cảnh rất đáng


thương…


Đăng Quế như bị một đòn ngầm vào tim:


- Thôi, em không cần nói nữa, anh đã hiểu rồi!


Im lặng, Đăng Quế cố giấu cảm giác đau đớn. Hằng quá lo âu nên không để ý, vẫn tiếp


tục năn nỉ:


- Anh Quế ơi, anh ráng giúp em có được không anh? Em nghĩ giờ chỉ còn một cách đó


thôi!


Đăng Quế cố trấn tĩnh, đưa tay quệt mồ hôi đang rịn ra trên trán:


- Việc này… Việc này khó lắm em ạ!


Hằng khẩn khoản.


- Sao vậy anh? Xưa nay em nhờ gì, anh cũng đâu có bao giờ chối từ?


Đăng Quế đã lấy lại bình tĩnh:


- Em quá lo nghĩ nên đã mất đi sự sáng suốt thường ngày rồi! Từ đây đến ngày thi bắn


chỉ có một tuần trăng, một người bắn đã kém làm sao tập luyện mà vượt lên cho kịp!


Nước mắt Hằng chảy quanh:


- Em biết hy vọng mong manh lắm. Nhưng em không bao giờ bỏ rơi hy vọng. Cố gắng


thêm một lần, còn hơn ngồi chờ số phận sao?


Đăng Quế lắc đầu:


- Tội nghiệp Hằng, anh biết làm sao bây giờ.


167


Hằng thấy Quế cứ chối dài thì hoảng hốt như người đuối nước sắp mất chiếc phao, quên


cả giữ gìn, nắm chặt hai bàn tay Quế van lơn:


- Giúp em đi anh, em năn nỉ anh đó. Có lần em nghe anh nói bắn cung giỏi hay không là


nhờ những bí quyết chứ không phải cứ tập nhiều là được. Anh hãy bày những bí quyết đó cho


Miên Tông đi!


Đăng Quế buồn đứt ruột, nhưng thấy Hằng tha thiết quá, đành phải xuôi theo:


- Thôi được, anh sẽ giúp em, quả thật xưa nay chưa bao giờ anh từ chối em điều gì cho


được. Nhưng anh không dám bảo đảm kết quả đâu đấy!


Hằng chỉ cần có thế, mừng quýnh:


- Dạ, em biết anh thương em lắm. Anh hứa đi, nhất định sẽ giúp Miên Tông.


Đăng Quế gật đầu:


- Được rồi, quân tử nhất ngôn, anh đã nói là không bao giờ rút lại lời đâu. Thôi, em về đi.


Hằng nhỏ nhẹ:


- Dạ, thong thả thôi, em có gấp gì đâu.


- Thôi, về đi!


Hằng ngạc nhiên, bỡ ngỡ đưa đôi mắt trách móc nhìn Quế.


- Đã bảo về đi! - Quế gắt.


Hằng sững người vài giây, muốn hỏi, nhưng lại thôi. Đăng Quế chợt nhắm mắt, gọi giật.


- Hằng!


Hằng quay lại:


- Em đây.


Đăng Quế lại mở mắt, lắc đầu, xua tay.


Hằng ngơ ngác, buồn bã bước đi.


***


Trên tấm bia lớn là một hình tròn, với mười vòng lớn nhỏ gọi là thập viên, tuần tự xoay


quanh hồng tâm. Các vòng này được ghi tên theo tên gọi của thập can, tức là Giáp, Ất, Bính,


Đinh, Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quý. Giáp viên, vòng thứ nhất gần hồng tâm nhất, Quý viên -


vòng thứ mười là vòng lớn nhất, xa nhất.


Một mũi tên lao vút tới, rồi một, rồi một mũi nữa. Tất cả đều trật ra ngoài Kỷ viên - vòng


thứ sáu.


Miên Tông vứt cánh cung xuống đất, dậm chân thất vọng.


Đăng Quế bước tới gần, ôn tồn:


- Hoàng trưởng tử hãy nhìn kỹ tư thế của tôi đây.


Đăng Quế chậm rãi giương cung, thả dây cho tên lao đi.


Mũi tên cắm ngay vào hồng tâm. Lại một mũi tên nữa cắm ngay vào đốc của mũi tên


trước, chẻ đôi mũi tên ấy ra.


Miên Tông xuýt xoa.


168


- Cung thuật của sư phó thật là tuyệt, biết bao giờ đệ tử mới tập cho được như vậy! -


Miên Tông hăm hở lắp tên, giương cung. Tất nhiên, lần này lại bắn sai.


Đăng Quế nổi nóng:


- Đã tập cho hoàng tử đến thuộc lòng từng động tác một, kỹ đến thế không thể nào còn kỹ


hơn được nữa. Vậy mà vẫn chẳng tiến bộ chút nào!


Miên Tông bứt tóc, buồn hiu:


- Đệ tử quá vụng về, thật uổng công dạy dỗ của sư phó.


Miên Tông ngồi phịch xuống đất, buồn rầu.


Đăng Quế trấn tĩnh lại.


- Hoàng trưởng tử khoan vội thất vọng, hãy nghe tôi nói đã. Hoàng tử hãy bỏ cung tên


xuống, đứng lên, hãy nhìn ra phía trước. Hoàng tử thấy gì trước mắt?


Miên Tông nhìn:


- Dạ, thấy cái bia ạ!


- Trên cái bia, là gì?


- Dạ, hồng tâm ạ!


Đăng Quế giảng giải, chậm rãi, kỹ càng từng tiếng một:


- Hoàng tử đứng trước hồng tâm, và mong muốn chinh phục nó với mũi tên của mình.


Phải vậy không?


- Dạ, đúng như vậy ạ!


- Vì mong muốn bắn trúng, nên cảm thấy lo sợ bắn trật. Từ đó hơi thở hấp tấp, cử chỉ nôn


nóng, tất nhiên không làm chủ được mũi tên. Vì vậy trước hết phải quên cái tham vọng chinh


phục đó đi. Hãy chỉnh đốn tư thế, hít thở thật đều và sâu, giữ cho tâm tĩnh lặng, nhìn vào hồng


tâm, nhìn cho đến lúc thấy hồng tâm với mình là một!


Miên Tông đứng im, hít thở sâu, dõi mắt ra phía trước.


Đăng Quế nói tiếp:


- Đó là thuật nhiếp tâm, yếu quyết của cung đạo. Một khi mình với hồng tâm là một rồi,


sẽ không bị ám ảnh bởi nỗi sợ bắn sai đích nữa. Lúc đó, nếu đã đạt đến trình độ hoàn thiện từng


động tác, thì chỉ cần buông dây, mũi tên sẽ tự lao đến đích! Hoàng tử đã hiểu chưa?


Miên Tông tỉnh ngộ:


- Lời sư phụ làm đệ tử thấy mình như đi từ chỗ tối vào chỗ sáng vậy! Đệ tử hiểu rồi!


Đăng Quế gật đầu:


- Hoàng tử thông minh sáng dạ lắm. Về thuật nhiếp tâm, nói thì dễ, thực hành không phải


được ngay lập tức đâu. Phải kiên trì ngày đêm rèn luyện mới được!


Miên Tông lễ phép cúi đầu:


- Đệ tử xin nghe lời sư phó. Cho dù không chiến thắng được cuộc thi, ít ra cũng chiến


thắng được chính mình!


Đăng Quế nắm tay chàng hoàng tử thiếu niên:


- Không, hoàng tử phải tin, mình sẽ chiến thắng. Vì hoàng tử có lòng chí thành. Lòng chí


thành là một trong những chìa khóa của việc nhiếp tâm!


Nghe Đăng Quế nói vậy, Miên Tông cảm thấy vững tin, về cung ngày đêm luyện tập.


169


Thái hậu thấy vậy không khỏi ngạc nhiên, nhưng cũng không nói gì. Cho đến sáng sớm


ngày thi, bà mới nghe nói Miên Tông đi thi bắn.


- Thi bắn à, thi bắn để làm gì?


- Dạ bẩm thái hậu, phụ hoàng bảo tổ chức cuộc thi để đề cao tinh thần thượng võ ạ!


Thái hậu quở:


- Hừm, sao ngươi không nói gì với ta. Nghe bảo ngươi với Miên Hoằng tranh tài với


nhau à? Ngươi mà thi với Miên Hoằng làm sao mà thắng được. Kết cục không khỏi làm trò cười


cho thiên hạ. Sao không biết lượng sức mình.


- Dạ, cháu cũng biết mình kém hơn, nhưng lệnh phụ hoàng làm sao mà từ chối đây.


Thái hậu cau mặt:


- Bậy, bậy quá. Ngươi tất nhiên sẽ thua, làm mất thể diện cả ta, ai cũng biết ta nuôi dạy


ngươi từ nhỏ. Nay ta sẽ gửi một ý chỉ đến hoàng thượng, nói rằng ngươi thình lình bị ốm, vậy


ngươi khỏi thi, hoàng thượng tất nhiên phải nể lời ta không bắt bẻ gì được.


Miên Tông cuống quýt:


- Dạ, đừng đừng, cháu muốn đi thi mà.


Thái hậu tức giận:


- Ngươi thật ngu dại, tính chuyện đánh trống qua cửa nhà sấm, hãy nghe lời ta!


Miên Tông cương quyết:


- Không, cháu muốn dự thi, cháu đã chờ ngày này từ lâu rồi!


Chạy ù ra ngoài, Miên Tông nhảy lên ngựa phi một mạch.


Trong khi đó, bên viện Đoan Trang, Miên Hoằng cũng đang nai nịt chuẩn bị đến chỗ thi


đấu.


Hai cung nữ Khánh Nhi, Hỷ Nhi lăng xăng chăm sóc. Hiền tần Ngô Thị Chính đích thân


ra trước thềm cung kiểm tra phu ngựa.


- Các ngươi nhớ hộ tống hoàng tử thật chu đáo đó! Đã cho ngựa ăn đầy đủ chưa?


- Dạ bẩm bà, chúng con lựa con ngựa hồng thường ngày hoàng tử thích nhất, đã cho ăn


lúa với mật ong rồi ạ.


Ngô Thị Chính quay vào. Gặp các thị nữ đang bưng thức ăn điểm tâm lên, Ngô Thị


Chính đỡ lấy, tự tay bưng vào cho Miên Hoằng.


- Con phải ăn uống cẩn thận vào để lấy sức. Đêm qua con ham chơi đầu hồ, thức khuya


quá, mẹ can mấy cũng không nghe.


Miên Hoằng nhăn nhó:


- Mẹ cứ để mặc con. Cứ nhắc hoài. Cái gì chứ thi bắn thì con chưa thi đã nắm chắc phần


thắng.


Hiền tần nhỏ nhẹ:


- Mẹ biết con mẹ là nhất rồi! Nhưng đừng có chủ quan con ạ. Nghe nói Miên Tông lâu


nay tập luyện ráo riết lắm.


Miên Hoằng cười ha hả:


- Con từ nhỏ đi theo phụ hoàng săn bắn, bắn hoài hoài mới quen tay như vậy. Bây giờ


Miên Tông tập trong nửa tuần trăng, chỉ có là học với thần tiên họa chăng mới ăn được con thôi!


170


- Ừ, con nói vậy thì mẹ cũng đỡ lo. Cuộc thi này không phải chỉ là để lấy vợ, mà còn là


thể diện của mẹ trước các hoàng thân quốc thích. Con nhớ làm sao cho mẹ mở mặt với người ta


đó!


- Ối, cái gì chứ chuyện đó thì mẹ yên tâm đi, con của mẹ không thua ai đâu!


Xa xa, tiếng trống vọng lại, liên tục đổ dồn.


Hai bên cửa Ngọ Môn, hoàng thân quốc thích trong hoàng tộc kéo nhau đến, lục tục bước


lên, chia nhau ngồi ở hai cánh hai bên của lầu ngũ phụng. Đã lâu mới có cuộc nhóm họp trong


vòng hoàng tộc, nên các tôn thất đều hăm hở tới dự, xem như một dịp gặp nhau hàn huyên, kể


lể…


Một vị Tôn thất dáng chừng đã ngoài tám mươi, cười móm mém:


- Nghe nói hoàng trưởng tử với hoàng ngũ tử mở đầu cuộc thi. Vậy hai ông hoàng


Nguyễn Phúc Đán và Nguyễn Phúc Kính có dự thi không? Khi trước, còn ở thành Gia Định,


hoàng thái tử Cảnh cũng thường tổ chức các cuộc thi võ, hồi đó ta cũng dự thi, lúc nào cũng


giành giải nhất.


Một tôn thất trẻ tuổi cười:


- Bây giờ mà cụ còn gọi là Nguyễn Phúc Đán với Nguyễn Phúc Kính, phải gọi là Tôn


thất Mỹ Đường với Tôn thất Mỹ Thùy chớ!


Một ông khác tuổi trung niên, mang vẻ mặt thường xuyên hậm hực:


- Ờ lạ thật, tên lót thì dạo trước hoàng thượng ban cho đã đành, còn cái họ Nguyễn Phúc


là của dòng họ truyền lại, nay Tôn Nhân phủ lại bắt thay đổi luôn mới lạ.


Người trẻ tuổi hạ giọng thì thầm:


- Cái này là do chủ trương của quan Thượng thư Trịnh Hoài Đức đó! Bây giờ chỉ có con


cháu trực hệ của hoàng thượng mới được dùng quốc tính Nguyễn Phúc thôi. Con cháu các anh


em ngài đều dùng hai chữ Tôn thất. Ngay chính ông bây giờ cũng là Tôn thất Cẩn Hoài chứ


không phải là Nguyễn Phúc Hoài nữa đâu!


Một Tôn thất khác xen vào:


- Đúng rồi, Trịnh Hoài Đức đề xướng gọi tất cả con cháu của hoàng đế là Đệ nhị chánh


hệ đó! Đệ nhị chánh hệ là sao ông biết không, nghĩa là ngành thứ hai nhưng mà lại là ngành


chính. Các ngành khác đều đổi gọi là Tôn thất để dễ phân biệt. Lời tâu của ông Đức hợp ý hoàng


thượng quá nên được ngài chuẩn y liền.


Người trung niên được gọi là Tôn thất Cẩn Hoài bực dọc:


- Đã đệ nhị tức là ngành thứ, lại còn xưng là chánh hệ, trái tai quá đi mất. Ngành trưởng


thì mới gọi là chánh hệ chứ.


Vị lớn tuổi nhất nói lớn:


- Có chuyện vậy a? Thiên hạ là của tiên đế để lại, nay vua trẻ sao lại một mình tự ý tôn


cao cho riêng con cháu mình. Đến cái họ cao quý của tổ tiên cũng tranh lấy dùng riêng. Thế có


phải đạo hay không.


Mấy vị Tôn thất kia xanh mặt:


- Ấy chớ, xin cụ nói nhỏ cho. Cụ lớn tuổi rồi, “Bò già chi nệ dao phay”, nên mới gan góc


vậy chứ bọn cháu thì không dám đâu, tai vách mạch rừng họa đến thân đó…


171


Hôm đó một vài đại thần cũng được mời dự, tất nhiên không thể vắng mặt Phạm Đăng


Hưng, nay là sử quan của triều đình.


Phạm Đăng Hưng bước lên lầu, ngồi xuống chỗ của mình trong một gian ở mé bên tả. Vị


quan ngồi cạnh ghé tai hỏi nhỏ:


- Này ông Phạm, tôi nghe người ta rỉ tai rằng cuộc thi này đặt ra cốt là để hoàng trưởng tử


với hoàng ngũ tử tranh nhau ai thắng sẽ được nạp con gái ông vào cung phải không? Chà như


vậy thì họ Phạm nhà ông hân hạnh quá. Trong bụng ông thích ai, ông hoàng Cả hay ông hoàng


Năm?


Đăng Hưng buồn rầu lắc đầu.


- Ông miễn cho tôi phải nói về chuyện này đi… Dù là hoàng Cả hay hoàng Năm thì con


gái tôi cũng sắp phải vào cung rồi, ông có nhớ lời dân gian ở Phú Xuân thường nói không, “Đưa


con vô Nội biết đời nào ra.”


- Ấy, dân ngu không biết mới nói thế, chứ các quan thì ai không thích con gái lấy hoàng


tử, con trai lấy công chúa? Danh giá là trọng, mà danh giá gì hơn được làm sui với hoàng


thượng! Tôi đang còn ao ước lắm mà chưa được đây, ông được may mắn chớ có làm cao.


Đăng Hưng lắc đầu, xua tay im lặng không nói nữa.


Tiếng chiêng đã vang lừng, thúc giục. Ngự lâm quân dàn hàng thành một vòng tròn


quanh sân cỏ trước Ngọ Môn. Các hoàng tử dự thi đã lần lượt tề tựu. Miên Tông, Miên Hoằng và


các cung thủ khác đứng thành hàng, nai nịt gọn gàng, vai đeo cung tên.


Tiếng trống nổi rộn ràng. Giám quan bước ra, dõng dạc hô lớn:


- Các cung thủ đã sẵn sàng chưa?


- Sẵn sàng! - Tất cả cùng đáp lại.


Lại một hồi chuông trống khua vang. Vua Minh Mạng cùng đoàn tùy tùng bước vào lầu


Ngũ phụng, ngồi vào gian giữa lợp ngói vàng.


Giám quan quay lại phía Ngọ Môn, quỳ xuống tung hô:


- Hoàng thượng vạn tuế!


Các cung thủ cũng đồng loạt quỳ theo:


- Hoàng thượng vạn tuế!


Trên lầu cao, vua Minh Mạng khẽ phất tay áo. Thái giám Trung Trực bước ra trước, hô


lớn:


- Hoàng thượng truyền lệnh bắt đầu cuộc thi!


Giám quan đứng dậy, quay về phía bia bắn:


- Cuộc thi bắt đầu! Mời hoàng trưởng tử và hoàng ngũ tử bước vào vị trí!


Miên Tông và Miên Hoằng cùng bước lên.


Giám quan cất giọng sang sảng:


- Bản chức xin nói trước về lệ chấm điểm:


Trúng hồng tâm, 10 điểm.


Từ hồng tâm đến vòng ngoài cùng, cứ xa thêm một vòng thì giảm đi một điểm.


Nếu bắn trúng vào vạch ngay giữa hai vòng thì được tính số điểm của vòng cao điểm


hơn.


172


Điểm mười là tối ưu.


Từ bảy đến chín là ưu.


Dưới bảy, là liệt, hạng kém.


Một cung thủ ở hàng sau bước lên, thắc mắc:


- Xin hỏi, cách tính điểm sao kỳ vậy. Bảy đến chín là giỏi thì năm đến bảy phải tính là


khá chứ, sao lại xếp hạng kém?


Giám quan quay lại:


- Xin hỏi vương tôn học bắn cung đã lâu chưa? - Đưa tay chỉ lên từng vòng trên bảng


bắn, ông giảng giải:


- Bắn cung vốn không phải để tính điểm, mà để sử dụng trong săn bắn, chiến đấu. Nếu


muốn bắn vào đầu một con gấu chẳng hạn, mũi tên chỉ có thể xê xích trong khoảng cách từ hồng


tâm đến vòng số bảy mới sát thương được con vật. Nếu chệch ra đến vòng số năm, số sáu, thì tên


sẽ cắm vào vai, vào mông con vật, nó bị đau nhưng không gục, có thể lao tới cắn chết cung thủ.


Vậy thì khá ở chỗ nào, thà bắn sai hoàn toàn còn hơn. Vương tôn đã hiểu chưa? Cho nên bắn


cung chỉ có giỏi và không giỏi, không có khá hay trung bình!


Cung thủ gãi tai, ngậm miệng, bước lui.


Vẻ mặt Miên Hoằng cứng cỏi, tự tin, đầy vẻ cao ngạo.


Miên Tông thì nghiêm trang như đang hành lễ, hít thở thật sâu, thật đều.


Một võ quan bưng hộp đựng thẻ lên, mời hai hoàng tử bắt thăm xem ai bắn trước. Miên


Tông nhắm mắt rút một trong hai thẻ xương trong hộp. Giám quan cầm lên xem:


- Thẻ này âm, vậy là hoàng ngũ tử được bắn trước. Xin mời hoàng ngũ tử! Mỗi hoàng tử


sẽ luân phiên bắn mỗi người ba lần!


Miên Hoằng hớn hở bước lên, giương cung, nhắm bắn.


Sợi dây buông, mũi tên lao đi, cắm phập vào Đinh viên - vòng thứ bảy tính từ ngoài vào.


- Bảy điểm! Ưu! - Giọng giám quan vang lên.


Quân lính vây quanh bãi bắn reo hò tán thưởng.


Đến lượt Miên Tông.


Hoàng trưởng tử bước lên, giương cung, buông tên.


Tên cắm phập vào Bính viên - vòng số tám. Điểm vượt cả Miên Hoằng. Bọn quân hầu


lâu nay biết Miên Tông bắn kém, nay thấy kết quả bất ngờ như vậy, thảy đều ngạc nhiên reo


vang.


Miên Hoằng mím môi cau mày.


Miên Tông sung sướng đến không kiềm chế được, nhảy tung người lên.


Giám quan hô:


- Lượt thứ hai! Xin mời hoàng ngũ tử!


Miên Hoằng bước lên, giương cung bắn. Mũi tên bay đi, vẫn trúng vào Đinh viên. Vậy là


bảy điểm nữa, bảy với bảy là mười bốn điểm.


Miên Tông bước ra, tươi hơn hớn.


Mũi tên vút đi. Tên cắm phập vào… vạch giữa Kỷ viên và Canh viên - vòng 5 và vòng số


4.


173


Miên Tông xanh mặt, buột miệng:


- Thôi chết rồi!


Giọng giám quan vang lên:


- Năm điểm! Liệt!


Liệt, nghĩa là không được tính điểm. Quân lính chung quanh ố lên một tiếng thất vọng.


Vậy là trong nháy mắt điểm của Miên Tông đã sút xuống hẳn so với Miên Hoằng.


- Lượt thứ ba, xin mời hoàng ngũ tử!


Miên Hoằng đầy tự tin, bước lên giương cung.


Lần này tên vẫn cắm vào Đinh viên. Ba lần đều được điểm ưu, Miên Hoằng hân hoan ra


mặt, bước xuống trong tiếng reo hò cổ vũ của đám lính hầu.


Trên khán đài cao, vua Minh Mạng khẽ gật đầu, nghĩ thầm: “Miên Hoằng hôm nay tuy


hơi kém hơn mọi ngày, nhưng phong độ vững vàng ổn định, đúng là thực tài chứ không phải do


may rủi. Khá lắm. Quả là không uổng công trẫm tự mình rèn luyện.”


Phạm Đăng Hưng nhìn, tính nhẩm:


“Vậy là ba vòng Miên Hoằng đã đạt được tất cả hai mươi mốt điểm. Trong khi đó Miên


Tông mới có mười hai, bây giờ nếu có hên được tám như phát đầu tiên thì cũng chỉ mới hai


mươi. Hoàng trưởng tử thua chắc rồi!”


Dưới sân bắn, Miên Tông bước lên, lắp tên, giương cung.


Tông nhủ thầm:


- Đây là phát tên cuối cùng, cơ hội cuối cùng. Ta chỉ còn biết lấy lòng thành bắn mũi tên


này. Nhớ lời sư phụ dạy, hồng tâm đang ở trong tim ta đây. Ta với hồng tâm là một.


Miên Tông tĩnh tại nhìn chăm vào bia, nhiếp tâm bao quát cả hồng tâm. Phút chốc, cảm


thấy như không còn khoảng cách nữa.


Nhắm mắt, Miên Tông buông tên.


Giám quan há hốc miệng kinh ngạc.


Mũi tên cắm phập vào đúng ngay giữa hồng tâm.


“Hoàng trưởng tử thắng rồi! thắng rồi!” Tiếng tung hô vang khắp đấu trường. Miên Tông


thở mạnh, mở mắt. Bàng hoàng, cậu tưởng mình như đang trong một giấc mơ.


Chương 31


Lai lịch của Hạnh Thảo


Cái tin Miên Tông chiến thắng loan đi trong hoàng cung. Từ đó cung nữ, thái giám gán


cho Miên Tông cái danh hiệu “Thiên hạ đệ nhất cung thủ”, khiến mỗi lần nghe cậu ngượng chết


đi được. Cậu không cần làm đệ nhất thiên hạ, chỉ cần giành được Hằng là đủ rồi.


Miên Tông mừng, Hằng mừng, cả hai đều không nói ra lời, còn người công khai biểu lộ


niềm vui chiến thắng lại chính là thái hậu.


174


Trong cung Từ Thọ, thái hậu ngồi duỗi chân cho cung nữ Hạnh Nhi xoa bóp, miệng cười


hể hả:


- Ai mà ngờ cóc mọc đuôi, Miên Tông đi thi bắn mà lại được điểm cao! Hơn cả Miên


Hoằng! Hoàng thượng chắc phải phục cái công nuôi dạy của ta!


Hạnh Nhi liến thoắng mách:


- Dạ, nghe nói Ngô Hiền tần buồn đến nỗi bỏ cả cơm nước mấy ngày nay!


Thái hậu sung sướng:


- Đáng kiếp! Lâu nay cậy thế gần gũi hoàng thượng, cứ ỏn ẻn xin cho thằng con hết đặc


ân này đến đặc ân khác! Hoàng thượng có cả bầy con trai con gái chứ có phải một mình thằng


Miên Hoằng đâu!


Hạnh Nhi hạ giọng:


- Con nghe nói việc bắn cung này, hoàng thượng đã ngầm ước với hai hoàng tử, ai thắng


thì được lấy con gái Phạm Đăng Hưng. Thái hậu chịu nhận con gái Đăng Hưng làm cháu dâu


sao?


Thái hậu chép miệng:


- Sau vụ Trương Công Kế bị hoàng thượng cách chức lưu đày, thanh thế Phạm Đăng


Hưng đang lên mạnh lắm, ta cũng không tiện thọc gậy bánh xe.


Hạnh Nhi an ủi:


- Dù sao cũng chẳng có chi mà lo, con gái Đăng Hưng có vào cung cũng chỉ mới là cung


tần, đã phải chánh thất của hoàng trưởng tử đâu.


Thái hậu gật đầu:


- Ừ, nhiều khi lại càng hay, con gái Đăng Hưng vào cung tức là đã nằm trong tay ta. Lấy


con mà điều khiển cha, chính là thượng sách!


- Thái hậu cao kiến, con thật muôn phần khâm phục!


- Này, chớ có nịnh ta. Cái miệng cứ trơn như mỡ, liệu đó. - Tuy ngoài miệng quở trách


Hạnh Nhi, nhưng thực ra thái hậu đang cảm thấy khoan khoái trong lòng.


Hạnh Nhi biết ý chủ, tủm tỉm cười lảng sang chuyện khác:


- Dạ, hôm qua, người cung nhân cũ của Tam phi có trình báo, bảo rằng sắp đến ngày húy


nhật của Tam phi, xin cho con gái và con trai của Tam phi làm giỗ.


Thái hậu nhạc nhiên:


- Tam phi hả, ai vậy? À, Ngọc Bình, ta quên mất. Ôi, ngụy nữ đã xanh cỏ từ bao giờ rồi,


nghe nhắc hai chữ Tam phi ta không khỏi buồn cười. Mụ cung nhân già ấy cùng với hai đứa con


của Ngọc Bình, ta đã thương tình cho ở yên một góc lãnh cung, mặc cho chúng tự sinh tự diệt.


Vậy mà chúng không hiểu ý cứ làm phiền ta mãi.


Thái hậu ra hiệu cho Hạnh Nhi bóp chân thế đủ rồi. Ả cung nữ vừa xỏ đôi bàn chân chủ


vào đôi hài thêu, vừa nói:


- Dạ, vậy để con bảo bà già ấy từ nay đừng có bẩm báo phiền phức nữa nhé!


Mấy hôm sau, Hằng được lệnh thu xếp về lại nhà, chờ Tôn Nhân phủ chọn ngày lành


tháng tốt làm lễ nạp phi.


Trước ngày rời cung, cô không quên tìm gặp Trương Đăng Quế nói lời cảm tạ.


175


Một buổi chiều sau giờ dạy học, Đăng Quế ngồi trên một mô đá trong hoàng cung, mắt


nhìn mông lung ra khoảng trời xanh trên cổng thành.


Hằng bước tới, tay ôm một gói khư khư trước ngực.


- Anh Quế!


Quế vẫn mải nhìn trời xanh, không nghe Hằng gọi.


Chìm sâu trong phút trầm tư, anh lẩm bẩm:


“Không nghĩ đến việc chinh phục hồng tâm, mà giữ lòng tĩnh lặng để mình với hồng tâm


là một. Dạy cho Miên Tông bí quyết bắn cung, mà bỗng ta ngộ ra được chuyện sâu kín của lòng


mình…”


Hằng lại gần. “Anh Quế!”


Đăng Quế giật mình. Hằng tươi vui, nhí nhảnh:


- Em có quà cho anh đây! Hôm nay hoàng thượng ban thức ăn quý cho Hiền tần, Hiền tần


dành cho em một ít. Em không ăn, để dành cho anh. - Cô mở tấm khăn phủ trên hộp đựng thức


ăn - Nem công đó!


- Chà quý quá, cảm ơn em nhiều lắm. - Anh khẽ nhếch mép, cười - Đây là phần thưởng


trả công cho ông thầy dạy bắn đây phải không?”


Hằng lườm nhẹ, giọng hơi dỗi:


- Anh lại diễu em rồi! Cái dĩa nem này mà đủ trả công anh được sao?


Đăng Quế vội khỏa lấp:


- Thôi thôi, anh chỉ đùa chút thôi mà. Bây giờ Miên Tông thắng vẻ vang rồi đó, em vui


lòng chưa?


Hằng thành thật:


- Dạ, nhờ anh, em và Miên Tông mới được như nguyện! Ơn anh lớn như núi, em biết lấy


gì mà đền được. Chỉ còn biết suốt đời ghi khắc trong lòng mà thôi!


Đăng Quế mỉm cười, buồn xa xôi.


- Qua việc dạy bắn cho Miên Tông, anh cũng ngộ ra nhiều điều lắm. Nhờ vậy mà lòng


anh cũng nhẹ đi rất nhiều!


Hằng mở to đôi mắt bồ câu:


- Vậy là sao hở anh, em chưa hiểu!


Đăng Quế ngần ngừ một lát:


- Có chuyện này, đã muộn rồi nhưng anh vẫn muốn nói cho em biết.


176


- Dạ, sao ạ?


- Hằng, đã từ lâu rồi anh luôn nghĩ đến em, khi anh thi đậu Hương tiến, trong ngày vinh


quy bái tổ, anh đã nghĩ đến việc xin cha mẹ cho đem trầu cau đến hỏi em làm vợ.


Hằng ngẩn người, không biết nói sao, chỉ biết chăm chăm nhìn Đăng Quế.


- Nhưng chưa kịp nói thì có tang phu nhân, anh nghĩ em vẫn còn nhỏ tuổi, nên định chờ


hết tang sẽ nói. Rồi cha em gặp nạn, việc vui mừng nói ra thật chưa đúng lúc. Đến khi cha em


được giải oan, cả nhà đoàn viên, anh nghĩ chính là lúc gặp cha xin cho được như nguyện… Thì


không ngờ duyên phận em đã khác, hạt mưa bé bỏng đã sa xuống đền đài rồi.


Hằng xúc động, bưng mặt:


- Trời ơi, anh Quế…


Đăng Quế ngậm ngùi:


- Lẽ ra anh phải giấu kín điều này, nói ra cũng chẳng làm gì nữa. Nhưng… Anh cũng


muốn em biết những gì trong lòng anh…


Hằng cúi đầu, nước mắt chảy ướt má. Đăng Quế thấy vậy, vội gượng cười:


- Thôi, em đừng khóc. Lúc nào anh cũng thích em cười vui thôi mà. Thôi, anh không nén


được nên nói ra cho nhẹ trong lòng, bây giờ em hãy yên tâm, từ ngày mai gặp nhau, cứ xem như


anh chưa hề nói gì cả!


Hằng gật đầu, lau nước mắt, lúng túng chưa biết nói sao.


Biết Hằng đang lâm vào thế khó xử, Đăng Quế đứng dậy.


- Anh đi đây. Hãy nhớ rằng dù gì xảy ra đi nữa, trong suốt cả đời này, anh mãi mãi là


người bạn trung thành nhất của em!


Hằng không nói gì, chỉ nhìn theo, cúi đầu thật thấp như muốn nói: “Muôn vàn tạ lỗi.”


***


Thái trưởng công chúa Ngọc Tú ngồi lặng lẽ, mắt nhìn ra bến sông. Trước mặt bà, trên


chiếc bàn đá là cuốn kinh chữ Hán và chuỗi tràng hạt.


Hạnh Thảo ngồi cạnh, trước mặt là một rổ hoa bưởi. Cô đang dùng lá chuối gói hoa bưởi


thành những gói nhỏ xinh xinh.


177


Công chúa cầm lấy một gói hoa, bảo Hạnh Thảo:


- Hoa bưởi trắng tinh khiết, mùi hương trong sạch lắm, mình để dành dâng cúng trên bàn


Phật. Còn hoa hoàng lan cũng thơm nhưng mùi thơm ngây ngất quá, con nhớ chỉ để cúng cho


các am vong hồn thôi.


Hạnh Thảo mỉm cười:


- Dạ. Hoa cũng như người, còn vương vấn lòng trần thì chưa vào cõi Phật được phải


không ạ?


Công chúa lại dõi tầm mắt ra bến sông xa xa:


- Gạt hết trần duyên, đi vào cõi Phật không phải dễ, chỉ bậc chân tu mới làm được. Người


ta cứ ở trong cõi đời mà giữ được tâm Phật từ bi, thế cũng là tốt lắm rồi!


Hạnh Thảo bất giác ngậm ngùi:


- Vậy công chúa thấy con có căn cơ gạt hết trần duyên dược không?


Công chúa quay lại:


- Căn cơ của con như hoa hoàng lan, cánh hoa thanh mảnh cố vươn lên trời nhưng mùi


hương thì dùng dằng lưu luyến một chữ tình. Còn lụy nột chữ tình thì khó mà tu được!


Lời công chúa trúng vào tâm sự của Hạnh Thảo, khiến nàng lặng im một lúc. “Ta nói


vậy, con ngẫm xem có phải không?” Công chúa nhẹ nhàng hỏi.


- Dạ, công chúa rất hiểu lòng con! Bây giờ con đang khó nghĩ, phân vân quá.


- Ta thấy không có chi mà khó nghĩ. Bây giờ Đăng Hưng chỉ còn một mình trên đời, ông


ấy lại tha thiết muốn cưới con. Lúc này là lúc con phải trở về phủ Phạm.


Hạnh Thảo băn khoăn:


- Con vẫn thấy ngại lắm! Đã mấy năm sống ở chốn thanh tịnh này, thật lòng con chẳng


muốn rời xa công chúa mà đi.


Công chúa lắc đầu:


- Không được! Giờ còn ta, còn người bầu bạn che chở cho con. Đôi ba năm nữa, ta theo


phò mã về Trời, con cô quạnh không chồng không con, biết sống với ai, nương dựa vào ai?


Hạnh Thảo vẫn ngần ngừ:


178


- Con vẫn ngại… Đã lâu rồi, con còn một chuyện muốn thưa cùng công chúa. Việc này,


ngay cả với Đăng Hưng con cũng chưa nói bao giờ…


Bỗng chốc mồ hôi rịn ra trên tránh Hạnh Thảo. Không phải nàng sợ hãi điều gì. Nhưng


một viễn ảnh đang hiện ra trong lòng nàng: nói xong chuyện này, rất có thể nàng sẽ mất tình


thương của công chúa.


- Con thực sự là dòng dõi của triều thần Tây Sơn. Ông nội con là Trung thư Phụng chính


Trần Văn Kỷ, bề tôi thân cận của Quang Trung hoàng đế. Khi Quang Trung hoàng đế băng hà,


con trai là Quang Toản nối ngôi không có tài trị nước nên triều thần tranh giành tàn sát lẫn nhau,


cuối cùng bị Gia Long hoàng đế tiêu diệt. Ông nội con không chịu theo vua mới, nhảy xuống


sông tự trầm. Vì cái tội đó, cả họ Trần bị tru diệt, chỉ trong một ngày tất cả 52 người đều chịu


chết.


Công chúa nghe đến đó, lặng người đi. Vẻ mặt đang dịu dàng hiền từ chợt nhăn nhúm lại.


Cả một thời chiến tranh đẫm máu, đang trở lại trong tâm tưởng bà. Té ra thái hậu trước đây nghi


ngờ không sai, người nữ tỳ này là dòng dõi thù địch.


Hạnh Thảo đang nhắm mắt nên không thấy vẻ mặt biến đổi của công chúa:


- Lúc đó con mới sinh, được người quen bồng đi giấu rồi nhận làm con. Nghĩa phụ của


con cũng làm quan triều Tây Sơn, nhưng chỉ giữ chức Bếp trưởng trong cung nên không bị truy


tội. Nuôi con đến mười ba tuổi thì nghĩa phụ con mắc bệnh nan y mà qua đời. Con tứ cố vô thân,


may nhờ học được nghề nấu ăn gia truyền nên được sung vào bếp cung đình, an phận nô tỳ cho


đến bây giờ.


Công chúa rùng mình:


- Vậy là ngươi… đã từng nấu các món ăn dâng lên hoàng đế!


Hạnh Thảo mở mắt:


- Vâng, lúc ấy hoàng hậu rất tin con. Nếu con ôm lòng thù hận thì một mạng nô tỳ này là


cái giá quả rẻ để đổi một mạng vua.


- Vậy sao ngươi không trả thù?


- Bẩm công chúa, nghĩa phụ con ngày trước thường dạy: “Thức ăn là để nuôi người,


quyết không để thức ăn trở thành thứ hại người.” Ai ra tay làm ác sẽ chịu báo ứng trước Phật


Trời, con nguyện không lấy cái ác để đáp trả với cái ác! Nếu con giết hoàng đế thì gia đình con


cũng không sống lại được! Bao nhiêu người bị giết trong chiến tranh, có bao giờ đội mồ sống


dậy được nữa?


179


Ngọc Tú nghe Hạnh Thảo nói vậy, trong lòng hốt nhiên xúc động, nước mắt chảy dài. Bà


tự nghĩ: Bao năm nay ta tu hành, lúc nào cũng niệm một chữ từ bi, mà sao lúc nãy trong lòng


bỗng chốc còn dấy lên cảm giác sân hận. Câu nói của người con gái này, một phút đã khiến ta


thấy tâm Phật tỏa sáng trong lòng mình! Ta đau vì mất chồng, mất cha, mất anh em, cô gái này


mất cha mẹ, họ hàng, có khác gì nhau đâu? Thấy công chúa khóc, Hạnh Thảo vội đến bên bà, vỗ


về. Công chúa bất giác ôm nàng vào lòng, thốt lên một tiếng: “Con ơi!”


Hạnh Thảo cũng ứa nước mắt vì cảm động. Nàng thấy nhẹ lòng: Công chúa Ngọc Tú,


người có mối thù sâu thẳm với nhà Tây Sơn mà còn vượt qua được mặc cảm hận thù, thì Phạm


Đăng Hưng khi biết chuyện này chắc cũng sẽ xem là chuyện nhỏ.


Công chúa nắm chặt tay Hạnh Thảo:


- Tấm lòng hiền lương của con, ta rất yêu quý. Con đừng ngại phận nô tỳ không xứng


làm phu nhân của Đăng Hưng. Ta sẽ nhận con là con nuôi. Từ ngày hôm nay con là con gái của


Long Thành Thái trưởng công chúa Ngọc Tú, như thế đã xứng đáng làm chánh thất phu nhân của


Đăng Hưng chưa?


Hạnh Thảo sững sờ:


- Công chúa… công chúa thương con như vậy, con biết lấy gì báo đền cho được.


Công chúa mỉm cười, nụ cười bao dung, hiền hòa như trên gương mặt của Quan Âm Bồ


Tát:


- Hãy gọi ta là mẹ đi…


Hạnh Thảo bật khóc. Từ lúc sinh ra, nàng chưa hề được gọi tiếng thiêng liêng ấy.


- Mẹ… - Hạnh Thảo bước tới, quỳ xuống, ngả đầu vào lòng công chúa.


Công chúa ôm đầu Hạnh Thảo, nhẹ nhàng vuốt tóc nàng:


- Ta góa chồng từ năm mười tám tuổi, chưa có con cái gì. Lâu lắm rồi, chỉ một mực nghĩ


đến tu hành. Nay nghe con gọi một tiếng mẹ, bỗng lòng ta thốt nhiên rung động! Có lẽ lòng trần


của ta cũng chưa dứt chăng?


***


Cuối tháng ba năm ấy, Hằng quay về phủ sống bên cha.


Thấy cha một mình một thân, nay mai mình lại vào cung cấm, Hằng không khỏi thấy bịn


rịn, đau lòng. Cô tỉ tê khuyên cha:


180


- Cha à, mai đây vào cung rồi, con sẽ không còn thăm viếng chăm sóc cha được nữa. Con


thấy chị Hạnh Thảo là người rất có tình với nhà ta, sao cha không cưới chị ấy về cho có người


bầu bạn, vẫn hơn là sớm tối ra vào chỉ đụng đầu với mấy chú lính hầu cục mịch cũng buồn…


Đăng Hưng đang ngồi viết, bỏ bút xuống án thư, thở dài.


- Cha cũng đã nghĩ nhiều lắm! Hồi trước cha ở tù khổ cực, Hạnh Thảo vì cha bỏ lời thề,


quay về chạy ngược chạy xuôi lo lắng cho cha. Vì vậy, khi ra tù cha nghĩ ngay đến chuyện cưới


cô ấy để đền ơn. Không ngờ nay công chúa lại nhận cô ấy làm con gái, vậy là thân phận Hạnh


Thảo thành ra cao hơn cha nhiều quá. Bây giờ cô ấy muốn kén ai trong kinh thành này làm


chồng mà chẳng được. Hà cớ gì bắt cô ấy phải sánh duyên với người đàn ông góa vợ già hơn đến


hai chục tuổi như thế này.


Hằng bật cười:


- Hồi trước má con thường kêu cha gàn lắm, bây giờ con mới thấy cha gàn thiệt đó! Con


biết chị Hạnh Thảo rất thương cha, dù có ai trẻ tuổi giàu có công danh gì gì đi nữa chị ấy cũng


không màng đâu.


Đăng Hưng gạt đi:


- Nếu Hạnh Thảo thật có ý thương cha, sao lại còn làm con nuôi công chúa. Mấy lần cha


ướm ý, cô ấy đều tỏ ý ngại ngần, con không biết đó!


- Khổ thật, cha là người thông kim bác cổ sao mà thật thà quá vậy, chính vì chị ấy ngại


ngần về thân phận mà công chúa phải nhận chị ấy làm con đó! Cha không bước tới là phụ lòng


tốt của công chúa lắm đó. Không lẽ cha chờ bà phải đến đây đòi gả con cho cha sao.


Đăng Hưng ngẫm nghĩ:


- À há!


Hằng thúc hối:


- Cha hãy nghe con đi, nếu cha không chịu nhờ người mai mối dạm hỏi thì chính con sẽ


đội cau trầu lên phủ công chúa xin hỏi chị Hạnh Thảo về cho cha đó.


Vậy là tháng sau, phủ Phạm tổ chức lễ nghênh hôn, đón Hạnh Thảo về làm Kế phu nhân.


Đêm hợp cẩn của cha và mẹ kế, Hằng tự tay làm mâm thức ăn dâng lễ tơ hồng. Theo tục


ở Phú Xuân, trong mâm hợp cẩn của đôi vợ chồng không thể thiếu dĩa gừng, chén muối.


Hạnh Thảo cầm lát gừng chấm muối, hai tay đưa cho chồng:


- Xin chàng nhấm trước, thiếp sẽ theo sau. Cái này khó ăn lắm đó…


Phạm Đăng Hưng cầm lát gừng sống đưa lên miệng:


- Không khó đâu! Mà khó ta cũng ăn.


“Tay bưng dĩa muối chén gừng, Gừng cay muối mặn xin đừng phụ nhau”. Đăng Hưng


ngậm lát gừng cay, lại nhớ đến câu ca dao quen thuộc, trong lòng xúc động:


- Đâu phải đến hôm nay mới biết gừng cay muối mặn, ta với nàng đã trải mùi sang hèn


vinh nhục với nhau nhiều rồi mà.


Ánh đuốc hoa trên vách mờ dần đi…


Chương 32


181


Lễ nạp phi


Nhà họ Phạm dường như đã hết vận xui, những ngày tang tóc đen đủi đã qua. Bây giờ thì


tiệc vui nối tiếp tiệc vui: Tháng tư Phạm Đăng Hưng tục huyền, qua tháng sáu lại đến việc vui


mừng của Hằng.


Trước ngày nhập cung, Hằng phải trải qua một việc khổ sở mà cô không bao giờ quên:


Đó là phải trải qua cuộc kiểm tra thân thể do ổn bà (bà mụ) và nữ quan trong cung đảm nhiệm.


Khi nghe nói phải cởi hết áo xống cho người ta xem xét từng chỗ trên cơ thể, Hằng cảm thấy hồn


vía lên mây, ngờ đâu lấy hoàng tử lại phiền phức kinh khủng thế này?


Hạnh Thảo phải hết sức khuyên nhủ:


- Việc đã đâu vào đấy rồi, con phải chịu khó mới được! Vào cung lấy hoàng tử, sinh con


đẻ cái cho hoàng gia, đâu phải chuyện đùa đâu? Tất nhiên hoàng tộc người ta phải kiểm tra kỹ


lắm, phải biết người con gái có còn trinh tiết không, có dị tật hay bệnh hiểm nghèo gì không,


mình đâu có từ chối được con à.


Hằng chớp chớp mắt muốn khóc:


- Nếu mình từ chối thì sao? Con thấy sợ lắm dì ạ!


Hạnh Thảo dỗ dành:


- Hằng ráng lên, bao nhiêu cung phi, hoàng hậu từ xưa đến nay, ai bước vào cung đình


cũng phải qua cái bước này. Quy chế của cung đình, nếu con không khứng chịu, người ta sẽ dị


nghị, cho là mình có gì sứt mẻ, xấu xa nên mới giấu, lúc đó còn khổ nữa.


Cái ngày trải qua cuộc kiểm tra chặt chẽ ấy, Hằng còn nhớ mãi. Ấy là kỷ niệm mở đầu


cuộc đời cung phi - Một cuộc đời mà từ giờ phút ấy Hằng đã biết, sẽ không dễ dàng chút nào.


Đến ngày đã định, Ổn bà đến nhà họ Phạm cùng với hai nữ quan và đoàn tùy tùng hộ vệ.


Trong một phòng kín đã chuẩn bị sẵn, Hằng ngồi trên giường, đối diện với Ổn bà. Hai nữ


quan đứng chứng kiến hai bên. Hạnh Thảo xoa nhẹ vai, nắm chặt bàn tay Hằng rồi lui ra ngoài.


Hằng đưa mắt chới với nhìn theo…


Thị nữ của ổn bà bưng vào một lò hương nhỏ mới nhóm.


- Xin tiểu thư cứ yên tâm, đừng sợ. - Ổn bà vừa nói vừa tiếp lấy lò hương, đặt xuống đất.


Khói hương tỏa lên bay vờn trước khuôn mặt Hằng.


- Trong lò này là tinh dầu trầm hương và hoắc hương, mùi thơm sẽ giúp cho tiểu thư thấy


dễ chịu hơn. - Ổn bà nói.


Hằng chỉ khẽ gật đầu, mím chặt môi.


Ổn bà kéo ghế xích sát lại gần bên:


- Tiểu thư hãy nhắm mắt lại đi.


Hằng nhắm mắt.


Ổn bà đưa tay lên cổ áo Hằng, bắt đầu mở nút áo.


Hằng rùng mình, gai người.


- Tiểu thư hãy thả lỏng mình, đừng nên co cứng như vậy. Mụ sẽ làm rất nhẹ nhàng,


không sao đâu. - Ổn bà vừa nói vừa cẩn thận cởi áo, cởi yếm, dây lưng…


Khuôn mặt Hằng lấm tấm mồ hôi.


182


Áo xống từng cái một được vắt lên một giá gỗ đặt sẵn bên cạnh.


Hai nữ quan đứng cách một khoảng xa, cầm giấy bút chờ ghi chép.


Giờ đây trên người Hằng không còn mảnh vải nào che đậy. Cơ thể non tơ mềm mại hiện


ra nguyên vẹn. Quá hổ thẹn, Hằng cảm thấy máu trong người chảy mạnh, đôi má rần rần ửng


hồng.


- Xin tiểu thư hãy nằm xuống. - Giọng Ổn bà vẫn đều đều vang lên.


Hằng nằm sấp, tóc rẽ ra hai bên vai, để lộ khoảng lưng trần trắng mịn.


Bàn tay Ổn bà nắn nhẹ hai vai, lướt theo sống lưng, rồi lại kéo hai cánh tay lên để nhìn


chỗ da mịn dưới nách. Vuốt hai bên sườn, eo, hông..


- Bây giờ xin tiểu thư nằm ngửa.


Hằng nằm ngửa, cả tấm thân trắng nõn nà lồ lộ trên tấm lụa điều lót lưng. Mắt Hằng vẫn


nhắm nghiền không dám hé nhìn. Xấu hổ đến cực độ, cả khuôn mặt thiếu nữ đỏ bừng như gấc


chín. Nước mắt chảy xuống hai bên thái dương.


Mắt vẫn nhắm, Hằng nghe tiếng chân Ổn bà dời xuống phía cuối giường. Rồi cô cảm


nhận hai bàn tay bà khẽ tách hai chân cô đang khép chặt, nhẹ nhàng mở hai đùi ra…


Giọng Ổn bà dỗ dành:


- Tiểu thư đừng run, cứ để mụ xem kỹ cho tiểu thư, cái này là hệ trọng nhất.


Nhớ lời Hạnh Thảo dặn, Hằng thở mạnh và sâu để lấy lại bình tĩnh, nhưng không sao hết


run được. Từ thuở bé đến giờ, đâu đã có ai chạm tới phần kín đáo nhất của cơ thể. Về sau, Hằng


mới biết rằng lúc đó, theo quy trình khám nghiệm, Ổn bà đang vạch cửa mình của cô, xem bên


trong màu hồng đậm hay nhạt. Bởi người ta tin, bên trong cửa mình màu hồng đậm là tướng quý


của người phụ nữ vinh hiển. Tối kỵ nhất là trong cửa mình có sắc tím tái, chứng tỏ không còn


trinh tiết; hoặc có nốt ruồi đen, là tướng của người đàn bà hồng nhan bạc mệnh.


Cuộc khám nghiệm đến đó là kết thúc. Nữ quan đỡ Hằng dậy, mặc lại áo xống cho cô.


Ổn bà bước ra ngoài, lính hầu bưng chậu đồng đựng nước rửa tay đến. Thấy Hạnh Thảo đến gần,


Ổn bà ghé tai:


- Xin chúc mừng quan Tổng tài và phu nhân! Tiểu thư thân hình hoàn mỹ, lại có nốt ruồi


son ở chỗ kín là tướng cực quý của phụ nữ. Sau này tiểu thư vào cung thế nào cũng được êm


đềm nhàn hạ cả đời đó!


Hạnh Thảo mừng rỡ:


- Dạ, được vậy thì còn gì hơn! Xin đa tạ Ổn bà và nữ quan.


- Chi tiết khám nghiệm đã được ghi vào sổ, phải giữ kín không được tiết lộ, mụ chỉ nói


riêng với phu nhân thôi đấy.


Nữ quan cầm sổ ghi chép cất vào túi gấm. Sổ ghi này sẽ được lưu giữ trong Đại nội suốt


cuộc đời một cung phi.


Thấm thoắt đã đến ngày Nghênh hôn. Trong cung Từ Thọ, thái hậu ngồi uy nghi cho hai


cung nữ vấn khăn, khoác áo thêu phụng lên người. Miên Tông mình mặc áo bào màu đỏ thắm


thêu rồng bốn móng, mặt mũi hân hoan. Thái hậu ngắm nhìn cháu mình từ đầu đến chân:


183


- Miên Tông! Nhanh thật, mới ngày nào ta đón ngươi về cung, một hài nhi mới có mười


hai ngày tuổi. Ngươi khóc ra rả hơn mười ngày đêm, hai ba bảo mẫu thay phiên nhau dỗ hoài


không nín. Vậy mà thấm thoắt nay ngươi đã có vợ rồi !


Miên Tông vui vẻ cúi đầu:


- Công ơn dưỡng dục của thái hậu tựa non cao biển rộng, cháu luôn luôn ghi nhớ trong


lòng.


- Tốt. Chỉ mong sao ngươi lớn lên làm nên chuyện, cho mát mặt mẹ ngươi dưới suối


vàng, mà ta cũng được vẻ vang nữa.


Miên Tông tươi tỉnh:


- Dạ, cháu xin cố gắng.


Thái hậu lên kiệu, Miên Tông lên ngựa, hai bà cháu cùng sang điện Phụng Tiên chờ làm


lễ rước dâu.


Trước sân điện Phụng Tiên, một đám múa lân đang rộn ràng biểu diễn màn “Lân mẫu


xuất lân nhi”. Thái hậu dẫn Miên Tông bước vào gian bên hữu điện. Hiền tần Ngô Thị Chính,


Thục tần Nguyễn Thị Bảo kẻ trước người sau bước vào. Cả hai bà Tần hôm nay vâng lệnh hoàng


đế đi đón dâu cho hoàng trưởng tử.


Thái hậu thấy Hiền tần Ngô Thị Chính thì lập tức mát mẻ:


- Nghe nói chuyện bắn cung, thi tài là do ngươi xúi hoàng thượng phải không? May quá,


nhờ có ý hay của ngươi nên mới có tiệc vui hôm nay.


Ngô Thị Chính xạm mặt lại, nhưng vẫn giữ lễ cung kính:


- Bẩm, đấy là chủ ý của thánh thượng, thần đâu dám đành hanh.


Thái hậu cười khẩy, không thèm trả lời. Ngô Thị Chính thấy ngại, liền lảng ra nơi khác,


đứng nói chuyện với một phu nhân. Còn lại Thục tần Nguyễn Thị Bảo đứng lơ ngơ gần đó. Thấy


vậy thái hậu quay sang hỏi:


- Bảo, ngươi mới vào cung chưa bao lâu đã được phong Thục tần, ngươi có biết ân phúc


ấy là do đâu không?


Bảo thưa:


- Dạ, thần biết là do hậu tình của hoàng thượng và thái hậu.


Thái hậu cười:


- Ngươi trông kìa, Ngô Thị Chính hầu hoàng thượng mười mấy năm trời, mà tước vị


trong cung cũng chỉ ngang ngươi thôi. Ngươi có thấy đặc biệt vinh dự không?


Bảo điềm nhiên:


- Bẩm thái hậu, là Thục tần, là Quý nhân hay là thứ dân, thần cũng vẫn là thần thôi. Ở địa


vị nào thần cũng nguyện giữ phẩm cách và bổn phận của mình ạ!


Thái hậu cau mày:


- Nhà ngươi nói thế mà nói được sao? Địa vị vượt bậc ngươi có được, lẽ nào có cũng như


không sao?


Bảo biết thái hậu muốn mình phải đổi giọng, tỏ ra vui mừng hí hửng mới phải lẽ, nhưng


vẫn ung dung:


- Bẩm thái hậu, thần xưa nay chỉ biết nói những gì chân thật trong lòng thôi!


184


Thái hậu nhìn chằm chặp một lúc rồi lắc đầu:


- Ta ở trong hậu cung đến nay đã hơn ba mươi năm, chưa bao giờ thấy ai nói năng lủng


củng như ngươi. Liệu hồn, đừng có thấy ta sủng ái rồi tưởng dễ!


Nguyễn Thị Bảo cũng mỉm cười, cung kính cúi đầu thật thấp tỏ ý tạ lỗi.


Cũng may, đúng lúc ấy một hồi chiêng nổi lên. Vị chánh sứ của đoàn rước dâu, tay cầm


cờ tiết, bước ra giữa điện.


Vị phó sứ tay bưng tráp bước ra đứng bên cạnh chánh sứ.


Thục tần và Hiền tần bước đến đứng sau chánh và phó sứ. Đoàn rước dâu bắt đầu đi, đội


Nhã nhạc tiếp bước theo sau. Kiệu xe chờ sẵn trước cửa điện.


Trước giờ vu quy, Hằng lạy bàn thờ ông bà và mẹ. Ở nhà dân thường chú rể phải đến đón


dâu, nhưng hoàng tử nạp phi thì cô dâu phải một mình bái gia tiên để ra đi. Quỳ trước bàn thờ


Phạm phu nhân, Hằng thì thầm khấn:


- Má ơi! Con đi đây. Từ nay đi vào chỗ thâm cung, con lo lắm! Xin má nhớ phù hộ cho


con!


Kiệu hoa tiến sát vào thềm. Hạnh Thảo đỡ Hằng lên kiệu.


- Theo tục lệ thì mẹ không được đưa con gái về nhà chồng. Nay dì đành chia tay con ở


đây thôi!


Hằng ứa nước mắt, cầm tay Hạnh Thảo:


- Con gửi lại cha con cho dì đó!


Nữ quan rủ màn che kín kiệu. Đoàn rước dâu cùng với hoa đèn, nhã nhạc đưa Hằng về


Đại Nội.


Lễ bái đường được cử hành trong điện Phụng Tiên, dưới sự chứng kiến của Thái hậu.


Bao nhiêu phiền phức của thủ tục cưới xin đã qua, giờ đây là lúc đôi trẻ được sum vầy hạnh


phúc.


Hằng ngồi trên giường, dưới ánh đuốc hoa.


Miên Tông bước vào, đến bên Hằng, đưa cả hai tay nâng mũ hoa của Hằng lên.


Hằng mỉm cười:


- Chiếc mũ này nặng lắm, nếu trong chỗ này này, - Hằng vỗ nhẹ bàn tay vào trán - không


có hình ảnh hoàng tử luôn luôn hiện ra, thì Hằng không đội nổi nó đâu.


Miên Tông đặt chiếc mũ xuống bên cạnh, ôm chặt Hằng vào lòng.


- Trong lòng tôi cũng vậy, lúc nào cũng có Hằng. Từ nay Hằng ở với tôi, ăn với tôi, đi ra


đi vào với tôi, không bao giờ rời nhau Hằng ạ!


Hằng ngoan ngoãn gật đầu:


- Vậy mình thề nha, núi mòn sông cạn không xa nhau nha!


- Thề liền đi Hằng! Hằng thấy không, trăng sáng quá, mình chỉ trăng mà thề như Đường


Minh Hoàng với Dương Quý Phi ngày xưa đi!


Miên Tông dắt tay Hằng đến bên khung cửa sổ đang mở rộng. Bên ngoài, trăng rằm mãn


khai đang soi sáng cả không gian.


185


Chương 33


Chuyện ở Anh Duệ vương phủ


Nhân lễ nạp phi của hoàng trưởng tử, thái hậu cho đặt tiệc lớn trong vườn Cơ Hạ, mời tất


cả đại thần và tôn thất. Các mệnh phụ cũng được dự, cũng là một dịp để các bà khoác lên người


bộ phẩm phục phu nhân rực rỡ vua ban.


Hoàng tôn Đán, hoàng tôn Kính cũng đến dự tiệc. Tống Thị Quyên đi cùng với hai con.


Đán, Kính vừa uống rượu, hơi chếnh choáng. Điệu múa phụng đang còn diễn ra trên một bệ cao


ngay giữa sân, thì Tống Thị Quyên đã giục con về.


Thấy ba mẹ con đang định bước ra, một cung nữ chạy lại:


- Bẩm vương phi và hai hoàng thân, xin bước sang bên kia nhận quà tặng đã ạ!


Ba mẹ con bước vào nhà Tả vu. Những phần quà được xếp san sát trên những cái bàn


thấp. Họ đi tới một bàn ở gian giữa.


Một thái giám đứng trực vội chỉ dẫn:


- Bẩm, xin mời vương phi và hai hoàng thân sang gian bên kia. Gian giữa này là tặng vật


dành cho các vị mang quốc tính Nguyễn Phúc. Các bàn hai bên dành cho các vị mang họ Tôn


thất ạ.


Hoàng tôn Kính, tức là Mỹ Thùy, đang có chút hơi rượu, nghe nói vậy thì gắt lên:


- Ai bảo ta không phải họ Nguyễn Phúc? Ta là Nguyễn Phúc Kính, Tôn thất Tôn thất cái


gì?


Tống Thị Quyên cũng phụ họa:


- Các con ta là dòng chính của họ Nguyễn Phúc, sao ngươi dám láo với chúng ta?


Thái giám cúi đầu:


- Bẩm vương phi, tặng vật cũng giống nhau thôi, chỉ có điều ghi tên rõ ràng cho khỏi lẫn


lộn thôi mà.


Mỹ Thùy vẫn bực dọc:


- Càng ghi càng lẫn lộn, càng phân biệt lại càng nhập nhằng. Rõ ràng cái gì? Ngươi còn


gọi tên ta một tiếng Tôn thất, ta không cho ngươi yên đâu!


Thái giám vái lia lịa:


- Bẩm, xin hiểu cho con, thân phận kẻ dưới chỉ biết trên bảo sao dưới phải nghe vậy thôi


ạ.


Tổng quản thái giám Trần đi qua, khẽ liếc mắt, tảng lờ như không nghe thấy gì.


Hoàng tôn Đán, tức Tôn thất Mỹ Đường, kéo mẹ và em lại, hạ giọng:


- Thôi mẹ à! Cả thiên hạ đã mất về tay người ta, còn một tiếng gọi ấy có làm chi mà phải


tranh nhau.


Tống Thị Quyên vùng vằng:


- Thôi về, không cần lấy tặng phẩm làm chi nữa.


Phía trong điện, thái hậu đang ngồi ở gian giữa cho các phu nhân đến chào ra về.


Tổng quản thái giám Trần đến gần, thì thầm.


Thái hậu cười nhạt:


186


- Nó không muốn gọi là Tôn thất à? Cũng được, dễ thôi mà. Cứ làm như vậy đi, việc này,


ta giao cho ngươi.


Ngoài cổng, Tống Thị Quyên và hai con đang bước lên kiệu.


Một cung nữ chạy đến, đầu đội mâm tặng vật.


- Bẩm vương phi, con xin đội đến tận phủ cho vương phi và hai hoàng thân.


Tống Thị Quyên hơi nguôi nguôi:


- Ta đã bảo không lấy, nhưng muốn đội đến thì cứ đội!


Đêm ấy trong phủ Anh Duệ, đã khuya lắm rồi mà Tống Thị Quyên vẫn trằn trọc không


sao ngủ được. Màn đêm càng tĩnh mịch, càng như khơi dậy bao nhiêu xót xa tiếc hận trong lòng


bà.


“Đời ta thật bất hạnh, sao cứ gặp toàn những chuyện không may. Ông trời kia ăn ở không


cân, chỉ dành cho mẹ con ta cái phần thua kém hẩm hiu… Ôi thật chỉ còn biết trách trời…”


Vương phi ngồi dậy, chống tay thở dài, quờ chân tìm không thấy giày. Bà gọi:


- Lan Nhi, giày ta đâu rồi?


Lan Nhi, ả tỳ nữ thân tín của Tống Thị Quyên ngủ say sưa trên chiếc nệm nhỏ ở một mé


phòng, không nghe tiếng chủ gọi.


Tống Thị Quyên cầm lấy cây đèn trên bàn, chân không bước ra.


Bên ngoài tối thui. Tống Thị Quyên đi qua một khúc quanh ở hành lang. Nhà rộng, cửa


sâu, ngọn đèn dầu lạc trên tay leo lét, nên bà không thấy ả cung nữ - lúc chiều đã đội mâm theo


ba mẹ con về phủ - đang ẩn mình trong một góc khuất, nhìn theo bà.


Đúng lúc đó có tiếng cú rúc ngoài xa.


Tống Thị Quyên ngoảnh mặt ra ngoài nhìn trời. Bóng tối bao trùm toàn cảnh sân vườn


trong phủ.


Bỗng một tiếng la to lanh lảnh trong đêm:


- Ôi trời ơi đất ơi! Làng nước ôi! Dễ sợ quá! Ghê tởm quá! Trời đất ơi… Làng nước ơi…


Trong phủ, gia nhân sực tỉnh, thắp đèn cầm đuốc chạy rầm rầm, va vào nhau. Tiếng hỏi,


tiếng kêu xôn xao:


- Cái chi rứa? Chi rứa?


Tiếng la vẫn vang lên chói tai:


- Gian dâm! Gian dâm!


- Mô? Mô? Ở mô? Ai gian dâm? Ai?


Tống vương phi ngẩn người sợ hãi, không hiểu chuyện gì, vội chạy đến chỗ con trai lớn


là Mỹ Đường, định bảo con ra xem có chuyện gì…


Cũng đêm đó, trong phủ của Tả quân Lê Văn Duyệt, ông đang ngủ say thì người nhà hơ


hãi chạy vào thức dậy. Gia nhân cuống quýt lấy áo, lấy mũ cho ông. Thái giám Trung Trực từ


trong cung ra, đang nóng lòng chờ trước sảnh. Thấy Lê Văn Duyệt xốc áo bước ra, Trung Trực


đưa liền tờ thánh chỉ, không kịp chờ người nhà đặt bàn đốt hương tiếp đón theo quy lệ.


Lê Văn Duyệt đọc xong, ngỡ ngàng:


- Thánh chỉ đến vào cuối canh ba, chưa bao giờ có chuyện như vậy! Ta thật bán tín bán


nghi, chẳng hiểu đầu đuôi thế nào?


187


Thái giám Trung Trực gật đầu:


- Vâng, việc này thật không ai ngờ tới! Bên phủ Anh Duệ hiện đang loạn lên như có giặc,


ai cũng hãi hùng kinh tởm vì cái tin bà Quyên thông dâm với trai, mà ngài biết thông dâm với ai


không, với ngay Mỹ Đường con đẻ của bà ấy đó!


Lê Văn Duyệt cau mày:


- Ta nghe kỳ lạ quá, không thể tin được ông ạ!


- Ụa, thánh chỉ đây, ngài không tin sao?


Lê Văn Duyệt lắc đầu:


- Ta sao dám nói là không tin vua. Nhưng sợ rằng nguồn tin đến tai vua chưa xác đáng!


- Xác đáng hay không tôi cũng không dám quả quyết, chỉ biết hoàng thượng sai tôi đem


kiếm lệnh đến giao cho ông xử tử Thị Quyên ngay trong đêm nay, còn Mỹ Đường thì bắt giam


rồi sẽ xét.


Lê Văn Duyệt lắc đầu:


- Không được! Việc này rất hệ trọng, ta phải vào cung gặp hoàng thượng ngay.


Lê Văn Duyệt gọi lấy ngựa, đang đêm phi nước đại vào cung.


Cổng Hiển Nhơn đêm khuya đã đóng, nay lại mở ra. Lê Văn Duyệt để đoàn tùy tùng lại


bên ngoài cổng, giục ngựa sải nhanh vào. Lính canh chạy ra ngăn lại:


- Xin quốc công để ngựa bên ngoài, có bia hạ mã kia.


Lê Văn Duyệt vung roi quát:


- Lui ra!


Ông cứ việc phóng ngựa chạy ngay đến tận điện Càn Thành.


Trong điện Càn Thành, vua Minh Mạng vẫn chưa ngủ, đang ngồi trên sập.


Nghe thái giám vào tâu có Quốc công Lê Văn Duyệt xin yết kiến, vua vội truyền:


- Cho vào ngay.


Lê Văn Duyệt hối hả tiến vào.


- Hoàng thượng!


Vua Minh Mạng nghiêm nghị:


- Trẫm đang nóng lòng chờ khanh đây. Việc trẫm giao, khanh đã làm xong rồi à?


Lê Văn Duyệt chắp tay, giọng cứng cỏi:


- Tâu, đêm cũng đã khuya, xử lý ngay có vội vàng quá chăng? Lão thần cảm thấy lo âu


nên muốn vào yết kiến để trực tiếp nghe ý kiến của hoàng thượng.


Vua Minh Mạng nhíu mày:


- Sao còn phải hỏi, thánh chỉ trẫm như vậy chưa rõ ràng sao? Cái tội lăng loàn thất đức


ghê tởm hơn cả cầm thú, như vậy chưa đáng chết sao?


- Tâu hoàng thượng, theo ý lão thần thì nên tạm thời để đó, ngày mai trời sáng ta giao


Tam pháp ty và Tôn Nhân phủ xét kỹ sự việc xem thực hư ra sao. Tội đến đâu lúc ấy sẽ xử đến


đó. Thế thì mới rõ ràng minh bạch chứ ạ!


Vua Minh Mạng lộ rõ vẻ tức giận:


- Khanh lại hồ đồ rồi. Cái việc nhục nhã này, thật là bôi tro trát trấu lên danh giá cả nhà


cả họ ta. Khanh lại bảo đưa ra tòa xét xử để cho cả thiên hạ cùng biết sao! - Vua dằn từng tiếng: -


188


Không - xử - gì - hết, con yêu phụ ấy vốn đã đáng giết từ hồi nó lén lút giao thiệp với bọn cố


đạo, nay lại phạm thêm cái tội tày đình này thì chẳng còn gì để tiếc nữa.


Lê Văn Duyệt cương quyết:


- Tâu hoàng thượng, lão thần vẫn băn khoăn lắm, nếu hoàng thượng quyết giết Anh Duệ


vương phi mà không cần xét xử, xin hoàng thượng sai người khác!


Lê Văn Duyệt quỳ xuống, dâng trả kiếm lệnh.


Vua Minh Mạng không ngờ Lê Văn Duyệt dám chống lại ý mình, ngài khựng lại, chưa


biết nói sao. Lê Văn Duyệt thấy rõ nhà vua nao núng, liền đứng thẳng lên, định tiếp lời thuyết


phục. Chưa kịp mở lời thì…


Từ sau bức rèm, thái hậu đột ngột hiện ra.


- Lê Văn Duyệt, hãy nghe ta nói đây.


Thái hậu vừa nói bằng một giọng lạnh lẽo, vừa bước đến gần.


Lê Văn Duyệt mặt xạm lại:


- Bẩm lệnh bà, lão thần xin nghe.


Thái hậu cười nhạt:


- Ông có nhớ cách đây bảy năm, trong một lần vời ông vào cung, ta đã đề nghị với ông


điều gì chăng?


Lê Văn Duyệt im lặng.


Thái hậu hơi nghiêng đầu, nhìn Lê Văn Duyệt bằng cái nhìn của con chim ưng ngắm con


mồi:


- Ta biết, ông vẫn nhớ. Khi đó ta đã đề nghị ông tôn phù hoàng thượng, nhưng ông đã giả


cách làm lơ.


Lê Văn Duyệt vẫn im lặng.


Giọng thái hậu vang lên, từng âm thanh sắc nhọn trong không gian yên lặng:


- Hôm nay, chính ta đã xin với hoàng thượng cử ông vào nhiệm vụ này. Tại sao lại là ông


mà không ai khác? Giết một con dâm phụ, chỉ cần một tên đội trưởng cũng làm được. Nhưng ta


dành cho ông, có nghĩa là dành cho ông thêm một lần lựa chọn nữa. Hoặc là Mỹ Đường, hoặc là


hoàng thượng. Ta hy vọng lần này ông sẽ lựa chọn khôn ngoan hơn!


Lê Văn Duyệt tay vẫn cầm kiếm lệnh, đứng sững như trời trồng. Mồ hôi rịn ra trên trán


ông.


Vua Minh Mạng tiếp lời, giọng đanh thép:


- Quân xử thần tử, thần bất tử bất trung. Vua khiến bề tôi chết, bề tôi không chết là không


thật trung thành. Nay ta không muốn khanh phải chết, - Nhà vua trừng mắt, nhấn mạnh tiếng


“chết”- ta chỉ muốn chờ xem lòng trung của khanh đối với ta!


Giữa canh năm đêm ấy, lính ập vào phủ Anh Duệ, lôi Mỹ Đường, Mỹ Thùy đi. Một tốp


lính khác lôi Tống Thị Quyên theo hướng khác.


Tống Thị Quyên sợ hãi gào khóc:


- Cứu tôi với! Cứu với!


Nhìn thấy Lê Văn Duyệt trên mình ngựa giữa đám quân lính, bà kêu to.


- Trời ơi may quá, có Đức ông Lê Văn Duyệt đây rồi. Đức ông, cứu mẹ con tôi với!


189


Lê Văn Duyệt đưa cờ lệnh che mặt.


Một tên lính nhét ngay nắm giẻ vào mồm bà Quyên. Tiếng kêu tắt lịm.


Mỹ Đường kêu thét lên:


- Mẹ, mẹ ơi! Thả mẹ ta ra! Thả mẹ ta ra!


Lính lôi hai anh em đi, tra gông vào cổ. Lách cách mấy tiếng khóa gông, hai ông hoàng


đã trở thành hai tên tội phạm.


Lính vừa lôi sểnh họ đi vừa quát:


- Dâm dật cho lắm, khi đang sướng sao không kêu.


Rạng sáng, trên bờ sông Hương, một đoàn lính kéo nhau đi dưới ánh đuốc. Họ khiêng


một cái sọt lớn trong đựng một người đàn bà bị trói chặt. Đó chính là Tống vương phi. Họ mở


sọt, bỏ vào bốn năm tảng đá lớn rồi đưa cái sọt lên thuyền, chèo ra giữa dòng.


Bũm! Cái sọt bị lao xuống sông.


Mặt nước khoắng lên nhiều vòng.


Những bong bóng sủi hơi nổi lên mặt nước.


***


Cái tin về vụ dâm loạn trong Anh Duệ vương phủ phút chốc làm xôn xao cả kinh thành.


Trong chợ Đông Hoa, người ta bàn tán rầm lên.


Một anh bán cỏ cho ngựa ngồi trên đống cỏ khô, nghiêng người sang phía bà bán hàng


đậu gạo.


- Thiệt kinh khủng, bà chị có nghe tin chi không? Cái bà phi chi đó lại đi lẹo tẹo với


chính thằng con mình đẻ ra. Từ cha sinh mẹ đẻ tui nghe nhiều chuyện tư tình trăng hoa, mà


không có chuyện mô dễ sợ như chuyện ni.


Bà hàng đậu gạo tỏ vẻ rành rẽ:


- Biết rồi! Nghe nói người hầu trong phủ bắt gặp, hô rầm lên, bà phi bỏ chạy giả đò


không biết. Nhưng mà đôi giày đang còn rành rành dưới gầm giường thằng con nên hết đường


cãi.


Một người đi mua hàng cũng kháo chuyện:


- Nghe nói hoàng thượng sai xử trầm hà dâm phụ rồi!


- Ôi chao, xử cũng đáng kiếp, chuyện lăng loàn như rứa đáng lẽ phải voi giày mới đáng.


Thả trôi sông là đang còn nhẹ! Mà cũng lạ, cái ông con cũng là công hầu, muốn mấy chục mấy


trăm thê thiếp lại không có, răng lại đi tằng tịu với cả mạ đẻ ra mình.


Ông bán hàng mã kế bên xen vào:


- Ôi, nói thiệt với mụ, cái tụi công hầu nớ, bên ngoài áo mũ xênh xang lên xe xuống ngựa


rứa thôi, chứ bên trong rặt là đồ dâm dật biếng nhác, đứa mô cũng rứa hết!


Hạnh Thảo đi vào chợ, lại gần hàng mã. Cô cầm lên một xấp giấy vàng giấy tiền. Ông


hàng mã đon đả:


- Dạ, thưa bà mua đồ cúng vong hồn phải không?


Hạnh Thảo gật đầu:


190


- Tôi có người quen bị đắm đò, muốn mua chiếc thuyền chiêu hồn.


- Dạ, thuyền ni khi mô ai đặt mới làm, bà đặt thì sáng mai ra lấy.


Sáng sớm ngày mai, bên bờ sông Hương, có một người đàn bà luống tuổi đứng trước


một mâm cúng có cháo, hạt nổ, giấy tiền giấy vàng, và một chiếc thuyền nhỏ bằng giấy.


Đó chính là công chúa Ngọc Tú, trong chiếc áo tràng lam giản dị lâu nay thường mặc.


Công chúa lâm râm khấn khứa:


- Cháu ơi! Chuyện bỗng đâu như sấm sét vụt tới, ngay gian không rõ, sợ e không khỏi


oan tình. Dù oan hay không, cũng một kiếp người bạc phận. Cô cầu cho vong linh cháu siêu


thoát. Qua cõi khác cháu hãy nhẹ nhàng mà đi, đừng vướng vít vinh nhục được mất trong cõi


trần này nữa.


Hạnh Thảo từ phía sau bước tới. Cô đội nón, trùm khăn che gần khuất hết mặt. Đỡ lấy


chiếc thuyền giấy trên tay công chúa, cô lội xuống sông, thả cho trôi đi.


“Cầu vong hồn vương phi nương lấy con thuyền này, khỏi phải chìm đắm trong chín bến


sông Mê.” Hạnh Thảo cũng khấn thầm. Dù không phải người thân của Tống Thị Quyên, nhưng


cô cũng muốn có nén hương an ủi linh hồn người chết thảm.


Con thuyền trôi đi. Công chúa đứng im lặng trước mâm cúng chờ nhang tàn.


Hạnh Thảo lại gần:


- Xin mẹ về nghỉ, để con ở lại tưới rượu đốt vàng cho.


Công chúa lắc đầu:


- Không, con về ngay đi. Không khí trong triều còn ngột ngạt lắm, con đến đây lỡ có ai


nhận diện được thì sẽ phiền lây cho Đăng Hưng đó. Ta thì khác, ai làm gì ta được.


Hạnh Thảo nghĩ đến chồng, không khỏi lo lắng:


- Dạ, con xin nghe lời mẹ.


Cô vái lại lần nữa trước mâm cúng rồi đi.


Còn lại một mình công chúa trần ngâm trước khói nhang. Con sông vẫn vô tình lãnh đạm


xuôi dòng.


Cùng lúc ấy, trong phủ Lê Văn Duyệt, lính hầu được lệnh không tiếp ai, chỉ trừ trường


hợp có thánh chỉ.


Nghe báo có Phạm Đăng Hưng đến xin gặp, Lê Văn Duyệt định khước từ. Nhưng bên


ngoài, Phạm Đăng Hưng đã xăm xăm lên thềm. Tiếng ông vang lên:


- Ta muốn vào gặp Đức ông!


Lính hầu vội thưa:


- Bẩm quan lớn, Đức ông con hôm kia phải đem quân vây bắt vụ gian dâm ở phủ Anh


Duệ cả đêm, mấy hôm nay ngài mệt nên đang còn nghỉ ngơi ạ!


Đăng Hưng không chịu:


- Cứ vào báo là có Phạm Đăng Hưng đến, nhất định Đức ông sẽ cho vào.


Vừa nói, Đăng Hưng vừa vào cửa, đi xăm xăm đến ngay bên giường Lê Văn Duyệt.


- Đức ông! Tạ ơn Đức ông đã tiếp Hưng. Nhìn thần thái Đức ông, Hưng cũng biết Đức


ông trong người không khỏe.


Lê Văn Duyệt trở dậy, uể oải:


191


- Vâng. Thật ra sức khỏe cũng không đến nỗi nào đâu. Chỉ buồn thẹn vì chiến tướng vào


ra trăm trận, đương đầu với cọp beo có, giặc cướp có, nay phải thi hành cái nhiệm vụ bắt gian


dâm trong chốn khuê phòng, thật uổng cả danh tiếng của ta.


Đăng Hưng nói ngay:


- Cũng vì chuyện đó mà Đăng Hưng phải mạo muội xông vào tư dinh của Đức ông đây!


Đăng Hưng muốn hỏi, việc gian dâm ấy có thực hay không?


Lê Văn Duyệt lúng túng:


- Thực hay không? Thực hay không? Câu hỏi ấy…


Đăng Hưng ngắt ngang:


- Câu hỏi ấy, quan trọng lắm!


Lê Văn Duyệt nuốt khan:


- Vâng, câu hỏi ấy quan trọng lắm! Nhưng chính ta… Chính ta cũng không làm sao trả


lời được!


Đăng Hưng nghe vậy thụt lùi một bước, cúi đầu:


- Một mạng người, sao có thể vứt đi vì một tội mà ta chưa biết có hay không?


Lê Văn Duyệt lặng im, vẻ mặt như nuốt phải mật đắng.


Đăng Hưng đau xót:


- Và tại sao lại là Đức ông? Việc trị tội trong nội bộ hoàng thất, thì các đội quân Dực


Chấn, Hổ Oai… không thể làm được hay sao?


Lê Văn Duyệt chua chát:


- Ông Hưng! Ông đã hỏi, tất là ông đã phỏng đoán được vì sao lại là ta rồi!


Đăng Hưng cúi đầu, hai vai rũ xuống:


- Đăng Hưng hiểu rồi. Hoàng thượng muốn dùng tính mạng của Anh Duệ vương phi để


từ nay mãi mãi cách ly Đức ông với hoàng tôn Mỹ Đường.


Giọng Lê Văn Duyệt trở nên khàn đục:


- Không phải hoàng thượng đâu, chính là thái hậu. Ta đã thua một người đàn bà rồi, Đăng


Hưng à. Bà ta ghê gớm lắm, ghê gớm hơn ta tưởng. Ông hãy nhìn lại những chính sách từ khi


hoàng đế lên ngôi. Từ chuyện không lập tể tướng, không lập hoàng hậu, chuyện ban hành các bài


Đế hệ thi và Phiên hệ thi, chuyện bắt dòng dõi các phiên vương đổi từ Nguyễn Phúc thành Tôn


thất, rồi đến chuyện này… Tất cả đều nhắm vào một việc là củng cố quyền lực của hoàng đế. Là


khẳng định tính chính danh của đệ nhị chánh hệ. Tất cả là mưu trí của bà ta. Ta đã phải trả giá vì


đánh giá bà ta quá thấp.


Đăng Hưng cay đắng:


- Trời ơi. Đó là sự thật hay sao? Đức ông biết rõ vậy, mà đành phải chấp nhận?


- Đúng vậy. Rồi ngay cả ông nữa, cũng sẽ có lúc như ta, biết rõ sự thực mà không thể nào


mở miệng.


“Không thể nào… mở miệng?” Phạm Đăng Hưng nghẹn lời. Trước mặt ông là Lê Văn


Duyệt mà trước nay ông vẫn xem như một thần tượng. Giờ phút này, trong tâm hồn ông dường


như có tiếng ầm khủng khiếp vang dội trong tâm tư. Một tượng đài đã sụp đổ.


Đêm.


192


Phạm Đăng Hưng ngồi lặng im trước giấy bút, dưới ngọn đèn. Nét mặt ông ủ rũ, gầy sọm


đi.


Hạnh Thảo nhẹ nhàng lại gần:


- Đêm đã khuya lắm rồi, mai còn phải vào chầu. Xin chàng đi nghỉ.


Đăng Hưng thở dài:


- Mấy hôm nay ta không sao chợp mắt được! Nàng cứ đi nghỉ trước đi. Mới có thai lần


đầu, đừng thức khuya dậy sớm mà ảnh hưởng đến con.


Hạnh Thảo khuyên giải:


- Chàng đã nghĩ đến con, vậy hãy cố vui cho thiếp được vui. Dù sao việc cũng đã rồi, có


trằn trọc bao nhiêu cũng không thay đổi được!


- Nàng ơi, với thiên hạ thì là việc đã rồi, chứ với ta thì đã xong đâu? Cái đau khổ nhất của


ta bây giờ là sẽ chép vào sử làm sao đây? Làm sao ta chép cái việc ô nhục ấy cho người ta, trong


khi chính Đức ông Lê Văn Duyệt cũng không biết thực hư?


Hạnh Thảo cầm tay chồng:


- Đúng là việc khổ tâm cho chàng lắm… Thiếp biết một câu một chữ chàng viết xuống


cũng thận trọng đắn đo vô cùng.


Đăng Hưng cay đắng:


- Hoàng thượng giao cho ta việc chép sử, bảo là tránh cho ta khỏi bị nguy hiểm. Ai ngờ


nay mới thấy, không có gì gian nan nguy hiểm bằng cái việc này.


Hạnh Thảo hỏi:


- Thiếp nghe nói, theo luật lệ từ xưa thì vua không được đọc sử đương thời. Vậy thì


chàng viết thế nào, hoàng thượng đâu có can thiệp được?


Đăng Hưng lắc đầu:


- Không phải đâu nàng ơi. Hoàng thượng không đọc, nhưng thủ thư đọc, rồi thái hậu đọc,


Trung Trực đọc. Ta nhiều lần ngẫm nghĩ, muốn thà rụng đầu như quan chép sử nước Triệu thời


Chiến quốc để viết cho trung thực. Nhưng lại nghĩ đến con gái đang ở trong cung, dứt dây e


động đến rừng. Vì vậy mà khổ tâm đến bỏ ăn mất ngủ. Cái chuyện này, viết cũng không được


mà không viết cũng không xong…


***


Lễ đại triều tháng ấy, vụ án ở phủ Anh Duệ được tuyên ngay trước sân chầu. Trước điện


Thái Hòa, hai anh em Mỹ Đường, Mỹ Thùy bị điệu ra trước văn võ bá quan, quỳ chờ nghe thánh


chỉ.


Thái giám tuyên đọc:


“Tôn thất Mỹ Đường, lòng dạ cầm thú, phạm tội thất đức từ xưa đến nay chưa từng thấy.


Trẫm nghĩ xấu hổ cho giống dòng hoàng tộc, nên đã hạ lệnh xử kín Tống thị, để đỡ tai tiếng ô


nhục. Nhưng nay việc dữ đồn xa, trong triều ngoài chợ ai ai cũng đều biết, không ai không bàn


tán sỉ vả. Xét không thể bao che được nữa nên trẫm phải đưa ra định tội để làm yên công luận


trong ngoài…”


Lê Văn Duyệt đứng gần ngai vua, khuôn mặt im lìm như tượng đá.


193


“… Nay xét Mỹ Đường đáng tội voi giày ngựa xé, nhưng dù sao theo điều khoản nghị


thân cũng có lệ giảm tội cho người trong hoàng thất. Lại nghĩ đến công lao của Anh Duệ hoàng


thái tử Cảnh ngày trước, nên cũng thương tình dung cho tính mạng, khỏi tội lao tù. Song nếu tha


hẳn thì không khỏi công luận phẫn nộ, nay trẫm lệnh cho cách hết phẩm tước, nạp lại quả ấn và


dây thao. Tôn thất Mỹ Thùy ở cùng một nhà mà không biết can ngăn mẹ và anh, để sinh ra việc


dâm loàn xấu hổ, cũng phải chịu hình phạt như vậy…”


Đăng Hưng đứng trong hàng triều quan tam phẩm. Không giấu được vẻ thương xót, ông


đưa ống tay áo lên che mặt.


“… Trẫm đã tính toán đủ đường, khoan hồng cất nhắc nhiều lắm. Từ nay hai anh em hãy


yên phận thứ dân, phải vui vì được ơn khoan hồng tha mạng, cố gắng hối cải đừng tái phạm lỗi


lầm. Truyền Tôn Nhân phủ gạch tên Mỹ Đường, Mỹ Thùy trong sổ tôn thất, con cháu từ nay về


sau cũng bị xóa tên. Khâm thử.”


Mỹ Đường, Mỹ Thùy quỳ mọp giữa sân triều, ngẩng đầu lên nhìn, ánh mắt mờ đục ngây


dại như không còn chút tinh thần nào nữa.


Lính áp giải hô:


- Tạ ơn hoàng thượng đi!


Hai anh em nhìn quanh, ngật ngưỡng như chẳng còn hiểu gì.


Một võ quan đứng trên thềm bệ vội quát lính lôi Mỹ Đường, Mỹ Thùy ra. Theo lối cửa


hậu phía sau Đại nội, họ bị tống xuất ra khỏi hoàng cung.


Hai ông hoàng, nay đã thành hai kẻ dân đen tay trắng, thất thểu dắt dìu nhau về lại nhà


xưa.


Mỹ Đường, Mỹ Thùy bước vào Anh Duệ phủ. Vương phủ ngày trước tráng lệ như vậy,


bây giờ đã hoang tàn. Những căn phòng trống không, đồ đạc đã bị cướp sạch.


Mỹ Thùy co ro ngồi xuống một góc thềm, cạnh những ngọn cỏ hoang lún phún mọc


xuyên qua kẽ gạch.


- Anh, anh và mẹ có làm việc loạn luân đó không?


Mỹ Đường sững sờ, nghẹn ngào:


- Trời ơi, chính em mà cũng nghi ngờ anh sao?


Mỹ Thùy gục mặt xuống, khóc.


- Em có làm gì đâu mà bây giờ mất hết tất cả rồi !


Những ngày sau đó, người dân trong thành thường thấy một người đàn ông trẻ tuổi áo


quần xốc xếch, đầu tóc rối bù, đi lang thang ngẩn ngơ trên những con đường ven sông. Vừa đi


Mỹ Đường vừa cất tiếng gào thảm thiết:


- Mẹ ơi, mẹ ơi!


Sông vẫn lặng lẽ chảy xuôi dòng.


Một tốp đàn bà đi chợ sớm đang băng qua. Thấy Mỹ Đường, họ xì xào:


- Biết ai đó không, cái ông hoàng Mỹ Đường đó!


- Cái ông ngủ cả với mẹ, bị bắt gặp trần truồng tô hô đó hả?


- Nghe nói rứa đó, chao ôi, con vua với cháu chúa, chừ loạn hết cả rồi.


194


Một bà thì thầm, vẻ khoái trá:


- Nghe nói ông ấy dâm lắm, ghê lắm… Trẻ không tha, già không thương, bạ ai cũng quơ.


Mỹ Đường vô tình đi tha thẩn đến gần. Mấy người đàn bà hốt hoảng:


- Ôi chao, nguy quá, cái lão dâm ấy hắn thấy tụi mình rồi đó, chị em ơi…


Cả bọn hò nhau vắt chân lên cổ chạy.


Mỹ Đường nhìn theo, ngơ ngẩn một lúc mới hiểu. Vừa khóc, ông ta vừa đấm ngực:


- Tha tội chết cho ta, để cho ta mang lấy tội sống, cả đời nhúng mặt xuống bùn.


Đêm ấy trước cổng phủ Phạm Đăng Hưng, Mỹ Đường đấm cửa, gào khan:


- Quan tổng tài! Quan tổng tài! Mở cửa cho tôi vào.


Bên trong dường như ai nấy đã đi ngủ cả, chỉ thấy im lặng.


Mỹ Đường vẫn đấm cửa:


- Quan tổng tài! Tôi nghe nói ông là người trung nghĩa tiết tháo. Ông có dám ra nói


chuyện với tôi không, hay cũng như người ta quay lưng núp mặt?


Bên trong phủ, Hạnh Thảo đang buông mùng, quạt muỗi. Nàng thấy đứa bé trong thai


đạp mạnh, liền cầm tay chồng đặt lên bụng mình:


- Chàng hãy nghe con của chúng mình đang đạp đây…


Đăng Hưng lòng hơi khuây, mỉm cười:


- Đạp mạnh lắm! Chắc là con trai!


Tiếng gào của Mỹ Đường vọng vào, lần này rõ mồn một:


- Đăng Hưng! Ông cũng tránh không dám tiếp tôi ư? Đăng Hưng!


Đăng Hưng ngồi dậy nghe ngóng. Lính hầu chạy vào:


- Bẩm quan lớn, cái ông Mỹ Đường đến day cửa nhà ta, đòi gặp quan. - Người lính hạ


giọng: - Mấy hôm nay ông ấy đến khắp các nhà quan day cửa kêu gào, ai cũng tránh không dám


tiếp, rầy rà lắm. Quan lớn cứ ngủ đi, để con đối phó cho.


Đăng Hưng khoác áo, bước ra:


- Chú ra mở cửa, mời ông ấy vào đây.


Hạnh Thảo bước theo ra, lo lắng. Lính hầu cố gắng ngăn lại:


- Không quan nào dám tiếp ông ấy đâu, quan phải nghĩ kỹ kẻo phiền phức lắm đó!


Đăng Hưng nghiêm giọng:


- Ta bảo chú cứ mời ông ấy vào đây!


Lính hầu không dám trái lời, vội ra mở cổng.


Ngoài trời mưa tầm tã, cảnh vật thê lương. Một bóng đen trơ trọi đứng lù lù trong đêm


tối.


Cây đèn chai trên tay chú lính soi vào khuôn mặt hốc hác ướt đẫm mưa của Mỹ Đường.


Bước lên thềm, Mỹ Đường chìa hai bàn tay đang run lẩy bẩy, nghẹn ngào:


- Phạm thượng thư! Thật không ngờ… Ba hôm nay tôi đi khắp các nhà quan trong kinh


thành, những người đã là bạn bè, đã là thủ hạ, đã từng nói sẽ tôn phò tôi, đã từng thề đời đời


trung thành với dòng dõi của Anh Duệ hoàng thái tử! Vậy mà nay ai cũng khóa cửa bịt tai, sợ


195


gặp tôi còn hơn sợ thần chết. - Mỹ Đường cười sằng sặc, đau đớn - May quá, vẫn còn một người


dám gặp tôi!


Phạm Đăng Hưng ôn tồn:


- Đức ông, xin hãy vào trong nhà Hưng đã. - Quay lại, ông bảo Hạnh Thảo - Nàng sắp


sẵn trà nóng và lấy quần áo khô cho Đức ông dùng tạm.


Mỹ Đường chệnh choạng định bước qua cửa.


Đúng lúc đó, hai bóng đen bịt mặt từ bên ngoài lao tới, một người thộp cổ Mỹ Đường


nhét giẻ vào miệng, một người khóa tay Mỹ Đường lôi đi.


Hai con ngựa chờ sẵn bên đường, hai tên bịt mặt ôm Mỹ Đường đặt lên yên, ra roi biến


mất vào đêm tối. Tất cả xảy ra trong nháy mắt, không ai kịp kêu lên một tiếng.


Chú lính hầu của Phạm Đăng Hưng rút gươm chạy ra, nhưng không kịp. Tất cả đã biến


vào màn đêm.


Hạnh Thảo khiếp sợ, ôm bụng quỵ xuống. Phạm Đăng Hưng hoảng hốt đỡ vợ, cùng chú


lính dìu Hạnh Thảo vào trong.


Qua cơn khiếp hãi, nàng hé mắt, giọng vẫn còn run:


- Cũng còn may, bọn cướp không xâm phạm đến quan lớn.


Đăng Hưng hạ giọng:


- Bọn này không phải cướp đâu! Và chúng cũng không nhắm vào ta đâu!


- Ý quan lớn muốn nói…


- Chưa thể đoan chắc chúng là ai, nhưng chắc chắn có một thế lực không muốn ta tiếp


xúc với Mỹ Đường.


Trong lúc ấy, Mỹ Đường cảm thấy tay chân tê dại, ông bị chở trên lưng ngựa như một túi


đồ.


Một trong hai gã thích khách lên tiếng:


- Nhanh lên, trời sắp sáng rồi.


Mỹ Đường bất giác dựng tóc gáy. Con ngựa chồm lên phi thật nhanh, tiếng roi da vút đen


đét vào hông nó. Rồi chợt con ngựa bị ghìm cương, hí lên, dừng lại. Hai tên kia khiêng Mỹ


Đường vào một căn nhà rộng, ném phịch xuống đất.


Ông vừa lồm cồm ngồi dậy thì lãnh ngay một bạt tai như trời giáng.


Một bàn tay thô bạo lôi nắm giẻ đang nhét trong mồm ông ra. Mỹ Đường bật kêu:


- Các ngươi là ai?


Một cái tát nữa khiến ông ta ngã dúi xuống:


- Mày không cần biết chúng tao là ai. Nghe đây: Nếu còn đi gặp các quan triều để lu loa,


thì xem chừng cái mạng mày đó.


Mỹ Đường gầm lên:


196


- Chúng mày dám giết tao à? Có dám thì giết đi! Ta đâu còn thiết sống nữa!


- Ha ha, giết mày à? Thật không có gì dễ hơn. Nếu mày chết ở đây thì chẳng khác nào


một con gián chết bẹp, xem ra còn hèn mạt hơn một con gián nữa đó. Nhưng đâu có được, chúng


ta đâu có sinh phúc cho mày được chết.


Nói rồi tên này bồi một cú đấm khiến Mỹ Đường hộc máu mũi. Xong, cả hai tên mở cửa


phòng, dùng khinh công chạy biến.


Mỹ Đường lem luốc, thiểu não, thất thểu bước ra theo. Nhìn quanh, thấy một hành lang


dài, ông đi vào đó. Hai bên là hai dãy phòng đóng kín, quang cảnh dơ dáy luộm thuộm, áo quần


phơi giăng mắc rất lộn xộn.


Mỹ Đường chẳng hiểu đây là đâu, tiện tay đẩy cửa một căn phòng.


Trong phòng, một đôi trai gái đang giỡn hớt trên giường. Thấy cửa mở, cả hai hoảng hốt


nhỏm dậy. Gã đàn ông quơ lấy quần áo khoác vội lên người. Còn cô gái vẫn trần truồng, cười


nhăn nhở:


- Trời đất, ông là ai mà ẩu rứa. Mót quá nhịn không nổi hả? Chờ chút xíu nữa đi mà.


Mỹ Đường lúng túng quay ra:


- Ta là đệ nhất hoàng tôn, còn đây là chỗ nào?


Cô gái cười như nắc nẻ.


- Đệ nhất hoàng tôn à? Đây là nhà thổ ở xóm An Hòa, chỗ ni hàng trăm người lui tới mà


thiệt cả đời tui chưa thấy hoàng tử, hoàng tôn mô vô đây.


Gã khách chơi thò chân xuống giường, bực bội:


- Thằng cha ni điên rồi, ngó bộ dạng hắn thì biết, hoàng tử hoàng tôn chi cái thứ hắn. Ê


thằng khùng, cút mau đi không chết với tau.


Một tên đầy tớ to khỏe từ phía sau nghe tiếng chạy tới, nắm cổ áo Mỹ Đường lôi xểnh ra


cửa, không quên bồi thêm một cú đá thật mạnh.


Mỹ Đường ngã sấp xuống, nhắm mắt, nằm lặng đi. Lúc mở hé mắt, chỉ thấy mình nằm


giữa một vũng bùn.


Mỹ Đường khóc không ra tiếng. Mắt mở to, trao tráo, nhìn trừng trừng ra phía trước.


Trước mắt ông, cổng An Hòa phía Tây Bắc kinh thành hiện ra, sừng sững, huy hoàng


trong ánh ban mai.


Chương 34


Con không thể đứng trên cha


197


Trong thư phòng, Phạm Đăng Hưng ngồi trầm ngâm trước trang giấy. Tay cầm


bút, tay chống cằm, vẻ mặt ông nặng trĩu ưu tư.


Hạnh Thảo bụng đã lớn, chậm rãi từng bước đến gần chồng, tay bưng một khay


nhỏ.


- Mùa hè nóng nực, xin chàng uống nước đậu ván cho mát trong người.


Đăng Hưng quay lại:


- Phu nhân! Nàng đã sắp đến ngày sinh, sao còn khó nhọc như vậy?


Hạnh Thảo ngồi xuống bên cạnh.


- Dạ đâu có sao, thiếp nghe nói làm việc nhiều thì sau này sinh dễ. Thiếp nghe nói


ngày mai Đức ông Lê Văn Duyệt lên đường vào Nam. Quan lớn có sang tiễn chân không,


để thiếp cho sắp kiệu.


Đăng Hưng im lặng. Hạnh Thảo nhẹ nhàng:


- Quan lớn vẫn thường nói, Đức ông bên ngoài là quan trên, nhưng bên trong thật


là người bạn tâm giao tri kỷ. Nay Đức ông sắp đi xa vạn dặm, chưa biết khi nào trở về.


Nỡ nào quan lớn không đến.


Đăng Hưng chỉ khẽ lắc đầu, nhắm mắt, mặt nhăn lại ưu tư. Hạnh Thảo nắm lấy


tay ông. Đăng Hưng cầm lấy tay vợ siết chặt, rung rung như muốn chia sẻ nỗi niềm… Lát


sau, ông mở mắt, nghẹn ngào:


- Anh Duệ hoàng thái tử Nguyễn Phúc Cảnh ngày trước là người có công, mới


bốn tuổi đã ra lo việc nước. Khi ngài không may chết đi, xa gần ai cũng khóc tiếc. Nay


con cái ngài không được thừa hưởng ngôi báu, mà cả dòng dõi về sau cũng đời đời kiếp


kiếp không cất đầu lên được!


Hạnh Thảo an ủi:


- Thiếp nghĩ tới chuyện đó cũng đau lòng lắm! Nhưng chuyện này lớn quá, ngoài


sức mình, biết làm sao được? Dù sao ân tình của Đức ông đối với nhà ta rất sâu đậm, xin


quan lớn đừng nên tuyệt tình.


Đăng Hưng cười khan, chua chát:


- Ta đâu có tuyệt tình. Giá mà ta tuyệt tình được thì đã dễ, ta tuyệt tình được thì


lòng ta không đau xé như thế này.


Quả vậy, nỗi khổ tâm của Đăng Hưng là không biết làm sao đối mặt với Lê Văn


Duyệt. Sau việc dữ ở Anh Duệ vương phủ, ông cảm thấy như người bạn tri kỷ đã không


còn là Lê Văn Duyệt của ngày hôm trước nữa. Một Lê Văn Duyệt mà ông đã biết, đã


ngưỡng mộ: Dũng cảm, quyền biến, cơ mưu, tính toán nhưng chưa bao giờ khuất phục!


Lễ tiễn đưa Lê Văn Duyệt vào Nam nhậm chức diễn ra long trọng ở điện Thái


Hòa. Theo lệnh vua, tất cả các quan văn võ đều phải dự, không ai được vắng mặt.


Trước cổng Ngọ Môn, một đoàn quân đang chỉnh tề đội ngũ. Hơn chục chiếc xe


ngựa nối đuôi nhau đứng. Lê Văn Duyệt mặc võ phục từ trên ngựa bước xuống, đi vào


sân chầu, tiến đến trước mặt vua.


Dáng vẻ ông vẫn oai nghi, nhưng khác với những lần trước, lần này ông quỳ


xuống.


198


- Thần Lê Văn Duyệt xin ra mắt hoàng thượng!


Các quan nhìn nhau. Có tiếng thì thầm rất khẽ:


- Tiên đế cho quốc công được đặc ân Nhập triều bất bái, vậy mà nay ngài cũng chịu quỳ


rồi đó!


Minh Mạng uy nghi rời ngai bước xuống, nở một nụ cười ngạo nghễ.


- Hỡi tất cả triều thần! Lê quốc công là vị lão tướng công huân, trước đây khi tiên đế mới


lên ngôi đã giao cho làm Tổng trấn Gia Định thành. Về sau nhiều việc trọng yếu, nên phải triệu


quốc công về triều lo việc. Lê quốc công hãy nghe đây: Lòng trung thành của quốc công nay đã


tỏ rõ, trẫm vô cùng tin tưởng nên lại một lần nữa đem cả miền Nam giao cho khanh trấn giữ.


Khanh hãy tiến lên nhận chung ngự tửu này, đây là vinh dự mà trẫm đặc biệt ban cho.


Lê Văn Duyệt tạ ơn rồi tiến lên thềm. Vua Minh Mạng đứng trên cúi xuống ban ngự tửu.


Lê Văn Duyệt nhận chung rượu uống cạn, vẻ mặt im lìm không lộ cảm xúc.


Ông đi giật lùi ba bước theo lễ rồi đi thẳng một mạch ra khỏi Ngọ Môn. Tiếng kèn trống


vang lên, đoàn quân trẩy đi ngay lập tức..


Khi đi ngang nhà Đăng Hưng, thấy cửa đóng im lìm, Lê Văn Duyệt nghĩ thầm:


- Đăng Hưng, ta biết ông giận ta lắm. Ta không trách ông. Ông chỉ biết sống theo lương


tâm, nhưng trong ván cờ quyền lực này, lương tâm đôi khi là liều thuốc tự vận. - Lê Văn Duyệt


bất giác đanh mặt lại - Ta còn nhiều việc lớn phải làm, ta chưa muốn chết!


Trong lúc đoàn quân đang ra khỏi kinh thành thì trong hoàng cung, thái hậu ngồi trên sập,


tay khua vào chiếc tô sứ trong có sáu con xúc xắc xăm hường. Thái hậu đổ xúc xắc ba lần, lẩm


bẩm:


- Nhất, nhì, tam, tứ, ngũ, lục. Thế là Suốt rồi. Trời lại phù hộ ta rồi đây.


Ngẩng lên, thấy Tổng quản thái giám Trần bước vào, bà hỏi ngay:


- Hay lắm, ta đang nóng lòng gặp ngươi đây. Sự việc ra sao?


Tổng quản thái giám Trần lại gần, thì thầm:


- Thái hậu dự đoán như thần, quả nhiên là vậy!


- Ngươi nói sao? Đúng là có vắng mặt một người?


- Dạ đúng vậy. Hoàng thượng đã lệnh cho tất cả trăm quan phải đến dự lễ tiễn chân Lê


Văn Duyệt. Vậy mà Phạm Đăng Hưng vẫn vắng mặt.


Thái hậu cười đắc chí:


- Ta cho rằng lễ tiễn chân này là một phép thử rất tài tình. Giờ thì cả triều đình ai cũng


nghĩ là Lê Văn Duyệt đã đổi mạng con Tống Thị Quyên để lấy cái ấn tổng trấn miền Nam. Qua


đây ta sẽ thấy được thái độ của từng người với việc đó.


- Vâng, vậy là rõ ràng Đăng Hưng trong lòng bất mãn với Lê Văn Duyệt, nên mới tỏ thái


độ tẩy chay y.


Thái hậu gật đầu:


- Tốt. Một mũi tên bắn hai con chim. Vừa khử được những mưu đồ tôn phò Mỹ Đường,


vừa ly gián được hai gã đại thần cố mệnh. Từ nay chúng sẽ như hai chiếc đũa rời, có muốn gắp


cũng không sao gắp được!


Tổng quản thái giám Trần cúi khom xuống:


199


- Lệnh bà thật là người Trời. Cơ mưu trí tuệ của bà, ngay cả hoàng thượng chắc


cũng không sao đoán được.


Thái hậu không đáp, lại đưa tay đổ xúc xắc thêm lần nữa.


- Ba lục, ba tứ. Vị chi là phân song tam hường. Vận ta đang đỏ lắm. Nhà ngươi


hãy chờ xem, mũi tên của ta không phải chỉ bắn trúng có hai con chim, mà còn trúng ba,


bốn con nữa đó.


***


Vua Minh Mạng thong thả bước đi giữa những luống hoa trong vườn ngự uyển. Phạm


Đăng Hưng đi sau một bước, vẻ mặt tiều tụy như vừa qua một trận ốm.


Vua Minh Mạng dừng bên thềm một tòa nhà, vui vẻ nhìn mấy cây non mới trồng.


- Đăng Hưng, khanh biết đây là cây gì không? Nếu khanh biết được thì quả thật là thông


kim bác cổ đó!


Đăng Hưng tâu:


- Tâu hoàng thượng, cây này quả thật hạ thần chưa thấy bao giờ. Thần thực sự chỉ dám


đoán mò, nếu lỡ có sai xin chịu tội cùng hoàng thượng.


Minh Mạng hào hứng:


- Đoán ra sao? Hãy nói ta nghe.


- Tâu, theo sách Dị thảo chí, thì loài cây có lá xòe năm cánh như hình bàn chân chim


bạch nga, mùa thu lá sẽ chuyển sang sắc đỏ, ấy là loài ngô đồng. Thời cổ vua Phục Hy là bậc vua


thánh, khi ngài lên ngôi có chim phượng đậu xuống cây ngô đồng hót mừng… Nhưng ngô đồng


chỉ có bên Tàu, chưa nghe thấy có ở nước ta! Vì vậy quả tình hạ thần chưa dám nói chắc.


Minh Mạng nghe nói hết sức hài lòng.


- Đăng Hưng, khanh quả không hổ danh là bậc túc nho uyên bác, biết hết chuyện trên trời


dưới đất. Đây chính là loài ngô đồng đó! Nhưng khanh bảo ngô đồng chỉ có bên Tàu là sai rồi!


Trung Trực đang theo hầu, thấy vua đưa mắt ra hiệu, liền tiến lên giảng giải:


- Thuở trước, vua Tàu có sai quan tỉnh Quảng Đông đưa sang tặng hai cây, tiên đế cho


trồng hai bên điện Cần Chánh nhưng không sống được. Năm nay hoàng thượng cho vẽ hình lá


cây, sai lính cầm lên vùng rừng núi nước ta, tìm tòi khắp nơi, kiếm được sáu cây y hệt, mang về


trồng trong ngự uyển. Mấy tháng nay chăm sóc kỹ càng lắm, đến bây giờ thì chắc chắn sống


được cả rồi đó!


Đăng Hưng trầm trồ.


- Vậy là nước Nam ta cũng có những loài cây quý nhất, chứ không phải chỉ bên Tàu mới


có!


Minh Mạng cười sảng khoái.


200


- Đúng như vậy đó! Trẫm biết, khanh làm sao mà ngờ. Trẫm luôn làm những điều mà


người ta cho là không thể làm được!


Câu nói của Minh Mạng như gợi nhắc điều gì, khiến Đăng Hưng đang phấn khởi bỗng


nhiên im lặng. Vừa khi ấy Trung Trực tâu:


- Tâu hoàng thượng, trời âm u như sắp mưa, xin hoàng thượng vào thủy đình tạm nghỉ.


Minh Mạng đi vào một ngôi đình lục giác, ngồi xuống trước chiếc bàn tròn bằng cẩm


thạch. Cung nữ dâng trà, Trung Trực đỡ lấy đặt lên bàn. Bất chợt vua hỏi:


- Đăng Hưng, dạo này ta thấy khí sắc ngươi có phần tiều tụy hơn trước phải không?


- Tâu hoàng thượng…


Thấy Đăng Hưng lúng túng, vua Minh Mạng tỏ vẻ ôn tồn:


- Đăng Hưng, ngươi hãy ngồi đi.


Đăng Hưng cúi đầu:


- Hoàng thượng ban cho được ngồi, thần xin tạ ơn.


Nói rồi ông ngồi xuống chiếc ghế thấp ở bên kia bàn. Nhà vua tiếp tục:


- Đăng Hưng, khanh có biết vì sao trẫm không gặp khanh trong điện Cần Chánh, mà lại


dành một buổi chiều thư thả với khanh trong vườn ngự không?


Đăng Hưng dè dặt:


- Tâu, thần biết hoàng thượng trăm công ngàn việc, mỗi khắc quý hơn vàng bạc. Nay lại


dành thời giờ nhàn tản với thần, thần hiểu là ơn mưa móc rất đặc biệt.


Minh Mạng nhìn như soi vào mặt Đăng Hưng.


- Đúng! Khanh biết như vậy là rất tốt. Trẫm muốn khanh hiểu rõ rằng: khanh là một sủng


thần của trẫm, trẫm đặc biệt ưu ái khanh! Nếu dưới quyền cai trị của trẫm, vị quan nào cũng tận


trung và ngay thẳng như khanh, thì lo gì nước nhà không cường thịnh. Đấy chính là cái điềm


chim phượng đậu cây ngô đồng, là cái mong muốn lớn nhất trong lòng trẫm!


Đăng Hưng cúi đầu, vẻ mặt đau khổ. Minh Mạng nhìn rõ vẻ mặt Đăng Hưng, nhưng làm


lơ như không thấy.


- Trung Trực, bày cờ ra đi. Hôm nay chúng ta vua tôi thân ái, quyết cùng nhau một trận


hơn thua.


Nhà vua đi nước đầu, đưa tay nhấc con pháo dập mạnh xuống bàn cờ.


- Đăng Hưng, đỡ đi, cho trẫm xem bản lĩnh của khanh.


Đăng Hưng vẫn cúi mặt, lặng im. Nhà vua lừ mắt:


- Kìa, sao vậy?


Trung Trực lo lắng, khẽ khều tay áo Đăng Hưng:


- Hoàng thượng đã mở đầu, xin quan Tổng tài tiếp theo.


201


Đăng Hưng trù trừ một lúc, rồi bỗng đứng dậy, lùi ra khỏi chỗ ngồi.


- Tâu hoàng thượng, xin tha tội cho hạ thần. Trong lòng hạ thần hiện ngổn ngang trăm


mối, không còn lòng trí nào mà chơi cờ được nữa.


Nhà vua cau mặt. Trung Trực cố đánh trống lảng:


- Tâu hoàng thượng, quan Tổng tài hôm nay hình như không được khỏe. Nếu hoàng


thượng không chê, tiểu thần xin được thay quan tổng tài hầu cờ hoàng thượng.


Vua Minh Mạng ngoảnh mặt đi, cố nhịn.


- Đăng Hưng, nếu bị ốm đau thì thôi, trẫm không ép. Ta sẽ cho thái giám đưa khanh về.


Trung Trực, nhớ bảo cung nhân đưa quà trẫm ban tặng cho quan tổng tài.


Đăng Hưng đang căng trán vì suy nghĩ, chợt quỳ sụp xuống:


- Tâu hoàng thượng, hoàng thượng đã rộng ơn mưa móc, xin hãy nghe thần được thổ lộ


tâm can.


Minh Mạng hứ một tiếng:


- Thổ lộ tâm can? Cái gì vậy?


Đăng Hưng đứng dậy.


- Tâu hoàng thượng, xin người cho phép thần được thôi chức tổng tài Quốc sử quán!


Bị bất ngờ, nhà vua khựng lại, một lúc sau mới lên tiếng:


- Khanh nói sao? Khi trẫm bổ nhiệm khanh vào chức vụ này, khanh đã nói gì? Khanh còn


nhớ không?


Đăng Hưng quỳ ngay xuống:


- Hoàng thượng! Thần vẫn nhớ, nhớ rõ lắm. Hoàng thượng đã cứu sống hạ thần khỏi cái


án tử hình mà Trương Công Kế bày ra. Chẳng những cứu sống, hoàng thượng còn rửa sạch oan


nhục cho thần, ban lại cho thần danh dự còn quý hơn tính mạng. Cho nên thần đã nói rằng, bất kể


hoàng thượng có bảo thần đi vào nước sôi hay lửa bỏng, thần đều chẳng dám chối từ…


Minh Mạng nhìn thẳng vào mặt Đăng Hưng:


- May sao khanh còn nhớ. Trẫm đã bảo rằng, trẫm không bắt khanh phải làm những việc


gây nguy hiểm cho khanh, trẫm sẽ giao cho khanh một việc không nguy hiểm!


- Tâu hoàng thượng, thần không sợ nguy hiểm. Nhưng có một việc, thần chẳng biết chép


vào sử thế nào đây? Chép làm sao cho đúng với đạo làm tôi, mà không bị lương tâm vò xé?


Minh Mạng lặng đi, mím môi, rồi thở hắt ra:


- Thôi được rồi. Trẫm đã không muốn nhắc, mà khanh cứ khăng khăng khơi ra, thì đây


trẫm sẽ nói chuyện thẳng thắn với khanh. Trẫm biết khanh muốn nói đến cái chết của Tống Thị


Quyên.


Đăng Hưng cúi đầu:


202


- Hoàng thượng anh minh, lúc nào cũng soi thấu hạ thần từ trong gan ruột.


- Được, khanh nghe đây. Tống Thị Quyên là người đàn bà trí tuệ nông nổi mà tham vọng


thì không bờ bến. Trước đây khi phụ hoàng ta còn sống, ngôi kế vị chưa định, y thị đã từng cả


gan lén lút câu kết với bọn cha cố tả đạo, rắp tâm giành ngôi thái tử. Trẫm hỏi khanh: Riêng một


tội ấy đã đáng lăng trì hay chưa? Cái tội trầm hà, ta cho là còn quá nhẹ.


Đăng Hưng không tin.


- Thật vậy sao? Nếu vậy, tâu hoàng thượng, sao người không đưa ra triều nghị để xét xử


đúng người, đúng tội? Sao để liên lụy đến hai người con trai tội nghiệp?


- Khanh ngây thơ quá! Thị Quyên âm mưu soán đoạt, ấy là soán đoạt cho con trai nó, vậy


thì người phải tru diệt chính là Mỹ Đường, chứ còn ai nữa?


Đăng Hưng lắc đầu:


- Tâu hoàng thượng, bậc vương giả cầm quyền phải lấy công chính để trừ kẻ gian tà. Nếu


Anh Duệ vương phi có tội sao không đường đường giao cho Tam pháp ty xem xét bằng cớ, tội


trạng đến đâu, ai có liên quan, ai không. Lẽ nào muốn trừ cái ám muội lại dùng đến thủ đoạn ám


muội, vậy thì đâu còn là chính nghĩa thắng gian tà nữa.


Minh Mạng quắc mắt:


- Khanh dám nói ta dùng thủ đoạn ám muội ư? To gan!


Thấy vua nổi nóng, Đăng Hưng thụt lùi một bước, nhưng không quỳ, không cúi đầu:


- Đăng Hưng trong lòng sôi nổi không kiềm chế được lời nói, xin đắc tội cùng hoàng


thượng.


Minh Mạng cố nén giận.


- Ta đâu có vu hãm cho Thị Quyên. Cái tai tiếng ầm ỹ mẹ gian dâm với con, tự trong phủ


Anh Duệ đồn ra. Ta không bõ công tra xét, vì ta cho rằng dù có hay không việc ấy thì nó thật


cũng đáng giết. Nếu năm xưa mẹ ta không ngăn cản, thì ta đã xin phụ hoàng chém đầu nó từ lâu


rồi.


Đăng Hưng nghẹn giọng:


- Tâu hoàng thượng, người không nghĩ đến bát nhang của Anh Duệ hoàng thái tử, là anh


ruột của người sao? Người không nghĩ đến Thừa Thiên Cao hoàng hậu, người đã nhận ngài làm


con đích tử sao? Người nỡ để con cháu của họ đời đời bị ô nhục sao? Tình người ở đâu? Lẽ phải


ở đâu?


Vua Minh Mạng lúc này đã kiềm chế được cơn giận, ngài cứ để mặc cho Đăng Hưng nói


hết. Giọng nhà vua trở lại bình tĩnh, đanh thép.


- Đăng Hưng, trong lòng ngươi trong sáng, trắng đen rõ rệt, ngay gian phân minh, trẫm


biết. Nhưng ngươi không nên cứng nhắc quá! Cái lẽ chính tà ngươi nói đến chỉ là cái đạo đức


thông thường của bọn hiệp sĩ mà thôi! Bậc đế vương lập công nghiệp không phải lúc nào cũng


203


câu nệ như thế! Ngươi hãy nhìn lại lịch sử mà xem, chỉ những kẻ đại ác mới làm được những


việc đại thiện mà thôi!


Đăng Hưng chua chát.


- Hạ thần ngu muội, không thể hiểu được thế nào là kẻ đại ác mà lại làm được việc đại


thiện.


Minh Mạng cười ngạo nghễ:


- Vậy là khanh cũng chưa thực là thông kim bác cổ! Trẫm nhắc cho ngươi nghe: Tần


Thủy Hoàng thu gom bảy nước thời Chiến Quốc, giết hàng vạn người, ai ai cũng cho là bạo


chúa. Nhưng không có Tần Thủy Hoàng, làm sao có đất nước Trung Hoa rộng lớn như ngày


nay? Đường Thái Tông Lý Thế Dân phục kích cửa Huyền Vũ giết chết hai anh, sử sách đời đời


chê trách. Nhưng nếu Lý Thế Dân không làm như vậy, thì nước Tàu chia ba, lấy đâu ra công


nghiệp rực rỡ của nhà Đường?


Đăng Hưng dõng dạc:


- Và người chép sử vẫn chép đầy đủ về sự biến ở cửa Huyền Vũ, để đời sau biết rõ tường


tận chỗ sáng cũng như chỗ tối trong công nghiệp của Đường Thái Tông! Hoàng thượng có chấp


nhận điều đó không?


Minh Mạng trừng mắt:


- Ngươi dám thách thức trẫm sao?


Đăng Hưng nắm chặt hai bàn tay:


- Thần đâu dám thách thức hoàng thượng. Nỗi đau trong lòng thần là, thần vẫn không sao


quên được hình ảnh hoàng thượng anh minh sáng suốt, đã đem lại công lý cho thần trong cái


ngày thần mắc vào oan án ở Quảng Nam!


Minh Mạng dịu giọng:


- Ta đã nói đến vậy mà khanh còn không hiểu sao? Ta là người cai trị, ta phải giữ vững


nền chuyên chế. Ta khuyến khích sự thật, giữ gìn công lý, ban thưởng cho đạo đức, nhưng sự


thật, công lý hay đạo đức đều phải ở dưới chân ta.


Đăng Hưng vẫn cương quyết.


- Không, tâu hoàng thượng, không một ai có thể ở trên công lý và sự thật. Công lý và sự


thật là Trời. Thiên tử là con Trời, sao con có thể đứng trên cha?


Câu nói của Đăng Hưng khiến vua Minh Mạng ngồi lặng đi.


Một lúc lâu sau, nhà vua nói, rất ôn tồn nhưng đượm vẻ buồn rầu:


- Tốt lắm, Đăng Hưng, ta thành thật nói rằng ta rất nể ngươi. Ngươi không giống những


kẻ chống đối hay bất mãn khác, họ nói ra đủ thứ lý lẽ tốt đẹp nhưng thật ra trong lòng chỉ mưu


toan quyền lợi của mình. Nếu ngươi cũng như họ, thì lưỡi gươm của ta đã lấy đầu ngươi rồi.


204


Nhưng ngươi đúng là người quân tử, lòng rỗng tiết ngay như cây trúc, không thể dùng uy vũ mà


khuất phục.


Đăng Hưng đứng im, ông đang còn bàng hoàng, chính ông cũng không ngờ mình có thể


dõng dạc như thế trước mặt vua.


Nhà vua nói tiếp:


- Ta quý ngươi, nhưng rất tiếc không dùng ngươi được. Vậy từ nay đừng để ta phải thấy


ngươi. Và cũng đừng làm gì để cho ta phải giết ngươi. Thôi, ngươi đi đi.


Đăng Hưng đi giật lùi ba bước, rồi đưa tay thi lễ.


- Vậy là hoàng thượng đã chuẩn y cho hạ thần thôi chức sử quan?


Minh Mạng đã qua phút xúc động, ngài gằn giọng:


- Không đời nào ta chuẩn y điều đó. Nhưng thực ra là từ hôm nay, ta đã không dùng


ngươi nữa.


Nói rồi vua ngồi yên trên ghế, quay mặt đi tỏ ý không muốn thấy Đăng Hưng nữa.


Trung Trực vội lom khom chạy tới, kéo Đăng Hưng ra ngoài.


Có tiếng sấm rền, trời vừa sập mưa.


Đăng Hưng ra khỏi hoàng cung trong cơn giông tầm tã.


Ngoài cổng, lính hầu của ông đang chờ sẵn bên võng. Thấy chủ, chú lính vội chạy qua


màn mưa, đưa lọng đến che cho ông.


- Quan lớn! Quan lớn ướt cả. Cơn mưa to quá, sao ngài không chờ ngớt một chút hãy ra.


Đăng Hưng ngước nhìn trời.


- Mưa ư? Mưa lúc nào ta chẳng hay?


***


Trở về dinh trong bộ triều phục ướt đẫm, Đăng Hưng cảm thấy cả người tê dại.


Nhìn bộ dạng thất thần của chồng, Hạnh Thảo hoảng hốt, giục Đăng Hưng thay áo, lau


người. Thấy trán Đăng Hưng nóng hổi, hai tay lạnh buốt, nàng vội vàng đi giã gừng vắt nước,


pha vào trà nóng bưng vào.


- Quan lớn bị cảm lạnh rồi, mau uống nước gừng cho ấm!


Mải mấy canh giờ sau Đăng Hưng mới dần dần hồi phục. Nghe kể lại mọi chuyện, Hạnh


Thảo thở dài:


- Quan lớn nói thẳng quá, hoàng thượng không bắt tội là đã nương tay nhiều lắm đó!


Hoàng thượng là người cứu mạng quan lớn, Đức ông Lê Văn Duyệt là người tri kỷ. Cả hai đều


hậu tình với gia đình ta, vậy mà quan lớn đã cự tuyệt cả hai. Trong khi những người bên phủ


205


Anh Duệ thì thực sự không có ân tình gì với mình. Thương xót thì rất thương, nhưng hà


tất phải tự hại mình như thế? Xin quan lớn nghĩ đến đứa con trong bụng thiếp mà bảo


toàn thân mạng.


Đăng Hưng thở dài:


- Ta biết. Nhưng ta phải làm nhiệm vụ của một sử thần. Nếu ta có bề gì, nàng hãy


đem con về quê quán ở Gò Công, thay tên đổi họ, ẩn nhẫn nuôi giọt máu của ta thành


người. Ở quê vẫn còn mảnh đất nhỏ của tổ phụ để lại, nàng chịu khó gieo trồng, lấy hoa


màu mà nuôi con.


Hạnh Thảo nghẹn lời:


- Quan lớn lòng sắt dạ vàng, thiếp biết không lay chuyển được. Xin chàng yên


tâm, chuyện mai sau thiếp sẽ đinh ninh theo lời dặn. Phận thiếp đã đành vậy, từ nhỏ đến


lớn thiếp chịu cực khổ quen rồi, không sao. Nhưng còn con gái trong cung, lẽ nào quan


lớn không lo liên lụy đến con sao?


Đăng Hưng vẫn khăng khăng:


- Từ xưa đến nay gái đã gả chồng thì phúc phận là ở nhà chồng. Chuyện của cha,


nó không can dự đến, không ai bắt tội được nó.


Hạnh Thảo chẳng còn gì để nói, chỉ biết cúi đầu, rơi nước mắt.


Đăng Hưng quyết tâm viết ra sự thật. Toàn bộ câu chuyện ở Anh Duệ vương phủ,


tuy chỉ gói gọn trong một chương ngắn ngủi, nhưng viết xong ông cảm thấy rạc cả người.


Chiều hôm ấy tại Quốc sử quán, Đăng Hưng ngồi trước án thư chăm chú đọc lại,


thỉnh thoảng lại húng hắng ho.


Một viên chức trẻ tuổi đứng bên cạnh. Đăng Hưng quay lại bảo:


- Gọi ông biên tu họ Hứa cho ta.


Lát sau, biên tu họ Hứa đến.


- Này ông Hứa, ta vừa xem lại bản thảo chính sử quyển thứ mười một, tập hạ. Tại


sao thiếu mất nhiều đoạn, ông hãy cho ta biết lý do.


- Bẩm, tiểu chức không biết ạ!


Đăng Hưng cau mày:


- Sao lại không biết? Nhiệm vụ của ông là lưu trữ bản thảo, sao chép để đưa lên


mộc bản. Sao có thể nói vô trách nhiệm như vậy?


- Bẩm quan lớn, bởi vì ngài phó tổng tài đã lệnh cho tiểu chức trước khi đưa lên


mộc bản phải chuyển bản thảo sang cho ông ấy xem lại. Sau đó thì nhận lại bản thảo thế


nào, cứ y theo như thế mà cho in khắc.


- Có chuyện như thế sao? Sao bây giờ ông mới nói. Chính sử là tối trọng, đến vua


còn không được xem trước, sao lại làm việc hồ đồ như vậy. Mau đi lấy bản gốc ta viết,


xem thiếu đoạn nào thì bổ sung đoạn ấy vào.


Biên tu họ Hứa ngần ngại:


- Bẩm quan lớn, tiểu chức thấy khó xử quá…


Đăng Hưng tức giận:


- Ông nghe lệnh ta, hay nghe lệnh phó tổng tài?


206


Biên tu họ Hứa gãi đầu, im lặng. Đăng Hưng sốt ruột, vỗ bàn:


- Ông nói đi, ở đây ai có quyền quyết định?


Biên tu họ Hứa ngập ngừng:


- Tiểu chức trong lòng luôn yêu kính quan lớn. Nhưng… Nhưng… Xin quan lớn hiểu cho


tiểu chức. Câu hỏi ấy, tiểu chức không trả lời được!


Thấy thái độ của Hứa biên tu, Đăng Hưng giật mình, nhận ra sự khác thường:


- Ngươi nói vậy nghĩa là sao? - Chợt hiểu ra, ông chua chát - Thì ra thế! Vậy là… Ta dù


muốn đem cái chết đổi lấy sự ngay thật cũng không thể được.Vậy là… Những dòng tâm huyết


của ta đã bị vứt bỏ đi rồi, mất rồi…


Một cơn ho làm ông nghẹn lại.


Đúng lúc ấy, Phó tổng tài họ Đỗ xuất hiện ở ngưỡng cửa. Trên mặt ông ta thoáng một nụ


cười mỉa mai.


- Chữ nào còn thì không mất, chữ nào không còn là đã mất. Nhưng người thì đôi khi còn


đó mà như đã mất rồi.


Đăng Hưng khựng lại:.


- Ngươi… Ngươi định nói gì?


Phó tổng tài họ Đỗ bảo biên tu họ Hứa lui ra, rồi nói với Đăng Hưng:


- Quan lớn, ngài còn ngồi đây nhưng đã mất thực quyền rồi. Từ nay mọi việc sẽ dưới sự


điều hành của tại hạ.


Đăng Hưng uất giận, đau đớn:


- Ai giao cho ngươi cái quyền ấy? Ai? Giấy tờ nào chứng nhận?


Phó tổng tài chỉ một ngón tay lên trời.


- Ngài tuy hỏi vậy, nhưng ngài cũng biết thừa là ai rồi!


Đăng Hưng đưa tay chặn lên miệng. Ông vừa thổ ra một bụm huyết.


Chương 35


Trẻ mồ côi trong cung cấm


Trong một góc vườn thượng uyển, những khóm tường vi đang trổ bông trắng, tỏa hương


thơm ngát một vùng.


Hằng và Miên Tông vừa đi dự yến về, dắt tay nhau đi qua những khóm hoa. Thấy mấy


cánh tường vi vướng trên tóc vợ, Miên Tông âu yếm đưa tay gỡ giúp.


Hằngvừa bẽn lẽn nhìn quanh, vừa giữ lấy bàn tay Miên Tông đang nhặt hoa trên tóc


mình.


- Hoàng tử thương thiếp quá! Chỗ này trống trải, coi chừng người ta nhìn thấy…


Miên Tông vỗ nhẹ vào má Hằng đang ửng hồng:


- Mình nay đã là vợ chồng, còn sợ gì nữa? Hôm nay lần đầu nàng được ăn yến với thái


hậu, ta cũng lo lắm, không ngờ thái hậu lại tỏ ra rất yêu quý nàng, may thiệt!


207


- Dạ, Hằng cũng mừng, nghe hoàng tử thường kêu bà nội khó tính, nên suốt trong bữa


tiệc Hằng run quá.


- Nàng phải biết, không phải lúc nào bà cũng vui vẻ dễ chịu như vậy đâu! Nghe nói hồi


bà Chính mới nhập cung, nhiều lần bị bà bắt bẻ đến nỗi khóc sưng cả mắt.


Mải nghe Miên Tông nói, Hằng bước hụt trên bậc thềm dẫn xuống hồ sen. Loạng choạng,


nàng ngã người vào chồng. Miên Tông nghịch ngợm choàng tay ôm lấy, bế bổng nàng lên. Hằng


bật cười, hai bàn chân nhỏ bé quậy tưng trong khoảng không, để lộ đôi hài nhung đen muốt xinh


xinh.


Qua khỏi cầu vồng trên hồ sen, lại một con đường lát gạch uốn quanh giữa hai hàng hải


đường đơm hoa rực rỡ. Hằng trầm trồ:


- Nhờ có hoàng tử dẫn đi, thiếp mới biết hoàng cung rộng đến như vậy!


Miên Tông ôm chặt vai Hằng:


- Nàng mới xem được một góc mà thôi! Còn nhiều chỗ lắm! À, Giám Lê thường rủ ta đến


chỗ này bắt dế, đứng đó nhìn được ra bên ngoài, thích lắm.


Miên Tông đưa Hằng đi khá xa, đến tận bên bờ thành. Ở đó có một vòm cống hoang


vắng, với dòng nước nhỏ chảy từ trong hoàng cung ra bên ngoài.


Cỏ mọc um tùm dưới chân cống.


Miên Tông bảo:


- Đây là cống Tây Thành Thủy Quan, bên kia cống là dân gian rồi đó.


Hằng nhặt một chiếc lá, xếp thành hình chiếc thuyền nhỏ. Miên Tông thả thuyền xuống


dòng nước.


Chiếc thuyền trôi theo dòng, mất hút bên ngoài cống.


Đang chơi đùa, chợt quanh quanh đâu đó có tiếng trẻ con khóc. Nhìn lui, Hằng thấy một


dãy nhà cũ kỹ ở ven lối đi. Hằng chợt nhớ Giám Lê đã có lần dẫn mình đi ngang qua đây.


- Hoàng tử ơi, Hằng muốn đến xem…


Miên Tông ngần ngại:


- Đó là lãnh cung, thái hậu thường dặn ta không được đến gần.


- Hoàng tử ơi, lãnh cung là cung của ai?


Thấy Hằng tò mò, Miên Tông chiều vợ, cầm tay dẫn nàng đến gần:


- Mình xem một chút thôi nghe, có người bắt gặp là phiền lắm đó.


Một hành lang dài thâm u hiện ra. Hai bên, vách tường loang lổ, từng mảng vôi bong


tróc.


Chợt xuất hiện một cô bé chừng mười hai, mười ba tuổi, quần áo cũ kỹ, đang đứng trên


hành lang.


208


Có tiếng gọi khàn khàn. Bé gái dừng lại, quay mặt về phía tiếng gọi.


Trên ngưỡng cửa một căn phòng, một bà già gầy ốm hiện ra, tay dắt một đứa bé trai


chừng bảy tuổi, mũi dãi thò lò nhem nhuốc hai bên má.


Trước cửa gian phòng là chiếc bàn cũ kỹ, trên bày dĩa bánh nếp và bát nhang đơn sơ đang


lên khói. Đứa bé trai khóc, hai chân dẫm dẫm trên mặt đất, dáng chừng nóng ruột muốn lấy bánh


ăn.


Bà già đưa cánh tay gầy guộc giữ đứa bé lại.


- Để tàn cây nhang cúng mẹ đã, rồi già cho ăn. - Bà quay qua gọi cô bé gầy guộc: - Mau


vào lạy mẹ đi con.


Miên Tông và Hằng tiến dần đến gần. Hằng ngạc nhiên: Lẽ nào trong một hoàng cung


tráng lệ lại có cái cảnh nhếch nhác như thế này ư?


Dĩa bánh đã được hạ xuống, đặt trên chiếc chiếu rách. Đứa bé trai nhồm nhoàm ngấu


nghiến, dáng chừng thiếu ăn đã lâu. Bé gái ngồi bên cạnh, tay bóc bánh, nhai nhóp nhép.


Hằng và Miên Tông bước hẳn vào nhà. Bà già, chính là vú Sửu, nhũ mẫu của Tam phi


Ngọc Bình ngày trước. Dường như lâu lắm rồi mới có người thăm hỏi, vú kể lể:


- Cô đây là hoàng nữ Ngọc Ngôn, cậu đây là hoàng nam Nguyễn Phúc Quân, con của


lệnh bà Tam phi ngày trước. Khi Thế Tổ Cao hoàng đế còn sống thì người ta còn nghĩ chút tình.


Từ khi Cao hoàng đế băng hà, thật chẳng còn ai thương tưởng. Già chỉ e… - Vú Sửu ứa nước


mắt, nghẹn lời - nay mai già nhắm mắt thì chẳng còn ai lo cho…


Miên Tông trong lòng thương hại, lẩm bẩm:


- Cũng là giọt máu của ông nội ta, mà đến nỗi này ư?


Thấy Phúc Quân mái đầu bù xù, Hằng đưa tay định vuốt tóc lại cho cậu bé. Không ngờ


Ngọc Ngôn trừng mắt lên, chạy lại kéo mạnh tay Hằng ra, rồi bất ngờ cắn thật mạnh. Hằng


hoảng hốt, chỉ kịp “Á” lên một tiếng đau đớn.


Vú Sửu vội chạy đến ôm Ngọc Ngôn, cố can ra. Thấy Hằng bị cắn đau, Miên Tông hốt


hoảng cầm tay Hằng lôi đi.


Hằng vừa chạy theo chồng, vừa thở hào hển:


- Sao hoàng tử gấp gáp vậy? Hằng còn muốn nán thêm chút nữa.


Miên Tông mắng:


- Còn muốn nán lại nữa à, nó cắn cho sưng cả tay kia kìa. Mau mau về, ta gọi thái y bó


thuốc cho nàng ngay.


- Thôi thôi, mình đã lén thái hậu đến đây, hoàng tử mà gọi thái y thì mọi chuyện bung bét


hết.


- Thì ít nhất cũng để Giám Lê đi kiếm thuốc. Cái con nhỏ đó ở dơ quá, coi chừng răng nó


có độc không?


209


Hằng lườm nhẹ chồng:


- Con nhỏ nào, cô ruột của hoàng tử đó. Đừng nói vậy tội nghiệp.


Hằng nhớ lại trước đây từng nghe Hạnh Thảo kể về những ngày hầu hạ Tam phi. Đúng


rồi, công chúa Ngọc Ngôn vốn đã bị ngớ ngẩn từ lúc nhỏ. Nay sống trong cảnh cơ cực thế này,


thảo nào càng thêm khùng nặng. Nghĩ thế nàng không khỏi xót trong lòng.


Đến bữa cơm chiều, Hằng bảo thị nữ lấy thêm thật nhiều bánh mứt và giò chả, cho vào


tay nải để sẵn. Ngày mai lại, sau buổi vấn an thái hậu, Hằng dự buổi đọc sách với Hiền tần, Thục


tần và các phi tử trong cung. Buổi đọc sách vừa xong, Hằng lật đật về lấy tay nải, xăm xăm đi về


phía Tây Thành Thủy Quan.


Đang đi nửa đường chợt Hằng nghe tiếng gọi:


- Phủ thiếp, cô đi đâu đấy? Chờ tôi với!


Đang muốn đi nhanh nhanh kẻo sợ có ai nhìn thấy, nên Hằng giật bắn cả người. Cô quay


lui, thở phào nhẹ nhõm: Tưởng ai, té ra là Thục tần Nguyễn Thị Bảo đang cùng thị nữ dạo chơi.


Thục tần tuy vai vế là bề trên, nhưng thật ra chỉ hơn Hằng mấy tuổi. Tính Thục tần thẳng


thắn lại có học thức, không giống các phi tử khác nên khó tìm bạn tâm giao trong cung. Từ khi


có Hằng, Thục tần hợp ý nên vui lắm, thấy Hằng đâu cũng đến gần trò chuyện.


Hằng cũng quý Thục tần, đi đâu cũng ríu rít cùng nhau. Nhưng hôm nay thì khác, Hằng


lúng ta lúng túng, cứ mong cho Thục tần mau quay gót về Tây viện cho xong.


Khổ nỗi Thục tần vui chuyện, cứ đi theo Hằng mãi. Thôi, đã đến thế này, thì sao lại


không thành thực với nhau cho rồi. Thục tần cũng là người nhân đức, sẽ không làm hại mình


đâu. Nghĩ thế, Hằng hạ giọng nói khẽ:


- Xin Thục tần cho thị nữ về trước. Hằng muốn kể riêng với Thục tần một việc.


Hai người dắt nhau đi, không biết rằng nhất cử nhất động của họ đều được tâu báo với


thái hậu.


Nghe Hạnh Nhi thầm thì, thái hậu cau mày, mặt sa xuống.


- Thật có chuyện vậy sao? Thật to gan, Miên Tông sao dám làm trái ý ta. Ta đã huấn thị


nhiều lần, không được lai vãng tới đó.


Hạnh Nhi thẽ thọt:


- Dạ, con chắc là do bà Hằng xúi giục. Hoàng tử chiều vợ quá nên mới cãi lời như vậy.


- Hừ. Dạy con từ thưở còn thơ, dạy vợ từ thuở bơ vơ mới về. Để rồi ta sẽ liệu cách uốn


nắn. Làm dâu nhà đế vương, há phải muốn gì làm nấy như nhà bách tính sao? Cứ tung tăng nhởn


nhơ đánh cặp với nhau chỗ kia chỗ nọ, còn cái thể thống gì nữa.


- Dạ, bà Hằng cũng ở trong cung đã lâu, vậy mà sao ăn ở không có khuôn phép, coi bộ


như cái nết con nhà thứ dân.


Thái hậu hứ một tiếng:


210


- Ái chà, vào cung lâu mà ở với con Ngô Thị Chính thì còn học hỏi được cái gì?


***


Ba hôm sau, thái giám Trung Trực đang thu dọn đồ dùng của nhà vua trong điện Cần


Chánh thì thái hậu đột ngột xuất hiện.


Trung Trực ngạc nhiên há hốc miệng, vội vàng quỳ xuống. Thái hậu ngang nhiên tiến


vào, ngồi lên chiếc ghế của vua.


- Đứng dậy đi. Ngạc nhiên cái gì? Ta đến chỗ này không được sao? Khi còn tiên đế, ta


còn đến cả Thái Hòa đại điện nữa kia.


- Dạ… Dạ đúng vậy.


- Trung Trực, những việc ta giao cho ngươi, ngươi lo đến đâu rồi?


Trung Trực lo âu:


- Tâu thái hậu, lệnh bà sai bảo gì con cũng đều nhớ. Chỉ mong lệnh bà bảo toàn giúp con.


Nếu hoàng thượng biết con bép xép với bà, e người trừng trị chẳng nương tay.


Thái hậu cười ngạo mạn:


- Ta biết! Ngươi sợ hoàng thượng là phải. Nhưng nếu trái ý ta thì cũng chẳng được yên


thân bên hoàng thượng của ngươi đâu!


Trung Trực cúi đầu:


- Dạ, con luôn mong muốn được phụng sự cả hoàng thượng lẫn thái hậu.


- Tốt. Bây giờ ta hỏi từng chuyện một. Việc hoàng thượng hạ chiếu kiểm tra lãnh cung,


đầu đuôi tại đứa nào? Hoàng thượng lo việc quan dân cả nước, canh ba chưa ngủ, làm sao có thời


giờ lo đến chuyện vặt trong cung?


Trung Trực trù trừ:


- Tâu thái hậu, việc này theo con được biết là do phủ thiếp họ Phạm, tức là chị Hằng ở


bên cung của bà đó! Do chị Hằng tò mò vào đó chơi rồi kết thân với mụ vú Sửu, nên chuyện mới


đến tai hoàng thượng.


Thái hậu mím môi:


- Rõ hèn mạt, thân là con công thần, lại là dâu hoàng tộc, mà đi giao du với một mụ vú


xuất thân ngụy triều. Nhưng mà, Trung Trực này, ngươi vẫn chưa thực lòng với ta. Một mình


con Hằng làm sao mà nói đến tai hoàng thượng. Ai a tòng với nó?


Trung Trực lúng túng:


- Xin thái hậu hiểu cho thần. Thần biết đến đâu chỉ xin nói đến đấy.


Thái hậu cười khẩy.


211


- Sợ dứt dây động đến rừng chứ gì? Thôi được, ngươi không dám nói thì để ta nói. Chính


con Bảo đã mách với hoàng thượng, chứ còn ai? Ôi dà! Ngươi sợ con Bảo hơn sợ ta sao?


Trung Trực chắp tay đến tận trán:


- Tâu thái hậu, Thục tần vào cung mới hai năm mà chức phẩm bằng người khác mười


mấy năm. Ai cũng biết Thục tần là người của thái hậu, được thái hậu cất nhắc. Tiểu thần làm sao


dám không kiêng dè.


Thái hậu cười nhạt.


- Phải rồi, người của ta! Người của ta! Ta đã cất nhắc mà lại phản ta, thì không có yên với


ta đâu! Trung Trực, ngươi liệu hồn mà nói cho thực: Thục tần bép xép ra sao?


Trung Trực khổ sở:


- Dạ, thái hậu đã hỏi, thần đâu dám không nói. Hôm ấy hoàng thượng dạo vườn tiếp quan


Tổng tài Phạm Đăng Hưng. Khi về, ngài có vẻ không vui nên muốn ghé sang Tây viện khuây


khỏa một lát…


Câu chuyện chiều hôm ấy, Trung Trực không dám giấu, nên thái hậu đã biết hết ngọn


ngành:


… Vua Minh Mạng bước vào Tây viện. Cung nữ thấy vua, định đi báo Thục tần nhưng


vua xua tay, đi thẳng vào.


Trung Trực đứng lại bên cửa.


Thục tần Nguyễn Thị Bảo đang ngồi viết trước cửa sổ. Bên ngoài trời đang mưa, một


vòm hoa leo rủ xuống hiên, khiến hình ảnh nàng nhìn từ sau lưng càng thêm xinh đẹp.


Minh Mạng đứng nhìn một lúc. Vẻ mặt ngài dịu lại, thoáng một nụ cười.


- Ái khanh!


Thục tần giật mình quay lại, vội vàng quỳ xuống.


- Hoàng thượng!


Minh Mạng đỡ Thục tần dậy, âu yếm:


- Người đẹp của trẫm đang làm gì đó? Ủa mà sao má khanh có ngấn nước mắt vậy?


Trong cung có ai ức hiếp nàng chăng? Mau nói cho trẫm nghe!


Thục tần mắt đỏ lên, thỏ thẻ:


- Dạ đâu có ạ! Chỉ vì thấy câu chuyện thương tâm, trong lòng xót xa nên mượn giấy bút


tả mấy câu thơ. Viết mấy câu, chợt xúc động nên không cầm được nước mắt.


Minh Mạng cười:


- Đâu, để xem thi sĩ của trẫm viết gì đây…


Ngài cầm tờ giấy lên, nhẩm đọc.


“Cùng là lá ngọc cành vàng, Mà sao thân thế điêu tàn xác xơ…”


212


Nhà vua chợt nổi giận đùng đùng, ném mạnh tờ giấy, xô Thục tần ngã lăn trên nền gạch.


- Trẫm bảo cho mà biết, nàng là phi tử, hãy yên phận phi tử. Đừng có học cái thói của


bọn văn nhân, chuyện gì cũng chõ miệng vào. Cái lũ hèn nhát, ba hoa thì giỏi, nhưng vừa thấy


lưỡi gươm đã run như cầy sấy, lạy lục xin tha. Trẫm còn lạ gì!


Thục tần sợ hãi.


- Tâu hoàng thượng, thiếp ngu muội chưa biết mình mắc tội gì, xin hoàng thượng bớt


giận.


- Nàng muốn đàm luận việc Mỹ Đường phải không? Coi chừng đó, lính Dực Chấn đã


nhốt cả chục thằng hủ nho dám bóng gió thơ thẩn đến việc riêng của hoàng tộc. Nàng có muốn


theo chân chúng không?


Thục tần òa khóc.


- Oan cho thiếp hoàng thượng ôi! Việc Mỹ Đường, thiếp ở trong thâm cung chỉ nghe qua


loa, có biết gì đâu mà dám nói.


- Vậy thơ này nói đến việc gì? Nàng nghe đây: Ngoại trừ cái bọn ở Anh Duệ phủ, bất


trung, thất đức, phải nghiêm trị, còn thì các anh chị em của trẫm đều được cùng trẫm chia phú


quý. Trẫm đây phải lo việc nước nặng nề, trong khi anh em trẫm đều an nhàn thong thả, ăn no


mặc ấm, thời giờ của họ toàn là lo chọi trâu, đá gà, xem ra trẫm không sung sướng bằng họ đâu!


Thục tần lóp ngóp ngồi dậy, lau nước mắt:


- Dạ, thần thiếp biết rõ hoàng thượng hậu đãi anh em trong hoàng thất. Chỉ vì hôm kia


dạo chơi đến lãnh cung, thấy hai giọt máu của tiên đế bị giam lỏng trong đó, cơm không đủ ăn,


thuốc không có uống, nên thiếp xót…


Minh Mạng quắc mắt.


- Làm sao có chuyện ấy được? Nàng coi chừng, nếu lộng ngôn bịa đặt là mang tội chết


đó!


- Tâu hoàng thượng, thần thiếp xưa nay có sao nói vậy, không dám thêm thắt. Nếu sai,


thiếp xin chịu chém đầu.


Nghe giọng Thục tần nói quả quyết, Minh Mạng gật đầu, lập tức gọi:


- Trung Trực!


- Tâu, có thần đây.


- Nhà ngươi mau đến lãnh cung xem xét. Việc thế nào, mau về báo cho trẫm biết.


Trung Trực nhận lệnh, vội vã đi ngay. Minh Mạng gọi giật lại:


- Trung Trực! Nhà ngươi phải đích thân đến xem, không được thông qua Tổng quản thái


giám.


- Tâu, thần không dám sai lời ạ.


Minh Mạng quay về phía Thục tần. Nét mặt vua dịu lại.


213


- Ái khanh, trẫm đã trách oan cho nàng rồi. Nàng lại đây, ngồi đây…


Thục tần quỳ xuống ôm đầu gối vua, sụt sịt khóc.


Minh Mạng vuốt tóc Thục tần.


- Khanh đừng sợ, trẫm rất nghiêm khắc, nhưng cũng rất nhân từ.


… Thái hậu nghe Trung Trực kể, mặt càng lúc càng tím lại. Bà gượng giữ một nụ


cười đầy vẻ chế nhạo.


- Hay ho thật, lâm ly thật. Sau đó rồi sao?


Trung Trực gãi đầu gãi tai, nhăn nhó.


- Dạ, thế rồi… hoàng thượng truyền chỉ trực tiếp cho đội Thượng cung thu dọn


dãy phòng bên mé trái Tây viện. Mụ vú đã nhận lệnh ngày mai đưa hoàng nữ và hoàng


nam của Tam phi dời về đó. Hoàng thượng cũng đã truyền chỉ cho Tôn Nhân phủ, định


lại lương bổng cho họ giống như các hoàng tử công chúa khác.


Thái hậu cười gằn.


- Cho chúng ở trong Tây viện, vậy là giao cho con Bảo nuôi chúng nó chứ gì? Cái


con này dám dỗ dành hoàng thượng, qua mặt ta, làm loạn cả hậu cung rồi đây!


Thái hậu nhăn trán ngẫm nghĩ một thoáng, rồi đứng dậy:


- Được rồi, ta sẽ ban thưởng cho ngươi.


Trung Trực khom người:


- Tiểu thần có gan to bằng trời cũng không dám nhận thưởng, chỉ xin thái hậu bảo


toàn cho thần.


Thái hậu cười nhạt, bước ra. Theo chương trình đã định, bà lên kiệu đến Duyệt


Thị đường, duyệt lại mấy mục mới của Đội múa hoàng cung.


Đàn sáo, sênh phách vang lừng, trong lúc thái hậu ngồi trên khán đài, đôi mắt


trừng trừng nhìn ra phía trước. Trên sân khấu, tiết mục “Lân mẫu xuất lân nhi” đang bắt


đầu. Lân cha và lân mẹ đang vờn nhau trong tiếng trống chiêng rộn rã. Những tư thế và


động tác của hai con lân cho thấy chúng đang giao phối với nhau.


Hình ảnh ấy đập vào mắt thái hậu. Những ý nghĩ cay nghiệt lại càng lồng lộn


trong tâm trí bà.


“Ngọc Bình, ngươi trẻ, ngươi đẹp, ngươi xuất thân cao sang, ngươi hất cẳng ta,


ngươi mê hoặc được tiên đế. Hừm, mỗi tháng hai mươi lăm đêm ngươi giữ rịt ngài ở tam


cung, lăn lóc ái ân, cao tay lắm. Đồ đĩ! Giờ thì hết rồi, ta đang ngồi trên tột đỉnh quyền uy


còn ngươi đã thành tro bụi. Ta sẽ xóa hết dấu vết của ngươi, để trong hoàng cung này


không còn một thứ gì nhắc ta phải nhớ đến ngươi nữa”.


Ngày mai hai đứa trẻ mới dời về Tây viện. Hôm nay chúng vẫn còn ở lãnh cung.


Ở lãnh cung, nghĩa là không được ai bảo vệ cả. Dưới tay Tổng quản Trần có sẵn một đội


võ sĩ chuyên được sai phái trong những việc hết sức bí mật: hăm dọa, bắt cóc, thậm chí


thủ tiêu, ám sát. Thái hậu rất thận trọng, ít khi dùng đến đội áo đen này. Tuy vậy, bà vẫn


214


phải công nhận rằng: những khi không còn cách nào khác, thì đấy chính là cách giải quyết rốt ráo


nhất.


- Hạnh Nhi, lão Trần đã đến chưa? - Thái hậu sốt ruột, nghĩ thầm: “Chỉ còn mấy canh giờ


nữa thôi, ngày mai chúng dời đến Tây viện rồi thì không dễ gì ra tay được nữa.”


- Tâu, đã đến rồi ạ! Đang chờ ở bên ngoài.


- Rõ là con ngốc, sao không báo ngay cho ta? Mau ra truyền lệnh ta, cho hắn vào ngay.


Hạnh Nhi thoăn thoắt chạy đi.


Vừa lúc đó, trên sân khấu, lân mẹ đang chuyển bụng sinh con, đau đớn quằn quại.


Lân con rơi ra, nằm yếu ớt trên mặt đất rồi run run gượng dậy, nép bên lân mẹ.


Các mệnh phụ đang ngồi sau lưng thái hậu trầm trồ “Ố” “Á”. Thái hậu sực tỉnh, nhớ lại


vai trò của mình. Lấy lại vẻ uy nghi, bà lên tiếng:


- Hay lắm. Các ngươi có biết ý nghĩa của màn diễn này không? Hằng, ta nghe nói ngươi


thông tuệ, ngươi xem mà có hiểu không?


Hằng cung kính:


- Dạ, tâu thái hậu, cháu nhớ cha cháu có nói: Ý nghĩa của điệu vũ này là ngợi ca âm


dương hòa hợp, vạn vật sinh sôi, chính là nói về đức dưỡng dục của tạo hóa ạ!


Thái hậu gật đầu:


- Nghe cũng được đấy nhưng mà chưa hợp ý ta! Thục tần, ngươi có ý gì khác không?


Thục tần thấy thái hậu miệng hỏi ôn tồn mà mắt thì nhìn mình nẩy lửa, trong lòng không


khỏi lo sợ, nên chỉ đáp dè dặt:


- Tâu thái hậu, theo ngu ý của thần thì Phạm tổng tài nói chí lý lắm rồi, thần không dám


có ý gì khác ạ.


Thái hậu nhếch miệng cười:


- Ta đã bảo nói thế là đúng nhưng mà chưa hay. Theo ta thì phải nói là điệu vũ ca ngợi


thời thái bình thịnh trị, minh chúa ra đời, mẹ thánh sinh con vua, vậy mới đúng.


Các mệnh phụ xúm nhau ca ngợi:


- Thái hậu anh minh, kiến giải của người thật không ai bì kịp!


Thái hậu hài lòng cười ngạo nghễ, nhắc lại:


- Mẹ thánh sinh con vua…


Bỗng thái hậu chợt đổi sắc mặt, bốn chữ ấy như đập vào tâm trí bà.


Bà sực nhớ lại một điều quan trọng: sự cứng rắn của Minh Mạng hoàng đế.


“Sau vụ Trương Công Kế, hoàng thượng rõ là đề phòng ta, cho nên vụ này mới lẳng lặng


hành động mà chẳng hỏi ta nửa lời. Đã thế, ta lại đi dại dột đào sâu thêm sự nghi hoặc của hoàng


thượng sao? Dù ra tay kín nhẹm đến đâu thì hoàng thượng cũng biết, khi đó uy tín của ta sẽ tổn


thương không phải nhỏ”.


Tổng quản Trần bươn bả đi vào. Thấy chiêng trống lại vang lên, không ai nghe rõ tiếng, y


đến bên thái hậu ghé vào tai bà: “Xin thái hậu truyền lệnh. Tất cả đã sẵn sàng.” Thấy thái hậu gọi


quá gấp, Tổng quản Trần biết chắc chắn có việc hệ trọng nên đã sắp xếp cho đội áo đen sẵn sàng


động thủ.


Nhưng thái hậu chỉ khẽ xua tay, mặt lạnh như băng:


215


- Không cần ngươi lo nữa. Việc này không gấp được, từ từ sẽ tính sau.


Chương 36


Phận làm dâu


Biệt thất của Miên Tông nằm trong cung Từ Thọ, cách chỗ ở của thái hậu một hành lang


khá dài. Buổi sáng hôm ấy trời trong, nắng ấm, đôi vợ chồng trẻ vừa thức dậy, đang còn quấn


quýt bên nhau. Miên Tông khoác áo bào, chàng đứng yên cho Hằng chỉnh sửa cúc áo.


Hằng cười khúc khích:


- Chàng đường đường là hoàng trưởng tử, phong độ tài trí cái gì cũng hơn người, mà sao


cứ như là trẻ con thế này. Bao nhiêu khuy áo cài tréo hết cả, để Hằng cài lại cho.


Miên Tông ưỡn ngực:


- Ha ha, ta thích ra ngoài là hoàng trưởng tử, về với nàng thì lại là trẻ con thế này thôi.


Hằng véo một cái vào tai Miên Tông. Miên Tông kêu lên rồi chạy đuổi Hằng quanh


phòng. Hằng vừa cười vừa chạy tránh, bất chợt bỗng khuỵu gối, thoáng nhăn mặt.


- Hằng sao thế? - Miên Tông lo lắng.


Hằng đưa tay đặt lên bụng:


- Hôm qua thiếp đến Tây viện, chơi với Ngọc Ngôn và Phúc Quân…


- Chết chưa, con nhỏ lại cắn nàng như bữa trước chớ gì?


- Không có, Ngọc Ngôn bữa này quen thiếp rồi, thích chơi với thiếp lắm mà.


Cũng vì chơi đùa vui quá, mà cô bé thì vẫn khờ khạo, nên để ngang ống chân trước mặt


Hằng lúc nàng đang chạy theo quả tú cầu. Hằng bất ngờ vấp phải, té chúi nhủi. May không sao,


nhưng sáng nay lâu lâu lại thấy dưới bụng đau thốn lên.


Miên Tông nghe kể, băn khoăn:


- Có nghiêm trọng lắm không? Khổ, hôm nay ta lại phải cùng với Miên Hoằng tháp tùng


phụ hoàng đi duyệt thủy binh ở tận Trấn Hải đài, đến rằm mới về. Ra đi mà thấy nàng đau ốm


thế này, lòng ta thật không an.


Hằng trấn an chồng:


- Thiếp chỉ đau âm ỉ một chút, cũng là chuyện bình thường, có sao đâu. Hoàng tử đừng


lo, cứ đi làm phận sự đi.


- Nàng phải hứa với ta, nếu có gì không ổn phải báo ngay cho Thái y viện đó.


216


- Dạ, chàng đừng lo, thiếp biết mà. Thiếp phải lo cho thân thiếp vì từ nay cái thân này là


của chàng rồi. Hoàng tử, xin chàng giúp thiếp một chuyện này nha…


- Chuyện gì ta cũng sẵn sàng, nàng nói đi.


Mặt Hằng lộ vẻ buồn:


- Hoàng tử đi về cửa biển Thuận An đến Trấn Hải đài, tất phải đi về phía đông kinh


thành, ngang qua nhà thiếp. Xin hoàng tử nhìn vào, xem nhà thiếp giờ ra sao, cây cỏ hoa lá có


còn tươi tốt không. Từ lúc vào cung chưa hề được về thăm cha già, đến ngày rằm, mồng một


không được thắp cây nhang cho mẹ, lòng thiếp thương nhớ lắm.


Miên Tông khẽ ôm Hằng, vỗ về:


- Được rồi, ta sẽ làm theo ý nàng.


Hằng chầm chậm đi ra hiên, tiễn chân chồng lên ngựa.


Đúng lúc đó một cung nữ đi đến:


- Thưa chị, thái hậu truyền gọi chị.


Hằng lật đật sửa soạn áo khăn, lập tức đến hầu.


Thái hậu vừa mới dùng điểm tâm, đang ngồi trên sập cẩm hương chạm phụng. Để cho


Hằng quỳ dưới thềm thi lễ xong, bà thong thả ban lời:


- Hằng, ngươi là cháu dâu đầu tiên của ta, vì vậy nhất cử nhất động của ngươi ta sẽ uốn


nắn thật kỹ càng, còn làm khuôn mẫu cho những người đến sau. Lâu nay ta bận rộn việc trong


cung, chưa rảnh dạy dỗ ngươi được. Nay sợ để lâu ngươi quen thói buông tuồng, nên ta phải cho


gọi để ban lời giáo huấn.


Hằng cúi đầu:


- Tâu thái hậu, cháu luôn tâm niệm phải ăn ở sao cho trọn đạo hiếu với thái hậu và hoàng


thượng.


Thái hậu bắt bẻ:


- Đó, ngươi vừa mở miệng, ta đã phải uốn nắn ngay. Ngươi là con dâu vua chứ không


phải con dâu nhà bách tính, vậy thì trước hết ngươi phải nói là giữ đạo trung, chứ sao lại chỉ nói


là giữ đạo hiếu. Nói vậy là “sái” lắm đó!


Hằng cố nén cơn đau:


- Dạ. Cháu nói sai, xin thái hậu tha lỗi. Cháu xin hết lòng trung hiếu phụng sự thái hậu và


hoàng thượng.


Thái hậu gật đầu:


- Tốt. Ta sẽ dạy bảo ngươi ba điều, ngươi khá tuân theo.


217


Hằng ngẩng lên nghe cho rõ, nhưng gặp phải ánh nhìn xoáy buốt đầy vẻ uy hiếp của thái


hậu. Nàng bất giác sợ hãi cúi đầu.


Giọng thái hậu từ trên cao buông xuống:


- Một là, đàn bà ở nội cung thì đi lại phải có khuôn phép, hoàng cung tuy rộng lớn, nhưng


không phải là mặc tình muốn đi đâu thì đi. Từ nay mỗi ngày muốn đi đâu, làm gì phải trình báo


với nữ quan ghi vào sổ sách hẳn hoi. Đặc biệt, lãnh cung là nơi không ai được phép đến, nếu một


lần nữa ta nghe nói ngươi lảng vảng đến đó thì chính ngươi sẽ bị bắt nhốt vào lãnh cung đó.


Hằng giật mình, ấp úng:


- Dạ… Thái hậu thật tinh tường, nắm hết được mọi việc.


Thái hậu cười khẩy, nói tiếp:


- Hai là, tình vợ chồng trong hoàng thất cũng phải theo đúng lễ, không phải tùy tiện như


vợ chồng dân đen. Cha ngươi trước đây là Thượng thư bộ Lễ, sao không dạy bảo ngươi? Ta nhắc


ngươi nghe tích truyện “Cử án tề mi”, ngày xưa có nàng Mạnh Quang khi lấy chồng rồi rất tôn


kính chồng, mỗi bữa ăn đều hai tay bưng mâm đến ngang lông mày mà dâng lên. Nay ngươi làm


vợ hỗn hào, mỗi lần ra ngoài cùng với hoàng trưởng tử, quàng vai níu áo, làm như trẻ nít, khiến


trong cung bọn nô tỳ thái giám chỉ trỏ cười cợt, chẳng còn thể thống gì. Có phải thế không?


Hằng bối rối:


- Dạ tâu thái hậu… Cháu thật lòng không dám hỗn hào, chỉ vì vô tư quên giữ ý.


Thái hậu hứ một tiếng:


- Vậy thì từ nay phải giữ ý tứ, không thì đừng trách ta quở phạt. Còn điều thứ ba nữa,


ngươi nghe đây: Người xưa nói: Nhàn cư vi bất thiện, là đúng lắm. Nhà ngươi nay mới vào cung,


con cái chưa có, ăn mặc đã có thị nữ hầu hạ, vậy thời giờ nhàn rỗi rất nhiều, rất là không tốt. Vậy


từ nay, ngày ngày sáng sớm phải sang đây, theo ta đi thị sát hoàng cung, có gì ta còn sai bảo. Rõ


chưa?


Hằng lí nhí:


- Dạ… cháu xin… cháu xin tuân lệnh thái hậu.


Nói là làm, thái hậu ngồi kiệu cho nữ binh khiêng đi kiểm tra các cung thất. Hằng đi bộ


theo sau. Hạnh Nhi đi theo sau Hằng.


Hằng thỉnh thoảng lại nhăn mặt vì đau, nhưng cố nén.


Ngang qua viện Nghênh Hương, thái hậu truyền dừng kiệu. Một thái giám chạy ra:


- Tâu thái hậu, đoàn cung nữ mới tuyển đã sẵn sàng ra mắt, rước thái hậu xem qua.


- Việc ta giao, nhà ngươi lo liệu đến đâu rồi?


218


- Tâu, thần đã xem xét kỹ, chọn trong một trăm người, được năm người trội bật nhất ạ!


Thái hậu gật đầu:


- Cho gọi cả năm đứa lên đây.


Năm cung nữ mới tuyển nối nhau tiến vào, mỗi người một sắc áo. Tất cả dàn hàng ngang


trước mặt thái hậu, quỳ lạy.


- Thái hậu thiên tuế!


Thái hậu truyền cho rất cả đứng dậy, rồi ngắm tỉ mỉ từng người từ đầu đến chân. Một lúc


sau, bà khẽ ra dấu, tức thì thái giám vỗ tay làm hiệu. Năm cung nữ mới tuyển liền quay lưng lại,


đi uyển chuyển cho thái hậu nhìn thấy dáng đi và hình ảnh phía sau lưng của mình.


Thái hậu quay qua nói với Hằng:


- Dáng đi quan trọng lắm. Người đàn bà mà vừa đi vừa lắc mông, ấy là tướng đi của loài


rắn, không phải người đoan chính. Ta dạy ngươi, sau này làm mẹ chồng phải biết để khỏi đưa


dâu dữ vào nhà.


Thái giám hô:


- Thử tiếng!


Năm cung nữ quay lại, lần lượt tiến lên, mỗi người luân phiên nói một câu y hệt nhau.


- Thần thiếp xin thỉnh an thái hậu!


Thái giám lại vỗ tay. Lần này các cung nữ xoay ngang, để thái hậu quan sát dáng vẻ bên


hông.


Thái hậu lại dạy Hằng:


- Đàn bà ngực lép, hông nhỏ thì sinh sản không tốt. Nhưng nếu to lớn xồ xề thì là loại


hiếu dâm, lại càng không tốt. Cho nên chọn đàn bà, phải chọn vóc người vừa phải, tam đình bình


đẳng, tứ chi nhỏ nhắn, ấy mới là tốt.


Hằng đang đau, tay ôm bụng, mắt nhắm. Thái hậu thấy vậy, gọi giật:


- Hằng, ngươi có nghe ta dạy bảo không?


Hằng vội mở choàng mắt. Trước mặt thái hậu, các cung nữ đã sắp xếp thành hàng ngang


ngay ngắn như cũ.


Thái hậu tay cầm quạt ngà, ra hiệu cho cung nữ áo xanh bước lên.


- Ngươi quê quán ở đâu, con nhà ai?


Cung nữ áo xanh khép nép:


219


- Tâu thái hậu, thần thiếp quê ở làng Thủ Lễ, huyện Quảng Điền, con của Cống sinh họ


Đoàn.


Thái hậu hơi bĩu môi:


- Hừ, lại là con thầy đồ, giống như xuất thân của Thục tần. Thôi, trong cung có một nữ sĩ


gàn cũng đã đủ. Cho ngươi lui.


Cung nữ áo hồng tiến lên.


- Tâu thái hậu, thần quê ở làng An Truyền, huyện Phong Điền, thiếp là con gái thứ ba của


huyện lệnh Lê Tiến Thành.


Thái hậu ngắm nghía, so đo một lúc:


- Ngươi ở lại, còn tất cả cho lui.


Còn lại một mình cô gái áo hồng, thái hậu nhìn thật kỹ với đôi mắt soi mói:


- Được lắm. Ngươi tên là gì?


- Dạ tâu thái hậu, thần thiếp nhũ danh là Lê Thị Ái.


Thái hậu quay sang thái giám.


- Truyền đem Lê Thị Ái cho ổn bà khám nghiệm lần nữa, rồi sắp xếp cho hầu hoàng


thượng.


Nói rồi thái hậu bước ra, lên kiệu đi tiếp. Hằng lểnh mểnh theo sau.


Hạnh Nhi thấy Hằng xiểng liểng vì đau, vội tâu:


- Tâu, chị Hằng đi lại có vẻ khó khăn, chắc trong người không khỏe.


Thái hậu không nhìn:


- Cái gì? Còn trẻ tuổi xuân xanh, lẽ nào không bằng bà già này sao? Theo hầu ta một


đoạn không xong mà dám hứa là tận trung tận hiếu đó sao?


***


Trong lúc đó, Miên Tông đã theo hoàng đế Minh Mạng ra khỏi hoàng thành. Đạo


Ngự cùng với kiệu, xe, voi, ngựa tiền hô hậu ủng đi qua cửa Đông Hoa, băng qua nhà họ


Phạm.


Phạm Đăng Hưng từ hôm va chạm với Phó tổng tài họ Đỗ, ông hiểu ra: ngòi bút


sử quan trong tay mình đã bị trói, bản thân mình còn đó cũng như không. Suy sụp, ông


không đến Quốc sử quán nữa.


220


Hôm nay, ông đang còn bị những cơn ho hành hạ. Hạnh Thảo sắp đến ngày ở cữ, vẫn


phải thức nhiều đêm canh thuốc cho chồng.


Thấy Hạnh Thảo bưng thuốc đến gần, Đăng Hưng cố gượng dậy:


- Phu nhân, ta nghe có tiếng loa xa xa, nàng thử ra nghe ngóng xem sao?


Hạnh Thảo vâng dạ, ra cửa sổ, vén rèm. Tiếng loa vọng lại:


“Hoàng thượng cùng các hoàng tử ngự giá tuần du Trấn Hải đài, truyền dân chúng hai


bên đường núp mặt!”


Người đi đường nghe loa, vội mang cả gồng gánh chạy núp vào trong các con ngõ.


Đăng Hưng nghe nói Đạo Ngự sắp đi qua, liền nhớ đến vua, nét mặt ông đượm một nỗi


buồn chua chát.


- Hoàng thượng…


Hạnh Thảo nhìn đăm đăm về đám bụi mù xa xa:


- Hoàng thượng ra cửa biển Thuận An, các hoàng tử cùng theo đi, chắc chắn là phải có


hoàng trưởng tử trong đó.


Đăng Hưng ngậm ngùi:


- Thấm thoắt con gái vào cung đã hơn một năm rồi! Ta nhớ nó lắm! Cách nhau có mấy


dặm, mà tưởng chừng đi sang thế giới khác. Này, hay là nàng dìu ta ra cửa sổ, ta trông theo đạo


Ngự, biết đâu nó cũng được cùng hoàng trưởng tử theo hầu.


Ngoài đường, đạo Ngự đang đi qua. Vua Minh Mạng ngồi trên xe rồng, oai nghi lẫm liệt.


Miên Tông và Miên Hoằng cưỡi ngựa đi hai bên. Thấy nhà họ Phạm hiện ra, Miên Tông băn


khoăn ra mặt, áp sát ngựa gần xe vua:


- Tâu hoàng thượng, nắng đã lên cao, phía trước là nhà của quan Tổng tài họ Phạm,


hoàng thượng có cho phép đạo Ngự dừng chân tạm nghỉ không ?


Minh Mạng khẽ liếc, rồi lạnh lùng thốt lên, giọng như dao chém đá:


- Không!


Miên Tông tiu nghỉu, dang ra xa.


Trong nhà, Đăng Hưng nhìn đạo Ngự trẩy qua, tay run run bám vào màn cửa. Cơn ho lại


nổi lên, ông phải cố nén, đưa tay ra hiệu cho Hạnh Thảo dìu trở lại giường.


Chợt lính hầu vào báo:


- Bẩm quan lớn và phu nhân, có khách.


Đăng Hưng mừng, giọng run run:


- Phu nhân ra xem ngay đi, có khi hoàng trưởng tử lén quay lại thăm ta. Dù gì cũng là con


rể của ta mà.


Hạnh Thảo chưa kịp ra thì khách đã bước vào.


Đó là Trương Đăng Quế.


Nhìn vẻ mặt hốc hác của Đăng Hưng, Trương Đăng Quế giật mình:


- Quan lớn! Cháu có nghe quan lớn không khỏe, nhưng cũng không ngờ xuống sức như


thế này!


Đăng Hưng khàn giọng:


221


- Đăng Quế, bệnh của ta là tâm bệnh, khó lành lắm cháu à! Thầy thuốc bắt mạch


chỉ biết cái máu cái huyết ta, chứ làm sao biết được cái uất ức trong lòng ta. Không biết


căn bệnh ở đâu thì làm sao bốc thuốc kê đơn cho đúng được!


Đăng Quế quỳ xuống bên giường:


- Cháu không dám nói là biết hết tâm sự quan lớn, nhưng cũng đoán được đôi


phần! Còn tâm sự của cháu đây, mới thực là chẳng chia sẻ cùng ai được!


Đăng Hưng mệt quá không nói được, chỉ đặt tay lên đầu Quế, miệng thều thào:


- Khổ thân cháu, khổ thân cháu… Ta biết…


- Hôm nay cháu đến đây là để chào quan lớn. Cháu đã xin thôi làm việc trong


cung, xin ra Bắc thành theo việc quân. Thấy quan lớn bệnh nặng thế này, lòng cháu thật


bùi ngùi không nỡ ra đi. Cháu xin quan lớn coi sức khỏe là trọng, đừng quá nặng lòng


suy nghĩ mà thêm thương tổn.


Đăng Hưng cười nấc lên:


- Ta có thể không nặng lòng chăng? Cũng như cháu, cháu có thể không nặng lòng


chăng?


Hạnh Thảo đưa Đăng Quế ra, tay lau nước mắt:


- Có Đăng Quế trong cung, gia đình tôi còn hy vọng thăm dò được tin tức của


Hằng. Nay Đăng Quế ra đi, thật chẳng còn biết bám víu vào đâu.


Đăng Quế buồn bã lắc đầu:


- Tuy cũng cùng là ở trong cung, nhưng bên trong và bên ngoài đại cung môn thật


hoàn toàn cách biệt. Phủ thiếp ở với hoàng tử trong Tử Cấm Thành, Quế chỉ là bề tôi,


một ngàn đời cũng không thể vào tới. Ngày ngày Quế đến lớp dạy học, lại thấy cảnh cũ


hiên xưa, bao nhiêu kỷ niệm. Vì vậy mà Quế phải đi! Hơn nữa, Quế cũng mong sự


nghiệp của kẻ trượng phu vẫy vùng bốn biển, nên đã chán việc dạy dỗ chữ nghĩa cho mấy


ông hoàng còn thò lò mũi xanh rồi!


Hạnh Thảo chắp tay từ tạ.


- Đăng Quế tuổi còn trẻ, đường còn dài, tôi mong cho cậu ra Bắc làm nên chuyện,


gặp mọi điều may mắn.


Chương 37


Ngôi nhà chờ chết


Đêm ấy, Hằng nằm co quắp trên giường, mảnh chăn đắp hờ ngang ngực. Suốt đêm nàng


cố nhịn cơn đau. Thỉnh thoảng không nén được, nàng bật rên thành tiếng: “Má ơi…”


Ngoài cửa sổ, bình minh đã lóe lên. Đào Nhi, thị nữ của Hằng gọi:


- Chị Hằng, đến giờ dậy đi vấn an thái hậu rồi.


Hằng gượng dậy, bước vài bước rồi bỗng khuỵu xuống.


222


Đào Nhi thấy vậy vội chạy tới đỡ, miệng kêu cứu ầm lên. Thái hậu được bẩm báo, truyền


Thái y viện cho người đến gấp.


“Mau căng màn lên!”, thái hậu giục cung nữ. Hằng chưa hiểu vì sao phải căng màn, thì


nghe thái hậu dặn dò:


- Quy định từ xưa đến nay, mỗi lần mời thái y phải theo đúng quy tắc khám chữa nữ giới,


không được cẩu thả làm phạm đến danh tiết của người đàn bà trong nội đình. Hiểu chưa?


“Dạ, chúng con kính cẩn nghe dạy”. Nói rồi Đào Nhi cầm một dải lụa quấn vào cổ tay


Hằng. Màn căng lên trước giường, Đào Nhi cầm tay Hằng thò qua màn cho thái y bắt mạch.


Thái hậu vẫn chưa yên tâm:


- Này thái y, nam nữ thọ thọ bất thân, nhà ngươi phải thận trọng mới được.


Quan thái y tâu:


- Tâu thái hậu, lão thần nhiều năm phụng sự cung đình, biết rõ phép tắc ạ.


Thái y bắt mạch cho Hằng qua lần lụa trên tay nàng. Thái hậu đứng giám sát.


Lát sau, thái y bước ra, quỳ xuống.


- Tâu thái hậu, trước hết lão thần xin chúc mừng hoàng gia.


- Sao? Có việc gì?


- Phủ thiếp của hoàng trưởng tử đã mang thai, nay mai hoàng thất sẽ có thêm cành vàng


lá ngọc. Tuy nhiên…


Thái hậu cau mày:


- Tuy nhiên thế nào?


- Tâu, phủ thiếp có bị ngã nên cái thai đang bị động, cần phải giữ gìn cẩn thận nếu không


thì thật nguy hiểm khó lường.


Thái hậu quở trách:


- Bị ngã ư? Thật là ngu xuẩn, với đàn bà việc thai nghén là quan trọng nhất, sao không


chịu giữ gìn để đến nông nỗi này.


Thái y lạy lui ra. Trong màn, Hằng nằm thiêm thiếp, thỉnh thoảng lại giật nẩy mình. Mồ


hôi vẫn tiếp tục rịn ra ướt cả tóc mai.


Đào Nhi sắc thuốc. Đêm xuống. Càng về khuya, mặt Hằng càng tái nhợt, môi tím lại.


Đào Nhi cố đổ thuốc vào miệng Hằng. Hằng mở mắt, lờ đờ nhìn quanh:


- Hoàng trưởng tử đã về chưa?


Đào Nhi biết đến rằm Miên Tông mới về, nhưng thấy Hằng trông ngóng, nên cứ dỗ dành:


223


- Chị gắng lên, nghe nói hoàng tử sắp về rồi đó!


Đến sáng mai thì Hằng bắt đầu lịm đi, mắt chỉ thấy tròng trắng, hai bàn tay run rẩy quờ


quạng bấu víu trên mặt chiếu.


Thái y lại đến bắt mạch lần nữa qua bức màn.


- Tâu thái hậu, mạch đã yếu lắm rồi. Theo lời thị nữ thì thai đã ra máu, không hiểu ra ít


hay nhiều nhưng như vậy là khó lắm…


Thái hậu vẻ mặt căng thẳng:


- Nhà ngươi hãy gắng lên, đây là giọt máu của hoàng trưởng tử, phải gắng sức giữ lấy.


Thái y quỳ phục xuống, dập đầu sát đất:


- Tâu, lão thần đã kê đơn thuốc gồm tục đoạn, tăng ký sinh, củ gai, đương quy, đỗ trọng,


a giao, hoàng kỳ, cam thảo. Đó là bài thuốc đặc trị chữa động thai, vậy nhưng hôm qua đến giờ


thấy bệnh càng lúc càng nặng. Sức người khó thắng được mệnh trời, nếu có chuyện dữ xảy ra xin


thái hậu tha tội vì lão thần đã hết sức.


Thái hậu buông người xuống ghế, giận dữ:


- Nói vậy là ngươi hết phép rồi sao, đồ vô dụng!


Thái y lui ra. Tổng quản thái giám vào, vội vã:


- Tâu thái hậu, tình hình này, e phải lo lui, không lo tới được nữa.


Thái hậu lặng đi một lúc:


- Lo lui nghĩa là… lo hậu sự sao?


- Dạ, nếu để trễ muộn thì thần e sẽ phạm vào quy định hoàng cung đó. Xưa nay đàn bà


trong cung, tước vị từ Tiệp dư trở lên mới được nhắm mắt lìa đời trong hoàng thành. Nay phủ


thiếp hầu hạ hoàng trưởng tử chưa lâu, tước vị chưa có gì, theo lệ thì lúc lâm chung phải đưa ra


Bình An đường chờ chết.


- Còn cứu chữa được không, nếu còn cứu được thì gắng thêm chút nữa.


Tổng quản thái giám cúi đầu:


- Để cho đảm bảo quy định của hoàng cung, theo con nên đưa xuống Bình An đường rồi


tiếp tục chữa, chẳng qua cũng chỉ là còn nước còn tát thôi.


Thái hậu suy nghĩ một lúc rồi thở dài:


- Thôi được, ngươi cho đưa đi, xem chừng ngặt nghèo quá thì truyền ý chỉ của ta đến


người nhà họ Phạm, cho họ lãnh tiền tống tử và đem con về lo mai táng.


Cung nữ đem cáng lại, khiêng Hằng đi.


224


Cáng Hằng đi rồi, thái hậu ngồi thừ ra, ngẫm nghĩ.


- Đăng Hưng, ta cũng đã hết lòng chạy chữa cho con gái ngươi, chỉ tiếc vì phúc nhà họ


Phạm ngươi quá mỏng. Âu cũng là số phận, các ngươi đừng trách ta.


***


Quỳ nghe nữ quan đọc ý chỉ của thái hậu, Hạnh Thảo rụng rời tay chân. Hằng làm sao mà


phải xuống nằm Bình An đường?


Hình ảnh cung nữ Hà Nhi ngày nào xám xanh trên chiếc cáng, bị khiêng xuống ngôi nhà


chờ chết vụt hiện ra trong ký ức. Hạnh Thảo tái mặt, run run:


- Bẩm nữ quan, con gái chúng tôi bị làm sao?


- Phủ thiếp có thai, chẳng may thai động, uống thuốc xong lại bị băng huyết nên sắp nguy


đến nơi. Nếu quan lớn và phu nhân còn muốn gặp lần cuối thì ráng đi nhanh lên!


Hạnh Thảo ôm mặt quỵ xuống. Người lính hầu chạy đến đỡ, vừa khóc vừa khuyên:


- Phu nhân, bà cũng đang bụng mang dạ chửa, dù chi cũng phải giữ gìn. Để con đi báo


quan lớn.


Hạnh Thảo hốt hoảng:


- Chú quyền, quan đang mệt nặng, đừng nói cho quan biết. Để đó tôi lo…


Nhưng từ trong giường bệnh, Phạm Đăng Hưng đang bước ra. Nữ quan đã vội vàng rút


lui, trong khi Hạnh Thảo đang vội quàng chiếc áo dài, vừa cài khuy vừa bươn bả bước đi.


- Phu nhân, nán lại một chút, hãy nghe ta nói.


Hạnh Thảo vội quệt ngang dòng nước mắt, sợ Đăng Hưng nhìn thấy.


- Thiếp có việc phải đi đây một chút, quan lớn sao không nằm nghỉ đi.


- Phu nhân đừng giấu ta, ta đã nghe hết cả rồi.


Hạnh Thảo ngạc nhiên thấy Đăng Hưng vẫn giữ được bình tĩnh. Nàng chỉ lo nghe thấy


tin dữ này, chắc ông phải đau đớn đến chết theo con.


- Hãy chịu khó nán lại nghe ta. Nếu số con ta phải chết, nàng có chạy vào sớm một phút


cũng không làm cho nó khỏi chết.


Hạnh Thảo không hiểu ý chồng muốn gì, đành quay lại, hỏi cho rõ ý.


***


225


Trong bóng âm u của Bình An đường, Hằng nằm thiêm thiếp. Chợt đôi mắt Hằng hé mở.


Chầm chậm nhìn quanh, nàng thều thào gọi:


- Miên Tông! Chàng đâu rồi?


Đây là đâu? Sao vắng lặng thế này. Hay là… Hằng nhìn qua bên cạnh, thấy một bàn thờ,


trên có bát nhang mà không có bài vị. Đúng rồi, đây chắc là Bình An đường. Lẽ nào mình đã


chết rồi ư?


Vừa lúc đó Hạnh Thảo lễ mễ bước vào.


- Dì Thảo… Trời ơi. Dì Thảo. Dì ơi, con còn sống không?


Hạnh Thảo không nói, lập tức lần tay xem xét khắp người Hằng. Động đến đâu, Hằng


nhắm mắt rên la kêu đau đến đó.


Một người lính đang ngồi canh ở ngoài cửa, thò đầu vào:


- Sao, bây giờ bà có đưa người nhà về không. Hôm nay ngày tốt, đưa về mau cho kịp


nhập liệm. Tụi tôi có sẵn phường xe kéo cho thuê, giá phải chăng, để tôi gọi cho. Mà không có


xe nào khác đâu, không có xe nào vào đây được.


Hạnh Thảo gắt lên:


- Phủ thiếp nhà tôi vẫn còn thoi thóp, còn nước còn tát mà, chú đừng có trù ẻo cho nhà


tôi.


Tuy mạch đã gần trụy như Hằng vẫn nghe hiểu hết mọi chuyện. Vậy là mình sắp ra đi rồi.


- Dì ơi, Miên Tông sắp về chưa. Con chỉ mong gặp lại Miên Tông một lần, trước khi


chết.


Hạnh Thảo đặt cái tay nải đang cầm xuống nền gạch, ôm Hằng dỗ dành:


-- Đừng nói bậy, con phải gắng lên, để dì cố cứu con.


Trong lúc ấy, đạo Ngự đã hồi cung. Xe vua qua cổng Ngọ Môn, dừng trước điện Càn


Thành. Miên Tông xuống ngựa, chàng vội vàng cáo từ định về biệt thất của mình ngay. Nhưng


nhà vua truyền:


- Hãy khoan đã. Miên Tông, Miên Hoằng, trẫm đã giao Trương Đăng Quế ra Bắc thành


lo việc quân, ngày mai sẽ lên đường sớm. Quế là thầy của các ngươi, nên dù muộn rồi ta muốn


các ngươi phải đến từ biệt cho phải phép.


Miên Tông đành tuân lệnh, cùng Miên Hoằng đi ra nhà Công quán thăm thầy.


Ở Bình An đường, Hằng thoi thóp, cứ ngắc ngoải nhìn quanh:


- Miên Tông…


Lính canh nhòm vào.


226


- Chị ơi, sao chị dám gọi đến cả tên cúng cơm của hoàng trưởng tử, phải tội chết đi thôi.


Giọng Hằng yếu ớt:


- Tôi sắp chết rồi, chỉ mong nhìn mặt hoàng tử một lần. Gọi hoàng tử dùm tôi đi.


- Ai mà biết hoàng tử đang ở đâu, mà có biết cũng ai dám lại gần.


Hằng khóc nghẹn. Thấy vậy, người lính cũng động lòng, đưa tay áo lên chặm nước mắt.


Hạnh Thảo lúc ấy ở bên hiên, lay hoay một lúc, rồi quay lại với bát nước màu xanh đen


quánh. Chú lính hỏi:


- Cái gì vậy?


- Đây là lá ngải cứu, trong dân gian người ta dùng để an thai, tôi vừa giã ra cho con tôi


uống.


Lính canh nghi ngờ:


- Trong cung thiếu chi thuốc thang mà còn không cứu được, huống hồ cái lá này.


- Mặc kệ tôi, chú không phải nói.


Hạnh Thảo một tay đỡ Hằng dậy, một tay đổ nước ngải cứu vào miệng Hằng. Hằng nuốt


được một ngụm rồi lại phun cả ra, nước ngải cứu chảy xuống, thâm cả vai áo.


Ngải cứu này mọc rất nhiều sau vườn nhà, chính Phạm Đăng Hưng đã nhắc cho Hạnh


Thảo nhớ ra. Lúc ấy, nàng cũng đã bảo chồng: trong cung thiếu gì thuốc hay thầy giỏi mà còn


không chữa nổi? Nhưng Đăng Hưng bảo:


- Phu nhân cứ nghe ta. Cứ đem ngải cứu giã nát theo liều lượng ta dặn. Đời Trần, Tuệ


Tĩnh thiền sư đã dạy: Nam dược trị Nam nhân, người Nam hãy dùng thuốc Nam, đừng có dại dột


nằm trên kho thuốc mà chịu chết.


Đăng Hưng hiểu y lý nên biết rõ: Trong cung thầy thuốc rất giỏi mà cung tần mỹ nữ chết


rất nhiều, hầu hết là chết vì sản nạn. Cũng chỉ vì cái tục câu nệ, khám chữa mà không thấy mặt


người bệnh, bắt mạch thì qua lần lụa đâu có biết nóng lạnh làm sao? Thuốc thì toàn mua từ bên


Tàu đưa về, nhiều vị nóng nhiệt trong khi không nắm được chính xác cơ thể nóng lạnh thế nào,


làm sao mà điều chỉnh liều lượng?


Chiều hôm ấy Miên Tông đi thăm chào Trương Đăng Quế xong thì trời đã xế chiều.


Bước chân vào biệt thất, những tưởng Hằng ra đón nhưng chỉ thấy thị nữ Đào Nhi đứng xếp chăn


màn, mặt buồn rười rượi.


- Đào Nhi, phủ thiếp của ta đâu?


Đào Nhi sụt sịt.


- Dạ, chị Hằng bị bệnh, đã dời đi rồi!


227


Miên Tông giật mình:


- Nàng bị bệnh ra sao, bệnh gì, sao lại dời đi?


Đào Nhi sợ hãi.


- Dạ, con đã được lệnh không được bép xép, con xin hoàng tử thương tình, đừng bắt con


phải tội với bề trên.


Miên Tông giậm chân.


- Vợ ta bỗng dưng biến mất mà không cho ta biết sao! Đào Nhi ơi, nói mau, Hằng đang ở


đâu?


Đào Nhi nhớn nhác.


- Dạ… Khổ thân hoàng tử, làm sao con dám giấu bây giờ… Dạ, hiện chị Hằng đã được


đưa xuống một nơi, nơi ấy nằm ở góc phía Đông Bắc hoàng thành, trong một cái nhà, nhà này


thuộc về hoàng cung nhưng lại nằm ngoài hoàng cung…


Miên Tông tức giận:


- Thôi thôi! Ruột gan ta đang nóng như sôi, mày lại nói lảm nhảm rề rà cái gì thế?


Đào Nhi khóc.


- Hoàng tử tha cho con, con đã được lệnh không được nhắc tới tên cái nhà đó!


Miên Tông nhăn mày lẩm bẩm:


- Thuộc về hoàng cung mà lại ở ngoài hoàng cung… Góc Đông Bắc… - Chợt Miên Tông


hét lên - Trời ơi, không lẽ là… Bình An đường?


Đào Nhi mắt nhấm nháy, gật gật đầu ra hiệu là chính phải.


Miên Tông lao vút đi.


Trong Bình An đường Hạnh Thảo cố hết sức cho Hằng uống nước lá nhưng môi Hằng


vẫn ngậm chặt. Hằng lịm dần… Chợt Hằng ráng mở mắt, lờ đờ nhìn lên:


- Dì nói với cha, xin tha tội bất hiếu cho con.


Hạnh Thảo tuyệt vọng, khóc ngất.


Bỗng cửa bật mở. Miên Tông xuất hiện.


- Hoàng tử… - Mắt Hằng sáng lên, một thoáng cười yếu ớt lướt qua khuôn mặt đã trắng


như sáp. - Hoàng tử về với thiếp rồi. Thiếp yên tâm ra đi rồi.


Miên Tông thét lên, ôm chặt lấy Hằng.


Hạnh Thảo bưng bát nước thuốc lại gần.


228


- Hoàng tử, cố dỗ Hằng uống một ngụm, may ra…


Miên Tông hớp thuốc vào miệng, mớm vào miệng Hằng.


- Hằng ơi, uống thuốc đi, đừng chết. Đừng bỏ ta, đừng bắt ta sống một mình trong hoàng


cung buồn lắm…


Miên Tông nói rồi khóc nấc.


Hằng gượng đưa mấy ngón tay run lẩy bẩy, nắm lấy tay chồng… Nàng thều thào:


- Thiếp không chết đâu… Thiếp muốn sống với hoàng tử…


***


Nghe tin Hằng đã thoát chết, lại quay về biệt thất, thái hậu ngạc nhiên, gọi Tổng quản


Trần quở trách rất nặng.


- Tổng quản Trần, mấy lần ngươi dâng ý kiến, thảy đều trật lấc cả. Việc đưa phủ thiếp


của Miên Tông xuống nhà chờ chết, nghĩ lại cũng hơi quá. Tuy ta không thích con gái Đăng


Hưng, nhưng cũng không muốn Miên Tông oán ta đâu.


Tổng quản Trần cúi lạy tạ tội:


- Dạ, chính con cũng không ngờ. Xưa nay xuống đến Bình An đường thì chỉ có chết thôi,


đâu có ai sống lại mà về đâu. Chẳng qua Phạm thị số lớn mạng to, nên mới có chuyện hi hữu như


vậy.


Thái hậu hừ một tiếng:


- Số lớn mạng to cái gì, ngươi lại nói nhảm nhí gì vậy? Chỉ tại ngươi hồ đồ nóng vội mà


thôi.


Tổng quản Trần đỗ lỗi:


- Cái này là lỗi tại thái y, xưa nay các thái y khi chữa cho cung phi thường tránh trút trách


nhiệm, sợ cho thuốc không nhằm thì phải tội nên nhiều khi bệnh chưa nặng cũng nói là nặng lắm


không thể chữa để cho mau xong việc. Xin thái hậu bắt tội thái y, như vậy thì đỡ oan cho thần,


mà hoàng trưởng tử cũng không quy oán cho thái hậu được.


Thái hậu ngẫm nghĩ, gật đầu:


- Nhà ngươi tuy vụng chèo nhưng khéo chống, cũng không đến nỗi vô dụng. Được rồi, ta


sẽ nghe theo ngươi. Ngươi thừa lệnh ta, viết ý chỉ phạt cắt lương bổng của thái y Trần một tháng


để trị cái tội định bệnh sai, khám chữa không hết sức. Làm ngay đi.


Tổng quản Trần mừng rỡ:


- Dạ, thần xin tuân lệnh thái hậu.


- Còn việc cung nữ họ Lê ta vừa chọn, đến đâu rồi? - Thái hậu hỏi.


- Tâu, thái hậu đã dặn, thần coi sóc cẩn thận không dám lơ là. Hiện Lê Thị Ái đã được


xếp hạng là Tài nhân vị nhập giai.


Thái hậu gật đầu:


229


- Đúng rồi, Tài nhân vị nhập giai, tuy có chức danh là Tài nhân nhưng mới vào


cung chưa được dự vào cửu giai chín bậc của cung phi. Phải từ từ ban ơn, không lại sinh


kiêu loạn.


Tổng quản Trần dạ dạ liên tục:


- Dạ, tâu mỗi ngày con đều dặn thị nữ cho Lê Thị Ái tắm bằng sữa lừa, uống sâm


và quế, chuẩn bị tiến lên hoàng thượng.


- Tốt lắm. Đồng thời, cho nữ quan đến dạy cho thị biết phép tắc cung vi, dạy cho


thị biết tánh ý hoàng thượng để sau này biết mà hầu hạ ngài. - Thái hậu dặn.


Đêm xuống. Trong viện Đoan Trang, Lê Thị Ái ngồi trong chậu tắm lớn bằng gỗ.


Trong chậu là nước trong vắt thoang thoảng hương hoa. Hai thị nữ cầm bình sữa trắng


dốc lên thân thể nàng, vừa dốc vừa dùng khăn bông xoa nhẹ trên làn da mịn. Ái đưa tay


che thân thể, ngượng ngùng vì không quen khỏa thân trước mặt người khác.


Thị nữ cười:


- Chúng em là nô tỳ, chị đừng ngại gì.


Lê Thị Ái lo lắng:


- Chị cả đời chưa từng biết cung vua, chị sợ quá… Nghe nói hoàng thượng mà


không vừa lòng ai là ngài chém đầu…


Thị nữ gật gật:


- Chém thì không đến nỗi chém, nhưng hoàng thượng nghiêm lắm đó, ngài bảo gì


chị phải nhất nhất tuân theo mới được.


Hôm ấy nhằm ngày tốt, ý thái hậu muốn Tổng quản Trần thu xếp dâng tiến Ái lên


hầu vua. Nhưng hoàng đế Minh Mạng đang bận vì có tin mấy đám giặc lớn nổi lên ở Bắc


thành. Ngài gọi các quan vào bàn việc đến khuya, rồi thức đến sáng trong điện Cần


Chánh.


Vì vậy, nàng Tài nhân nằm một mình trong viện Đoan Trang, cả đêm phập phồng


vì lo sợ, đến lúc bình minh mới dám ngủ thiếp đi.


Chương 38


Lời hứa của tiên đế


Hôm ấy trong điện Cần Chánh, vua Minh Mạng đang tức giận, ngài cầm tờ biểu vừa đọc


ném mạnh xuống đất.


- Lại chuyện ngoài Bắc! Mấy năm nay Lê Chất ngồi Tổng trấn Bắc thành, lần nào dâng


sớ cũng khoe công sức trị an này nọ. Vậy mà có mấy đám loạn từ thời tiên đế đến nay, dẹp mãi


vẫn chưa xong. Vậy là dẹp giặc, hay là nuôi giặc?


Trung Trực len lét, lom khom chạy ra phía trước, nhặt tờ biểu đặt bên mé án thư.


- Trung Trực, đọc lại cho trẫm nghe, có những đảng loạn nào đang hoành hành ngoài ấy?


- Dạ, muôn tâu, dữ nhất là giặc Phan Bá Vành nổi lên ở ven biển Thái Bình. Chúng dụ dỗ


dân chúng đi theo, đàn bà con gái cũng cầm giáo mác theo chúng làm loạn. Giặc dữ đến nỗi


quân binh của triều đình mỗi lần ra trận đều đem việc nhà trăn trối xong mới đi…


230


Minh Mạng đập bàn:


- Im ngay! Đủ rồi! Té ra lâu nay quan Tổng trấn Bắc thành trị an dân chúng thế đấy. Còn


gì là uy thế của triều đình nữa. May mà trẫm kịp sai Trương Đăng Quế ra Bắc xem xét. Trung


Trực, đưa tờ biểu đây cho trẫm xem lại.


Trung Trực dâng lại tờ biểu vừa nhặt lên.


Nhà vua lúc này đã bình tĩnh lại, vừa đọc vừa lẩm bẩm:


- Sự thật nghe thì chát tai, nhưng dù sao vẫn là sự thật. Khá khen Trương Đăng Quế đã


can đảm tâu bày. Trẫm vẫn cho cái việc chia đất nước thành ba phần thực không tiện cho việc cai


trị. Miền Bắc giao cho Lê Chất, miền Nam giao cho Lê Văn Duyệt, giao vào tay hai quan tổng


trấn quá nhiều quyền hạn. Cái lệ này, thời trước tiên đế đặt ra, có lẽ đã đến lúc phải thay đổi đi


mới được.


Trung Trực rụt rè:


- Tâu, trước đây khi hoàng thượng mới lên ngôi, thái hậu cũng đã có ý muốn bỏ hai chức


tổng trấn, nhưng hoàng thượng không nghe.


Minh Mạng gật đầu:


- Mẫu hậu ta thông tuệ khác người, nói rất có lý. Nhưng lúc ấy còn sớm quá. Tiên đế


trước đây giao quyền cho các công thần, lâu ngày họ giống như cây đại thụ, gốc rễ lớn sâu, cành


lá dài rộng, muốn bứng đi đâu có dễ. Đất nước thống nhất lại rộng dài, rất khó thu tóm về một


mối. Cho nên phải tạm chấp nhận để miền Bắc và miền Nam dưới quyền các quan tổng trấn là vì


vậy! Bây giờ, miền Bắc thì nát bét, Lê Chất rất đáng bị cách cổ. Còn miền Nam… Trung Trực,


hãy mở cho ta tờ biểu về tình hình miền Nam xem sao.


Trung Trực tìm rồi mở rộng tờ biểu trên án thư.


Minh Mạng đọc xong, khẽ gật đầu:


- Miền Nam dân tình âu ca lạc nghiệp, gạo lúa thừa ăn, tốt lắm. Thống chế Nguyễn Văn


Thoại lại vừa hoàn thành công trình thủy lợi đào kênh Vĩnh Tế, mở đường giao thông từ tây sang


đông, tốt lắm.


Trung Trực thấy khí sắc nhà vua có phần ôn hòa hơn, liền tâu:


- Dạ, Tổng trấn Gia Định Thành là Lê Văn Duyệt cũng có tờ biểu tâu riêng về chuyện gia


tình.


- Chuyện gì?


- Dạ, Đức ông nhắc lại lời hứa của tiên đế Gia Long ngày trước…


Minh Mạng cau mày.


- Tiên đế hứa gì? Có chắc không?


- Dạ, chuyện là thế này: Đức ông Lê Văn Duyệt vốn xuất thân là thái giám, không có con


cái, chỉ nuôi một người cháu làm con nối dõi, tên là Lê Yên. Tiên đế đã có hứa, sau này sẽ gả


công chúa. Ngài lại dặn thái giám Trung Tín ghi vào sổ ân điển, đến nay vẫn còn ạ! Nay Yên đã


mười sáu tuổi, Đức ông nhắc lại lời hứa cũ và xin hoàng thượng ban ơn cho công chúa hạ giá.


Minh Mạng ngần ngừ:


- Lê Văn Duyệt muốn con trai làm phò mã sao? Hm… Trung Trực, khanh đã xem kỹ lại


sổ ân điển chưa. - Ngài tặc lưỡi - Nếu đúng tiên đế đã hứa thì phải thi hành thôi.


231


Tính nhà vua điều gì không quyết thì thôi, đã quyết thì làm ngay tức khắc. Ngày mai lại,


Hiền tần Ngô Thị Chính được lệnh chọn tuyển trong các công chúa, tìm người xứng hợp để gả


làm dâu họ Lê.


Trong cung Tần Trang, vua Minh Mạng ngồi ghế rồng trên bệ cao, Hiền tần Ngô Thị


Chính ngồi đôn gấm kê thấp bên cạnh.


Một dãy công chúa nối nhau bước ra, công chúa nào cũng trang sức diễm lệ.


Tiên đế Gia Long để lại mười tám con gái, hiện trong cung vẫn còn mười nàng chưa gả


chồng. Hôm nay theo lệnh, tất cả đều tề tựu đến đây cho vua và Hiền tần xem xét. Một viên thái


giám già cầm danh sách tiến ra, hô từng tên một. Mười công chúa lần lượt tiến lên. Công chúa


nào có mẫu thân địa vị cao hơn trong cung thì được xướng danh trước.


- Công chúa Nguyễn Phúc Ngọc Cơ.


… Công chúa Nguyễn Phúc Ngọc Ngoạn,


… Công chúa Nguyễn Phúc Ngọc Thiều,


… Công chúa Nguyễn Phúc Ngọc Đồng.



Minh Mạng nghiêng người hỏi nhỏ Hiền tần:


- Sao trẫm thấy có vài công chúa nét mặt đã luống tuổi mà vẫn chưa gả chồng, lẽ nào con


gái hoàng gia lại ế hay sao?


Hiền tần mỉm cười:


- Tâu không ế đâu ạ! Trăm quan ai mà chẳng háo hức muốn làm sui với hoàng đế. Chẳng


qua vì một vài công chúa không may, đang đến kỳ gả chồng thì gặp luôn mấy cái tang trong


hoàng tộc. Mỗi cái tang là ba năm, đến khi hết tang thì thành quá lứa. Các phò mã ứng tuyển đều


nhỏ tuổi hơn, nên đem gả không tiện!


Minh Mạng gật đầu:


- À ra vậy! Con gái lớn ở hoài trong cung, âm khí uất tắc, không tốt đâu. Trẫm giao cho


ái khanh phải lo tính tìm mối, có quan nào góa vợ thì đem gả hết chúng đi.


Hiền tần xa xôi:


- Ái dà, tâu hoàng thượng, thần thiếp chỉ biết lo chuẩn bị sắp xếp thôi, chứ còn quyết định


việc hôn nhân của công chúa hoàng tử, chắc hoàng thượng biết là quyền của ai rồi. Thiếp đâu


dám vượt trên phận mình?


Minh Mạng nhìn Hiền tần:


- Quyền của ai trẫm biết chứ, ái khanh khỏi nhắc. Tất nhiên đó là việc của Chánh cung


hoàng hậu. Ái khanh, lâu nay trẫm xem nàng cũng như vợ chính của trẫm, việc gì trong hoàng


gia trẫm đều hỏi ý nàng. Nàng thấy chưa đủ sao?


Hiền tần nhỏ nhẹ:


- Lòng hoàng thượng thương thần thiếp như biển, thiếp vẫn biết mình có phước lớn lắm!


Minh Mạng dứ ngón tay trước trán Hiền tần:


- Đã biết mình có phước, vậy mà sao cứ rụt rè e ngại, việc gì cũng tránh trút? Hôm trước


ta giao nàng bảo trợ cho hai con của Tam phi Ngọc Bình, nàng cũng tránh, ta mới phải giao qua


cho Thục tần. Nay bảo lo việc gả công chúa, lại cũng tránh, là nghĩa làm sao?


232


Hiền tần thở dài, mặt lộ vẻ buồn:


- Tâu hoàng thượng, xin người hiểu cho. Thân phận thiếp hiện giờ, thật đúng là quyền


rơm vạ đá, cho nên việc gì thiếp cũng không dám. Bởi danh không chính, nên ngôn không thuận,


tuy hoàng thượng coi thiếp là vợ chính nhưng người ngoài có chấp nhận như vậy đâu…


Minh Mạng ngắt lời:


- Trẫm hiểu ý nàng rồi. Ý nàng muốn chính thức làm hoàng hậu chứ gì? Hm… Thôi


được, để rồi trẫm sẽ tính.


Hiền tần mừng rỡ.


- Dạ, được như vậy thần thiếp xin cảm tạ ơn sâu. Chứ cứ mãi thế này, thì dù hoàng


thượng có thương thiếp bao nhiêu đi nữa rút cục chết đi thiếp cũng chỉ đi hai tay không, thật


chẳng an lòng nhắm mắt.


Hiền tần vừa nói đến đó thì thái giám đã hô tên công chúa cuối cùng:


- Nguyễn Phúc Ngọc Trinh!


Ngọc Trinh công chúa tiến lên làm lễ.


Minh Mạng ra hiệu cho công chúa dừng lại:


- Công chúa này còn trẻ, xinh đẹp dễ thương lắm. Hoàng muội năm nay mấy tuổi, ở cung


nào?


Ngọc Trinh trả lời lí nhí không ai nghe rõ. Hiền tần thấy vậy, ôn tồn:


- Công chúa hãy bước đến gần, tâu cho hoàng thượng biết niên tuế bao nhiêu, mẫu thân là


ai.


Ngọc Trinh rón rén lại gần, cố gắng nói lớn:


- Tâu hoàng thượng, thần muội năm nay mười bốn tuổi, là con của Quý nhân họ Hồ.


Minh Mạng tỏ vẻ hài lòng:


- Hiền tần, nàng thấy sao? Ta thấy công chúa này thật khả ái, xứng đáng làm dâu quan


Tổng trấn Gia Định thành đó!


Hiền tần phụ họa ngay:


- Dạ, hoàng thượng lựa chọn thật sáng suốt. Đây là con gái út của tiên đế, so với tuổi chú


rể thì tuổi này thật xứng hợp lắm ạ.


***


Trong viện Đoan Trang, một nữ quan luống tuổi đang vừa khơi lò hương, vừa nói với thị


nữ:


- Trầm hương trộn lẫn với hoắc hương, có tác dụng chống độc, trừ tà, cung nhân mới


tuyển trước khi lên chầu hoàng thượng đều phải xông hương để đề phòng uế khí.


Trong màn, người đẹp Lê Thị Ái vừa bước ra khỏi chậu tắm. Thị nữ khoác lên người Ái


tấm áo la nhu mỏng mềm, dìu đến trước lò hương.


- Xin Tài nhân bước qua miệng lò.


Nữ quan cầm khăn mịn chặm mồ hôi lấm tấm trên mặt Ái.


233


Ái lập cập bước qua lò hương, rồi được cung nữ dìu đến quỳ trên một đệm gấm


nhỏ. Một thái giám bước ra, vẻ hết sức nghiêm trang.


- Tài nhân Lê Thị Ái hãy nghe quy chế về ngũ giai trong nội cung:


Quan lại trong triều đình có chín bậc gọi là Cửu phẩm, cung nhân trong nội cung


cũng có chín bậc gọi là Cửu giai.


Cao nhất là Phi, chia làm Đệ nhất giai phi, Đệ nhị Giai phi.


Dưới Phi là Tần, gồm có Đệ tam giai tần, Đệ tứ giai tần.


Dưới Tần là Tiệp dư, gồm Ngũ giai Tiệp dư, Lục giai Tiệp dư.


Dưới Tiệp dư là là Thất giai Quý nhân, Bát giai Mỹ nhân, Cửu giai Tài nhân.


Nay cung nhân Lê Thị Ái vừa vào cung, gọi là Tài nhân vị nhập giai, chưa tính ở


hàng bậc nào trong chín bậc. Sau khi hầu hạ hoàng thượng, sẽ được nhập giai chính thức


làm Tài nhân. Lượng trên như trời biển, có khi xem xét lòng trung, có thể còn ban thêm


ân điển, chưa biết đến mức nào. Vậy hãy cố gắng hết sức phụng sự.


Lê Thị Ái quỳ nghe với vẻ mặt thơ ngây ngơ ngác.


Một tiếng khánh vang lên, hai cung nữ đỡ Ái dậy, dìu qua một hành lang rộng,


đến một nơi thật tráng lệ, sau màn mờ mờ ẩn hiện bóng người đang nằm.


Hai cung nữ khác đứng sẵn hai bên, cùng vén màn lên.


Bên trong, vua Minh Mạng nằm trên nệm gấm, trên người chỉ mặc áo lót lụa


trắng. Một cung nữ đang bóp chân cho Vua. Một cung nữ khác cầm quạt lông cán dài phe


phẩy.


Thái giám hô:


- Lê tài nhân hãy quỳ lạy ra mắt hoàng thượng!


Lê Thị Ái run bần bật tiến lại gần, quỳ mọp dưới chân vua. Chiếc áo mỏng mềm


trễ xuống, khuôn ngực thanh tân lồ lộ.


Minh Mạng đỡ cằm nàng lên nhìn. Thấy cô gái run rẩy, ngài bật cười:


- Sao vậy? Nàng sợ trẫm lắm sao?


Lê Thị Ái cắn môi, muốn khóc.


Minh Mạng đưa tay chạm vào má Ái:


- Nàng có làn da như da trẻ thơ, mịn màng và dịu mát quá!


Thái giám và cung nữ nghe vậy, lập tức cùng nhau lui hết ra ngoài.


Nhà vua dịu giọng, vỗ về:


- Nàng đừng sợ. Nàng nghe người ta bảo hoàng đế nghiêm khắc lắm, sơ suất một


chút là bay đầu phải không? Không phải đâu! Trẫm chỉ khắt khe với bọn loạn thần tặc tử,


còn với người yếu ớt đáng thương thì trẫm luôn khoan dung rộng lượng. Trẫm cho phép


nàng ngồi đây, hãy ngồi xuống đây!


Lê Thị Ái vẫn quỳ, run lật bật chưa dám đứng dậy.


Vua phải đỡ nàng lên, để nàng ngồi trong lòng. Ái mở mắt nhìn vào mặt vua, rồi


sợ hãi nhắm ngay mắt lại như bị mặt trời chiếu rực vào giữa mặt. Nàng chẳng còn nhớ


một chút gì những lời dạy bảo khôn ngoan đã được dạy dỗ từ lúc vào cung.


Nàng nép vào ngực vua, mềm oặt và mịn màng như một con thỏ non…


234


***


Trời đã sáng. Hiền tần ngồi trước gương, đang chăm chăm nhìn kỹ những nếp nhăn nhỏ


bắt đầu xuất hiện trên mặt.


Miên Hoằng mặc võ phục bước vào. Tay Hoằng cầm roi ngựa vụt liên tiếp vào đôi ủng


da, vẻ bực dọc.


Hiền tần thấy vậy, hỏi:


- Hoằng, con làm sao vậy? Con có việc gì không bằng lòng?


Miên Hoằng cáu kỉnh:


- Con gà chọi Bằng Phi của con là số một, cả kinh thành này ai cũng bảo là vô địch. Hôm


qua đá với gà của chú Kiến An, gà của chú ấy còn xa mới sánh kịp với gà của con. Vậy mà thằng


hầu của chú dùng cách ám muội sao đó, khiến con Bằng Phi mù mất một mắt, phải thua. Con


càng nghĩ càng tức lắm, hôm nay phải tìm chú ấy nói cho ra lẽ.


Hiền tần hoảng hốt:


- Chết chết! Sao con lại nông nổi như vậy? Kiến An Công Nguyễn Phúc Đài là con cưng


của thái hậu, đừng làm mất lòng chú ấy không nên đâu!


Miên Hoằng càng tức:


- Ái da, chú Kiến An là con cưng của thái hậu thì con là con cưng của hoàng đế, xem ai


hơn?


Hiền tần kéo tay con trai:


- Thôi đi, con phải nghe lời mẹ, sá gì một con gà nhỏ nhoi mà làm mất lòng người lớn.


Này con, - Bà nhìn quanh rồi nói nhỏ - Phụ hoàng con đã hứa sẽ phong mẹ làm hoàng hậu, nếu


được vậy thì con sẽ là con đích tử của vua. Con phải lo học hành để sau này làm việc lớn, đừng


có ham chơi mà người ta cười chê.


Miên Hoằng sáng mắt lên:


- Thật không mẹ?


Vừa đúng lúc hai thị nữ Khánh Nhi và Hỷ Nhi dắt nhau vào, Hiền tần vội đưa một ngón


tay lên môi, ra hiệu cho Miên Hoằng đừng hỏi.


Khánh Nhi sán tới gần:


- Bẩm lệnh bà, tối hôm qua… - Cô ta dừng lại, đưa mắt nhìn Miên Hoằng.


Hiền tần hiểu ý, bảo con:


- Mẹ sắp phải lên chầu thái hậu, con đi đi. Nhớ nghe, không được gây sự với chú Kiến


An.


Miên Hoằng ra rồi, Khánh Nhi thưa tiếp:


- Bẩm bà, tối qua bên viện Đoan Trang tiến dẫn Tài nhân vị nhập giai là Lê Thị Ái vào


hầu hoàng thượng. Sáng nay nghe đâu hoàng thượng truyền ban thưởng rất hậu, phong Ái làm


Quý nhân, vậy là vượt cấp hai bậc.


Hiền tần vẻ mặt hơi buồn, nhưng chỉ là một vẻ buồn man mác.


Hỷ Nhi thấy vậy cũng hơi yên tâm:


235


- Em nhớ hồi Thục tần vào hầu, lệnh bà buồn khóc đến mấy ngày. Lệnh bà bình tĩnh


được như vậy, chúng em cũng đỡ lo!


Hiền tần thở dài.


- Ta cũng buồn chứ! Nhưng bây giờ thì ta hiểu đời hơn trước nhiều rồi. Đã là tình vợ


chồng thì ai cũng muốn độc tôn độc sủng, nhưng thực tế lòng người đàn ông thường đa mang


lắm lắm. Một làn da đẹp, một câu nói nũng nịu dễ thương, một cái liếc mắt đưa tình cũng đủ làm


cho họ nẩy sinh rung động hứng thú, cho nên mình buồn lắm chỉ tổ thiệt thân, có được gì đâu?


Khánh Nhi an ủi:


- Hoàng thượng thì đúng là đa mang lắm, nhưng dù đi đâu vui chơi với ai rồi cũng về lại


với Hiền tần. Việc gì cũng hỏi Hiền tần, không hỏi ai. Em thấy như vậy cũng vinh dự cho cung


mình lắm.


Hiền tần gượng cười:


- Hoàng thượng thân ái với ta, âu cũng là do hợp căn hợp mệnh, ta nói gì cũng hợp ý


người, mà người làm gì cũng khiến ta ngưỡng phục. Ta biết, ta là người đàn bà số một của


người. Trong lòng một người đàn ông, người đàn bà số một là người có một địa vị đặc biệt. Còn


người số hai, số ba, cho đến số trăm đi nữa, là những người dễ dàng bị thay thế, khi người này đã


lọt vào thì người kia sẽ bị đẩy ra, không còn dấu vết.


Hỷ Nhi cười đắc chí:


- Bà dạy chí phải. Người số hai, tức là Thục tần phải không, giờ đã bị người thứ ba là


Quý nhân Ái đá văng ra khỏi trái tim của hoàng thượng rồi.


Hiền tần mắng:


- Cái con bé này, ai lại ăn nói sống sượng như vậy. À mà các con có nghe bên Tây viện


có động tĩnh gì không?


- Dạ, sáng nay vẫn thấy Thục tần dẫn Ngọc Ngôn và Phúc Quân đi dạo vườn hoa, cả ba


chị em nhà họ đùa giỡn vui vẻ lắm. Con nghe nói Thục tần rất vô tâm, chắc giờ này cũng chưa


biết hoàng thượng sủng ái người mới đâu.


Hiền tần tủm tỉm:


- Có vô tâm cũng đâu phải là gỗ đá, phen này thì cô nàng sẽ biết thế nào là cái thói có


mới, nới cũ của đàn ông! Thôi, ta phải đi chầu thái hậu đây, có tin tức gì mới nhớ báo cho ta biết.


Khi Hiền tần đến cung Từ Thọ, thái hậu đã ngồi đường bệ trên sập. Trước mặt bà, bữa


điểm tâm gồm mười sáu món được bày biện rất đẹp mắt. Các phi tử và mệnh phụ xếp thành ba


hàng quỳ trước sập. Hiền tần và Thục tần quỳ ở hàng đầu, Phạm Thị Hằng quỳ hàng thứ hai. Tất


cả cùng lạy xuống, đồng thanh:


- Chúng thần xin thỉnh an thái hậu. Chúc thái hậu tráng kiện an khang, vạn sự tốt lành.


Thái hậu gật đầu:


- Cho phép các ngươi đứng dậy.


Tất cả đứng thành hai hàng. Cung nữ bưng trà đến, Hiền tần đỡ lấy, quỳ dâng lên thái


hậu.


Thái hậu đỡ lấy chén trà, thong thả nhấp vài ngụm, mặc kệ Hiền tần quỳ mãi, không cho


lệnh bình thân. Bằng một giọng nhấn nhá, chậm rãi, thái hậu truyền bảo:


236


- Hiền tần, đêm qua Tài nhân Lê Thị Ái vào chầu hoàng thượng, nghe nói hoàng thượng


rất ngợi khen! Sáng nay ngài ra lệnh ban phong, ngươi có ý kiến gì không?


Hiền tần quỳ cúi đầu không nói. Thục tần bất ngờ nghe vậy, không giấu được vẻ kinh


ngạc. Vẻ thất thố chỉ thoáng qua một giây trêm mặt Thục tần, nhưng vẫn không lọt qua đôi mắt


sắc sảo của thái hậu.


Bà cười thích chí, càng dài giọng, rỉ rả:


- Theo ta thì con Ái trẻ đẹp, ngoan ngoãn, nay đã lên chức Quý nhân, chắc nay mai nếu


được ơn hoàng thượng thì cũng sớm lên hàng Tiệp dư đó!


Hiền tần vẫn cúi đầu, còn Thục tần từ chỗ ngạc nhiên chuyển sang vẻ lo âu, xao xuyến.


Không nghe ai lên tiếng, thái hậu càng dụng công nhả từng chữ một, như muốn khoét từng nhát


dao vào tâm tư hai bà tần đang phải căng tai lắng nghe.


- Lên Tiệp dư là danh giá rồi! Được gọi bằng bà rồi! Ừ, ta nghĩ phong đến chức đó là đủ


rồi, không nên để lên cao, lên nhanh quá. - Thái hậu đưa mắt lướt trên đầu Thục tần - Trước đây


có người do lên nhanh quá, mới vào cung đã vọt lên tới địa vị Tứ giai tần, nên đâm ra loạn tâm,


tưởng là việc đời dễ dàng, không biết quý cái mình đang có! Hiền tần, ngươi có nghĩ như ta


không?


Hiền tần cố vui vẻ.


- Tâu, thái hậu sáng suốt, đoán xử điều gì cũng đúng ạ!


Thái hậu mát mẻ.


- Ụa, nãy giờ ngươi vẫn còn quỳ sao, đứng dậy đi. Ta sáng suốt thật à? Vậy mà mới đây


có người cho là ta đã già rồi, lú lẫn rồi, tính đem mọi việc trong hoàng gia giao hết cho ngươi.


Hiền tần biến sắc.


- Tâu thái hậu, việc hôn nhân của các công chúa, cũng chỉ vì hoàng thượng muốn cho thái


hậu được thanh nhàn nên mới giao cho thần thiếp. Nhưng thần thiếp thực tình không dám, vì trên


có thái hậu như trời như biển thiếp đâu dám vượt quyền. Kính mong thái hậu đứng ra làm chủ ạ.


Thái hậu cười mũi:


- Được, chuyện đó thật ra cũng là chuyện nhỏ, lẽ ra không phải nói. Ta chỉ e ngươi ỷ


hoàng thượng tin cẩn rồi sinh lòng kiêu mạn, nhưng xem ra ngươi cũng biết điều, thế là tốt rồi.


Thôi, cho lui.


Các phi tần, mệnh phụ lui gót. Thái hậu vừa cầm đũa lên, chợt gọi giật:


- Hằng, lại ta bảo.


Hằng vừa sấp lưng đi, vội quay lại.


- Tâu, thái hậu cho gọi thần.


- Ta dặn ngươi phải đi bộ một ngày mười vòng quanh cung Từ Thọ, sau này cho dễ sinh,


ngươi có nhớ không?


- Dạ, thần theo đúng như lời thái hậu dạy.


- Ngươi phải đi một mình, không được bắt hoàng trưởng tử đi cùng. Hoàng tử phải


chuyên tâm đọc sách, việc chửa đẻ của đàn bà không được động đến. Thêm một lần nghe nói


hoàng tử dẫn ngươi đi là ta sẽ không tha tội đó.


237


Trên đường về, Thục tần đang lủi thủi bước đi, bỗng gặp một cây trà mi bên đường đang


nở hoa. Thục tần đứng lại, đưa tay nâng niu cành lá, vẻ mặt đượm buồn.


Hằng đi qua thấy vậy, khẽ gọi:


- Thục tần! Xin hãy ghé vào chỗ Hằng, dùng chén trà cho khuây khỏa.


Thục tần nắm tay Hằng, bùi ngùi:


- Giống trà mi này do ta đưa vào trồng ở miếu Hồ tần, hồi đó hoàng thượng thường đến


ngắm hoa mới biết đến ta. Nay chẳng biết ai đem trồng ở đây!


Hằng siết chặt bàn tay Thục tần:


- Hoàn cảnh này mà Thục tần vẫn giữ được bình tĩnh, Hằng nể lắm đó.


Thục tần trầm ngâm:


- Hằng ơi, ta cũng buồn chứ. Nhưng từ lâu ta đã biết, trước sau cũng có ngày này. Hoàng


thượng với ta khác nhau như nước với lửa, hoàng thượng thì thích quyền lực với uy vũ, ta thì


thích thơ thích nhạc, ưa sống ung dung tự do như cỏ hoa. Lâu nay sở dĩ người còn sủng ái ta chỉ


vì chưa có ai trẻ đẹp hơn thay thế thôi! Nay người ấy đã tới, thời gian của ta đã hết!


- Thục tần đã nghĩ sâu như vậy, sao còn động tâm, lúc nãy thấy vẻ mặt Thục tần, Hằng


thương quá!


Thục tần thở dài:


- Hằng ơi, ta lo nhất là lo cho Ngọc Ngôn với Phúc Quân. Nếu ta không gần hoàng


thượng, nếu người không quan tâm, làm sao bảo vệ chúng nó đây, bụng dạ Thái hậu thế nào


Hằng cũng biết đó…


Hằng bất giác nhìn lui sau lưng, xem có ai theo dõi không.


- Thục tần đừng quá lo lắng. Dù sao hoàng trưởng tử cũng có thể kêu đến tai hoàng


thượng. Nếu có việc gì bất thường xảy đến, Thục tần nhớ báo cho Hằng biết ngay nha!


Chương 39


Công chúa lấy chồng


Cũng gần một năm sau Tôn Nhân phủ mới sắp xếp được ngày lành tháng tốt để cho nhà


họ Lê dẫn cưới. Ngày vui tới gần, Lê Văn Duyệt cùng vợ con đã quay lại thành Phú Xuân, lo


sắm sửa chuẩn bị đại lễ nghênh hôn.


Trong dinh thự ở kinh thành, phu nhân là Đỗ Thị Phấn ngồi trên sập, tay mở chiếc tráp


lớn, kiểm điểm lại tiền bạc. Bà lẩm bẩm:


- Lấy được công chúa, ai cũng nói là vinh hạnh. Vinh hạnh thì có vinh hạnh thật, nhưng


mà tốn kém quá. Từ trong Nam ra kinh đô rước dâu, đã sắp sẵn hơn năm chục lượng mà vẫn còn


thiếu.


Lê Văn Duyệt nghe vợ rên rẩm như vậy, liền gạt đi:


- Bà đừng có chi li, tốn như vậy chứ tốn nữa tôi cũng không tiếc. Nói thật với bà, có phải


tôi rởm đời, ham cái danh làm sui với vua đâu? Hoàng đế đương kim trước đây theo tôi trong


quân ngũ, tôi coi như học trò nhỏ. Từ bản lĩnh cầm quân đến cách dùng người, đều do tôi rèn


luyện cho. Cho nên làm gì có chuyện tôi phải cầu cạnh kết thân!


238


- Ông đã không coi chuyện này là danh giá, thì sao phải tốn công tốn tiền ra tận kinh đô


rước dâu làm gì?


Lê Văn Duyệt giảng giải:


- Bà ơi, lẽ ra bà phải hiểu lòng tôi mới phải! Cái mà tôi quý trọng vô cùng, đó là lời hứa


ân cần của tiên đế. Lúc ấy mình mới bồng thằng Yên về nuôi, tuổi nó mới lên ba. Nghe nói mình


đã có con nối dõi, ngài liền lo cho nó, hứa gả con gái, lại sợ về sau quên đi nên sai nội thị ghi sổ


đàng hoàng. Cái tình ấy trọng như non, làm sao quên được?


Đỗ Thị Phấn nghe nói cũng động lòng:


- Ông nói bây giờ tôi mới nhớ, tiên đế thật là người chí tình. Tôi với ông thành vợ thành


chồng cũng là nhờ có ơn ngài. Cứ nghĩ tới cái công tác hợp đó, tôi lại cảm kích lắm ông ạ.


Lê Văn Duyệt gật đầu:


- Ừ, hồi đó tôi vốn là thái giám, đâu có dám nghĩ chuyện vợ con. Ngờ đâu tiên đế lo cho


tôi nên đem bà ban cho. Trải hai mươi mấy năm nay, nhờ lấy bà tôi mới có người chăm sóc, có


người thu vén chuyện cửa nhà. Tôi cũng biết lấy tôi là thiệt thòi cho bà lắm!


Đỗ Thị Phấn cười:


- Ông ơi, ông đừng có áy náy hoài chuyện đó! Tôi xuất thân là cung nữ, dù có ở cả đời


trong cung cũng chưa chắc đã gặp được vua, chẳng qua cũng chỉ là sống thừa mà thôi. Run rủi


sao lại sánh duyên với ông, anh hùng xuất chúng, nhờ vậy mà tôi mới được địa vị Nhất phẩm


phu nhân, chăm lo được cho cả họ, vậy cũng an ủi cho tôi nhiều lắm!


Lê Văn Duyệt bùi ngùi:


- Cái nghĩa vua tôi ngày trước là như vậy đấy, vua thương yêu bề tôi, bề tôi xả thân vì


vua. Đâu có phải như bây giờ, làm vua mà đố kỵ với bề tôi, bên ngoài tử tế nhưng bên trong chỉ


rắp tâm chèn ép.


Đỗ Thị Phấn nhìn quanh:


- Ông ơi, xin ông nói nhỏ cho! Muốn nói ngang hãy đợi về Nam rồi nói! Đây là kinh đô,


tai vách mạch rừng. Hơn nữa nhà đang có việc vui, Triều đình lo tiếp rước mình thật là quá chu


đáo, ai lại nói động chạm vậy, không nên đâu.


Lê Văn Duyệt đứng dậy:


- Thôi, bà bà lo sắp đặt lễ nghênh hôn, còn tôi đi thắp nhang cho tiên đế và Thừa Thiên


Cao hoàng hậu đây. Lê Văn Khôi đâu?


Một thủ hạ của Lê Văn Duyệt, trạc ba mươi tuổi, vạm vỡ, hiên ngang bước vào.


- Thưa nghĩa phụ, xe ngựa đang chờ. Con đã sẵn sàng hộ tống nghĩa phụ lên Thiên Thọ


lăng.


Lê Văn Duyệt đi rồi, Đỗ Thị Phấn lúi húi soạn các thứ trang sức bằng vàng, cho vào hộp


khảm xà cừ làm đồ sính lễ. Chợt có tiếng kẹt cửa. Lê Yên, chú rể tương lai bước vào. Sán tới bên


mẹ nuôi, Yên hí hửng:


- Má, vừa rồi mấy bà mệnh phụ vào cung dâng thiệp, về đến đây nói với nhau…


- Nói gì, con kể má nghe coi.


Lê Yên tủm tỉm cười, sung sướng.


239


- Họ nói là công chúa đẹp lắm! May quá, con cứ lo, vì nhiều người bảo là không phải


công chúa nào cũng sáng sủa đâu! Nhiều bà nhan sắc tính điểm ra còn chưa sạch nước cản, lại có


công chúa già khằn, tuổi tác hâm đi hâm lại nhiều lần lắm đó!


Đỗ Thị Phấn nghiêm nghị dạy con:


- Con không nên háo sắc như vậy! Ông bà ta từ xưa đã dạy là Thú thê dụng đức, thú thiếp


dụng sắc. Tức là cưới vợ thì phải dựa trên đức hạnh, cưới hầu thiếp mới cần dựa trên nhan sắc!


Lê Yên nhăn nhó:


- Má ơi, má quên à, theo lệ triều đình, con đã cưới công chúa thì cả đời đâu có được lấy


thêm hầu thiếp. Chẳng may công chúa mà già xấu thì con chỉ có nước suốt đời ôm bà chằn, má


không thấy thảm cho con sao.


Đỗ Thị Phấn bật cười.


- Ái da, thiệt là rỗi hơi lo bò trắng răng. Con phải biết con đâu có phải phò mã tầm


thường. Hoàng tộc gả con cho con trai nối dõi của Đức ông Quốc công Tiết chế Tổng trấn Gia


Định thành, quyền nghiêng thiên hạ, tất nhiên phải lo liệu kỹ càng lắm!


Từ hôm ấy cho tới ngày nghênh hôn phải thêm nửa tuần trăng. Nửa tuần trăng ấy là nửa


tuần trăng hồi hộp nhất trong đời Lê Yên.


Rồi ngày ấy cũng đến.


Công chúa mặc áo đỏ, đội mũ hoa, bước ra khỏi cửa điện, xuống thềm.


Hai mệnh phụ theo hai bên, sau lưng là các tỳ nữ: người dìu công chúa, người cầm quạt,


cầm tráp, tíu tít theo hầu.


Dưới thềm, Lê Yên đứng đợi, trống ngực đập thình thình. Khi công chúa xuống đến nơi,


Lê Yên vén rèm cung kính mời công chúa lên kiệu.


Đoàn rước dâu đi từ điện Hoàng Nhân qua cửa Ngọ Môn.


Hai người lính trẻ mặc áo ngũ sắc xách lồng đèn đi trước, tiếp tới là phường Bát âm vừa


đi vừa tấu nhạc vang lừng. Phò mã cưỡi ngựa bạch đi trước, có hai lính cầm lọng đỏ che đầu.


Kiệu công chúa theo sau, kết hoa lộng lẫy, rồi đến khoảng chục kiệu của họ nhà trai, nhà gái, vẻ


vinh hoa ngời ngời rợp cả một góc kinh thành.


Tiệc khoản đãi ở dinh nhà họ Lê kéo dài ba đợt từ trưa đến chập tối mới ngớt khách. Rồi


đêm xuống, giờ hoa chúc đã điểm.


Trong phòng, công chúa ngồi trên giường gấm. Hai thị nữ thắp đuốc hoa trên vách, đặt


chậu đồng đựng nước ở góc phòng rồi lui ra khỏi bức màn the.


Lê Yên bước vào. Trong lòng hồi hộp, chàng ta run run chắp hai tay thi lễ:


- Công chúa!


Công chúa ngước mắt lên nhìn, chợt cười lên khành khạch. Lê Yên giật mình, dụi mắt


nhìn kỹ. Đúng là công chúa mà.


Công chúa thì chẳng để ý gì đến vẻ ngạc nhiên của phò mã, cất tiếng gọi:


- Chồng ơi, chồng đấy à…


Cười ngỏn ngoẻn làm duyên, công chúa chạy tới trước Lê Yên, đưa tay vuốt má chồng


như kiểu người ta nựng trẻ. Lê Yên mở to mắt, há hốc mồm, chưa biết tính sao thì công chúa đã


háo hức ôm chầm lấy chàng ta.


240


Yên đờ người, vừa ngạc nhiên vừa thích. Luống cuống một lúc, rồi cũng nhờ sẵn thấm


chút hơi men, Yên vật cô dâu mới xuống giường, giật bay hết cả áo xiêm.


Ơn trời, ngoài cái tiếng cười khành khạch chẳng giống ai thì chẳng có gì phải phàn nàn,


quả thật công chúa thật là xinh đẹp.


Ngay sau lễ động phòng, hôm sau cả họ nhà trai đưa công chúa lên đường về Gia Định


thành, đúng theo ngày giờ đã được các quan ở Khâm Thiên giám coi kỹ.


Ai cũng mừng việc hôn nhân của công tử đã hoàn thành tốt đẹp. Chỉ có phu nhân Đỗ thị


cứ băn khoăn trong lòng không an.


- Ông à, tôi thấy lạ quá! Từ hôm về đến nhà, chẳng thấy con dâu đến chào cha mẹ chồng.


Hai đứa chúng nó cứ ru rú ở trong phòng, chẳng hiểu thế nào. Dù là công chúa cũng là con dâu,


lẽ nào đã là con vua thì không cần lễ nghĩa hay sao hở ông.


Lê Văn Duyệt đang đăm chiêu suy nghĩ, nghe vợ nói chỉ trả lời lấy lệ:


- Vậy à, vừa về Nam đã nghe có giặc Sư Kế nổi lên, lâu nay tôi bận việc quân cơ quá nên


quên để ý việc nhà! Chúng nó còn trẻ con, lại mới cưới chắc là còn mải vui đó thôi. Bà là mẹ


chồng thì bà nhắc nhở dạy dỗ chúng nó chứ, sao lại ngồi trách móc suông như thế.


Đỗ thị ngần ngừ:


- Nói thật với ông, dâu mình là bà chúa, tôi cũng không dám nhắc nhở… - Thấy Lê Văn


Khôi đứng cạnh tủm tỉm cười, Đỗ thị hỏi: - Khôi, con cười cái gì?


Lê Văn Khôi trước vốn là một tù trưởng người Mường, khỏe mạnh hơn người, giỏi võ


nghệ lại rất thông minh can đảm. Không chịu được sự hiếp đáp của quan lại người Kinh nên


Khôi nổi lên chống lại. Lê Văn Duyệt đem quân đánh dẹp, bắt được Khôi, thấy có tài mới chiêu


hàng, giữ lại để dùng dưới trướng. Khôi cảm cái ơn ấy nên hết sức trung thành. Duyệt nhận Khôi


làm con nuôi, đi đâu cũng cho Khôi theo hộ vệ.


Tính Khôi ngang tàng, nghĩ gì nói ngay không biết giấu giếm.


- Dạ, nghe nghĩa mẫu nói, con nhớ lại mấy câu vè trong dân gian, nên con cười!


- Vè ra sao, nói ta nghe.


- Dạ, bài vè nói về tình cảnh các nhà quan cưới công chúa làm dâu ấy mà.


- Đọc đi cho ta nghe, sao cứ úp mở hoài, sốt cả ruột! - Đỗ thị giục.


- Dạ, con xin đọc:


… Hay chi thuốc điếu trầu phong,


Dâu con chẳng rước, rước ông rước bà.


Chân giày chân dép vô ra,


241


Kêu dâu cũng lỡ, kêu bà khó kêu.


Đỏng đảnh như tinh đầu đèo,


Dầu thơm thuốc xỉa lại điều soi gương


Chẳng biết kính trọng gia đường,


Ra vào dù võng chẳng nhường mẹ cha…


Lê Văn Duyệt nghe đến đó, ngắt ngang:


- Thôi thôi! Dân gian thường đem chuyện nhà quan chế riễu, cái gì cũng nói quá lên, làm


gì đến nỗi như vậy.


Đỗ thị thì tỏ vẻ tán thành:


- Không có lửa sao có khói, không dưng người ta dựa vào đâu mà dám nói. Tôi cũng rầu


lắm ông à! Có đời thuở nhà ai, rước về cả tháng trời mà con dâu không thèm chào cha mẹ chồng


nửa tiếng. Tôi thắc mắc quá, muốn hỏi mà không dám, sợ e phép triều đình có quy định sao đó


mà mình không biết chăng.


Lê Văn Duyệt xua tay:


- Ái chà, phép triều đình cái gì, đừng có vẽ ma rồi tự nhát mình. Bà muốn hỏi, mà sợ mất


lòng con dâu, thì cứ gọi thằng con mình ra mà hỏi, có chi khó đâu.


- Phải đó, con đi gọi phò mã đến đây cho má.- Đỗ thị quay sang nói với Lê Văn Khôi.


Lát sau, Lê Yên bước vào, mặt mũi bơ phờ. Lê Văn Duyệt nghiêm giọng quở trách:


- Yên, sao về Nam khá lâu rồi mà ngươi không hề đưa vợ đến vấn an cha má. Má ngươi


buồn lắm đó!


Lê Yên đứng đực ra, gãi đầu gãi tai. Đỗ thị thấy vậy, ngọt ngào:


- Có chuyện gì khó khăn, con cứ nói cho cha má biết, sao lại ngậm hột thị như vậy?


Lê Yên vẫn lúng túng, đưa mắt ngượng ngùng nhìn Lê Văn Khôi. Lê Văn Duyệt bảo:


- Ngươi cứ nói! Không có gì phải bí mật cả! Lê Văn Khôi cũng là con nuôi của ta, tuy


không được gánh hương hỏa như ngươi nhưng cũng là tay chân nanh vuốt trong nhà, không có gì


phải ngại.


Lê Yên lí nhí:


- Dạ, con xin nói… Dạ, con bối rối lắm cha má ơi! Giờ không biết làm sao đây…


Nói đến đó, Yên vò đầu, bật khóc.


Lê Văn Duyệt trừng mắt:


242


- Ngươi là con nhà tướng, sao lại khóc hu hu như đàn bà con nít vậy? Có nín đi không?


Đỗ thị thăn thỉ dỗ dành:


- Có phải công chúa cậy mình con vua, đối đãi xấc láo với con không?


Lê Yên lắc đầu:


- Dạ không phải! Cha má ơi, anh Khôi ơi! Khi đến kinh đô con đã thăm dò, nghe nói


công chúa xinh đẹp, con mừng lắm, con đã đi khoe với khắp bà con bạn hữu.


Đỗ thị thắc mắc:


- Vậy thì sao? Bây giờ công chúa hóa ra xấu xí sao?


- Dạ, đâu có, vẫn đẹp lắm. Nhưng mà… khác người ta lắm, không giống ai cả.


Lê Văn Duyệt quát:


- Khác là khác làm sao?


- Kỳ lắm cha má à! Trên đường vào Nam con đã thấy kỳ, mà không dám nói cho ai hay.


Công chúa lớn vậy rồi mà sáng nào cũng đái dầm trong mền, sáng nào con cũng phải tự tay đem


mền ra phơi kẻo sợ người ngoài biết được.


Đỗ thị sửng sốt:


- Đái dầm? Trời đất ơi, chắc là ở trong cung được nuông chiều quá nên sinh ra lười nhác,


không thèm dậy đi tiểu, mặc kệ cho thị tỳ dọn dẹp đây mà.


Lê Yên như được khơi dòng, tâm sự bắt đầu tuôn ra:


- Không phải chỉ có thế đâu, còn nhiều cái kỳ cục lắm, con nghi là…


Lê Văn Duyệt đập bàn:


- Là sao? Nói mau!


- Con nghi là công chúa bị khùng! Vì nói năng cử chỉ chẳng giống ai, cứ khờ khạo như


đứa trẻ lên năm vậy đó.


Lê Văn Khôi giậm chân:


- Trời đất ơi. Biết con gái khùng mà đem gán cho nhà ta? Đức ông của chúng ta, tiếng gọi


là quan tổng trấn, nhưng chẳng khác gì Phó vương một nước. Sao triều đình lại xử sự hỗn láo


như thế được?


Lê Văn Duyệt giận run người:


- Thật ta không ngờ… Không ngờ tên Đảm ấy lại chơi khăm ta một vố đau như thế!


243


Từ ngoài cửa sảnh, Ngọc Ngôn xuất hiện, nhìn quanh một vòng rồi chạy a vào. Cô không


nhìn ai, chỉ ôm cổ Lê Yên, cười lí lắc.


- Chồng ơi, sao đi lâu vậy, em nhớ chồng lắm!


Lê Yên ngượng quá cố gỡ tay công chúa, nhưng nàng cứ cười hì hì bám chặt.


Lê Văn Duyệt vung gươm lên:


- Thật chướng tai gai mắt, có buông con ta ra không?


Ngọc Ngôn mếu máo:


- Cái ông này là ai, sao lại đến đây ăn hiếp em, chồng ơi đánh ông ấy cho em đi…


Thấy thanh gươm loang loáng trước mặt, Đỗ thị chết khiếp, chỉ lo chồng quá nóng chém


nhằm công chúa. Bà vội lao ra lấy thân mình che đỡ cho nàng dâu, miệng van lơn:


- Xin ông bớt nóng, lỡ ra phạm phải con khùng này là cả nhà mang tội chết đó!


Lê Văn Duyệt tức giận gầm lên một tiếng, bỏ ra ngoài.


Lê Văn Khôi lo lắng lật đật bước theo.


Trong đình lục giác phía sau dinh, Lê Văn Duyệt đi lui đi tới, uất giận, dáng như một con


hổ mắc bẫy. Ông nghiến răng, buột thành tiếng:


- Tức quá đi thôi! Ta đã chấp nhận giết Tống Thị Quyên, chịu một vết đen trong sử sách


để tỏ lòng trung thành với ngôi vua. Vậy mà hắn còn chơi ác với ta như vậy!


Lê Văn Khôi thưa:


- Nghĩa phụ, đúng là cây muốn lặng mà gió chẳng ngừng. Nghĩa phụ trải hết lòng thờ nhà


Nguyễn, nhưng người ta đối xử như vậy đó, xem ra trung thành cũng có ích gì đâu?


Lê Văn Duyệt nắm chặt đôi bàn tay:


- Hừm, hắn thấy ta nhượng bộ thì tưởng ta sợ hắn sao! Ta là bậc trượng phu, vẫy vùng


một manh áo trận, vào sinh ra tử bao nhiêu năm, lúc ta lăn lộn chiến trường thì hắn còn vắt mũi


chưa sạch. Nay hắn có phước được thừa hưởng cơ nghiệp, lại làm oai làm phách, coi bề tôi như


cỏ rác. Từ nay ta không thèm về Kinh triều cận nữa, xem hắn làm gì được ta.


Lê Văn Khôi hăm hở:


- Đúng rồi! Theo ý con, binh quyền của nghĩa phụ hiện nay rất lớn, hơn một nửa sức


mạnh cả nước nằm trong tay nghĩa phụ. Miền Nam lại là nơi cung cấp lúa gạo, nếu không có


miền Nam với miền Bắc thì nhà vua chỉ còn trơ khấc miền Trung cằn cỗi, lấy đâu ra lương thực


mà nuôi cái triều đình quan lại ăn bám đó. Ta không cần sợ triều đình, chính triều đình phải sợ ta


mới đúng!


Lê Văn Duyệt gật đầu:


244


- Con nói rất phải! Vì vậy khi tiên đế còn tại vị, người lúc nào cũng coi Tổng trấn Bắc


thành và Tổng trấn Gia Định thành như tay chân ruột thịt. Nếu hai tổng trấn ở hai miền mà trở


mặt thì kinh đô Huế cũng chẳng còn gì, chỉ còn cái mũ miện úp trên cái ngai vàng rỗng tuếch mà


thôi!


Lê Văn Khôi sáng mắt lên:


- Nghĩa phụ! Người nói thật đúng như ý con từ lâu ấp ủ. Ta đã thấy rõ vai trò trọng yếu


của miền Nam và miền Bắc, sao lại không chớp lấy thời cơ để cử đồ đại sự? Nghe đâu Tổng trấn


Lê Chất cũng ngấm ngầm bất mãn từ lâu rồi. Sao ta không cùng ông ấy liên minh, đoạn tuyệt với


triều đình, tạo thế tam phân rồi nhân đó mà mưu đồ vương bá?


Lê Văn Duyệt giật mình:


- Khôi! Con đang nói gì, con có biết không? Con đang xúi giục ta làm phản đó! Ta là


công thần triều Nguyễn, tên ta đã ghi vào trên Hiển Lâm các trong hoàng thành. Cho dù có tức


giận căm hờn đến đâu đi nữa, cũng không thể chịu cái tiếng phản thần được.


Lê Văn Khôi vẫn cố thuyết phục:


- Nghĩa phụ! Chúng ta là trượng phu ở đời, ba thước gươm làm nên sự nghiệp, cần gì


phải đội ai lên đầu, nhất là phải đội lên đầu những kẻ không xứng đáng?


Lê Văn Duyệt lắc đầu:


- Đâu có phải ta cần trung thành với cái kẻ gọi là đương kim hoàng đế đó! Nhưng ta là tôi


trung của nhà Nguyễn, nhà Nguyễn mà ta đã góp phần xương máu để lập nên. Ta mà phản bội


nhà Nguyễn có nghĩa là ta phản bội chính ta. - Ông đanh giọng lại: - Ngươi hiểu chưa? Từ nay


nếu còn nhắc lại cái ý đó trước mặt ta, thì lưỡi gươm này sẽ lấy đầu ngươi đó.


Lê Văn Khôi không dám nói nữa, đành cúi đầu bước ra, nét mặt lầm lì không phục.


Chương 40


Đêm Nguyên tiêu trong hoàng cung


Trong biệt thất của Miên Tông, Hằng đang ngồi trước hiên, trên tay là chiếc áo may cho


trẻ sơ sinh. Cặm cụi, nàng tỉ mỉ đưa từng mũi kim, thêu hình con chim nhỏ trên áo.


Miên Tông ngồi xuống, đặt tay lên bụng Hằng.


- Thằng nhỏ khỏe ghê, nó đang đạp đây này!


Hằng cười:


- Làm sao hoàng tử biết là thằng nhỏ, lỡ ra thiếp sinh con gái thì sao?


- Thì mình cứ tưởng tượng là con trai đi, xưa nay ai chẳng thích sinh con trai. Nàng là


dâu đầu tiên của hoàng tộc, nếu sinh trưởng nam thì theo lệ cũ hoàng cung sẽ ăn mừng ba ngày


đêm đó!


245


Hằng xao xuyến:


- Hoàng tử làm thiếp lo lắng quá, nếu thiếp sinh con gái thì chàng có còn thương


thiếp không?


Miên Tông quàng vai Hằng:


- Nàng nói lạ quá, ta với nàng gian khổ có nhau, đã thề cả đời sống chết với nhau,


sao nàng hỏi ngốc vậy.


- Á, coi chừng kim đâm vào tay thiếp.


Miên Tông trêu:


- Đáng kiếp, ai bảo hỏi vớ vẩn.


- Thì lâu lâu thiếp thử lòng hoàng tử, xem có còn như xưa không ấy mà. Hoàng tử


đã định đặt tên con là gì chưa, còn hai tuần trăng là thiếp nằm cữ rồi đó!


- Ấy, nàng khỏi lo, con mình là con đầu lòng đời thứ ba, thế nào hoàng thượng


cũng đích thân ban danh tính.


Nghe nhắc đến hoàng thượng, Hằng chợt rầu rầu:


- Thiếp nghe nói vừa rồi hoàng thượng quở trách Hiền tần và Thục tần dữ lắm


phải không, có chuyện gì vậy?


Miên Tông gật đầu:


- Hoàng thượng đã chọn công chúa Ngọc Trinh gả cho con trai của Đức ông Lê


Văn Duyệt. Nhưng phút chót thái hậu lại đem Ngọc Ngôn gả thay. Rước dâu rồi, hoàng


thượng mới biết.


Hằng thở dài:


- Chuyện này cũng một phần tại thiếp, cứ nghĩ tới là thiếp rầu lắm, ân hận lắm!


Thiếp đã dặn Thục tần, hễ có chuyện gì khác thường xảy ra với Ngọc Ngôn và Phúc


Quân thì cho thiếp biết ngay, để còn nhờ chàng kêu với hoàng thượng. Chẳng may hôm


Ngọc Ngôn bị đưa đi, thái hậu lại bắt thiếp theo hầu bên mình không cho dời nửa bước.


Thành ra…


- Sao Thục tần không báo sớm với Hiền tần. Ta nghe nói vua giao cho Hiền tần lo


liệu việc này mà.


- Hoàng tử không biết đó! Thiếp trộm nghe phụ hoàng đã hứa phong Hiền tần làm


hoàng hậu. Hiền tần hy vọng lắm, mà muốn việc này thành thì phải làm sao cho thái hậu


thuận ý mới êm. Thành thử Hiền tần đâu dám hó hé. Còn Thục tần, dù muốn báo cho vua


biết cũng không có cách nào, phi tử trong cung, không có lệnh vua vời làm sao dám tự


tiện đến.


Miên Tông tặc lưỡi:


- Thôi, sự đã rồi, việc tệ như vậy mà mấy cụ trong Tôn Nhân phủ lại còn ủng hộ


nữa mới chết chứ. Các cụ bảo cháu gái vụng về dại dột mà lấy được chồng là nhờ công


thái hậu, cứ khen thái hậu tài khéo mãi. Bởi thế nên hoàng thượng cũng chỉ đành quở


trách cho có lệ vậy thôi, lỡ rồi biết làm sao được nữa.


Hằng buồn rầu:


246


- Chỉ thương Ngọc Ngôn khờ dại vụng về, đi làm dâu xa xôi vạn dặm, một thân một mình


biết ra sao? Rồi còn nhà họ Lê rước phải cô dâu ngờ nghệch, họ sẽ nghĩ gì?


Miên Tông thấy Hằng cứ trăn trở mãi, liền khuyên:


- Chuyện tuy không hay, nhưng cũng chẳng còn cách nào cứu vãn Hằng ạ. Nàng phải


thương đứa con trong bụng, nàng buồn hoài sau này con nó yếu lắm đó!


Hằng nghe Miên Tông nói, vội làm ra vẻ tươi cười, xếp kim chỉ lại, cầm tay chồng:


- Hôm nay là lễ Nguyên tiêu, chúng mình đi dạo trong cung một chút, xem người ta treo


đèn đi! À mà quên, thái hậu có dặn Hằng, không được bắt hoàng tử dẫn đi…


Miên Tông đỡ tay vợ, ân cần:


- Nàng đừng sợ, hôm nay thái hậu đi xem hát bên Duyệt Thị đường rồi.


Thấy chồng tỏ vẻ nâng niu, Hằng mỉm cười, chầm chậm bước đi, mặt tươi hẳn lên.


Đâu đấy trong vườn tiếng các cung nữ ríu ran gọi nhau, hòa với tiếng chim anh vũ hót


trong nắng xuân đầm ấm.


***


Đêm xuống.


Đầu giờ Tuất, thái giám bắc thang trèo lên, tắt dần từng ngọn đèn. Một lát sau, những dãy lồng đèn hình bánh ú dưới các mái hiên đã tắt hết. Bóng tối bao trùm cả một vùng nội điện.


Cung nữ đi lại vội vã trên các hành lang, người bưng mâm bánh quả, người cầm tráp, cầm quạt, có các thái giám đi theo bưng giá nến soi đường.


Qúy nhân Lê Thị Ái phục sức diễm lệ đứng trước cửa sổ, thấy đèn đuốc tắt hết, ai nấy chộn rộn, nàng chẳng hiểu chuyện gì xảy ra. Thấy một thái giám đi qua, nàng hỏi:


- Ông Giám ơi, có chuyện gì vậy, tôi có phải làm gì không?


Thái giám cười:


- Chị bảo thị nữ soạn sẵn lồng ấp, khi nào nghe ba hồi trống thì cùng nhau ra chỗ lò lửa lớn trước điện Càn Thành, xin lửa về phòng, rồi mới thắp đèn lên lại.


Lê Thị Ái tò mò:


- Để làm chi vậy ông Giám?


- Đây là lệ cũ trong cung. Đêm Nguyên tiêu, trời đất tốt lành, hoàng thượng ban lửa tức là ban khí dương cho tất cả cung nga thể nữ.


Lê Thị Ái tính còn thơ ngây, nghe vậy thích lắm, liền gọi thị nữ chuẩn bị lồng ấp. Thị nữ trêu:


- Chị vội gì, hoàng thượng đêm nào chẳng đến, cung nào thiếu chứ cung này có thiếu khí dương đâu?


Lê Thị Ái cười bẽn lẽn, đưa tay cầm lồng ấp, vừa đi vừa âu yếm ôm nó trong lòng.


Trước điện Càn Thành, một lò lửa lớn đang cháy hừng hực.


Nhà vua ngồi trên ghế rồng trước cửa điện, quan sát cảnh tượng trước mặt. Dưới sân, cung nga thể nữ lần lượt tiến ra, mang lồng ấp đến bên lò lửa. Hai thái giám trẻ đứng sẵn bên lò, dùng xẻng nhỏ sớt than hồng vào lồng ấp cho họ.


247


Lê Thị Ái từ trong đám đông bước tới, ánh lửa rực rỡ chiếu lên đôi má đỏ hồng.


Tay nàng nâng lồng ấp đưa ra, mặt ngước lên nhìn nhà vua, mỉm cười.


Vua Minh Mạng thấy nàng, lòng vui lâng lâng, cũng mỉm cười đáp lại.


Trung Trực đứng bên vua, nhìn từng đợt, từng đợt cung phi tiến vào rồi lại lui ra,


tâu:


- Tâu hoàng thượng, mấy năm nay thái hậu liên tục cho tuyển gái đẹp, nên mỹ nữ trong cung ngày càng đông. Thời tiên đế chỉ có khoảng hơn trăm bà, nay đã hơn bốn trăm rồi đó.


Minh Mạng rung đùi:


- Thái hậu tuy có cái tính đành hanh khó chịu, nhưng được cái luôn nghĩ đến việc tôn vinh quyền uy của trẫm. Cung tần đông đảo như vậy, thật ra trẫm đâu có dùng hết, phần lớn trẫm đâu có biết mặt mũi ra sao. Nhưng con số đàn bà trong cung nói lên sức mạnh quyền lực của bậc đế chủ. Vua chúa bên Tàu, số mỹ nữ trong cung lên tới hai ngàn, ba ngàn, nay trẫm làm vua nước Nam thời thịnh trị, bốn năm trăm cung nga cũng chưa phải là nhiều.


Trung Trực thấy nhà vua đang vui, nên cũng hứng chí, bạo miệng:


- Dạ, nhưng mà quốc khố phải nuôi số mỹ nhân đông đảo này cũng tốn kém không ít đâu ạ!


Minh Mạng lừ mắt.


- Trung Trực, ngươi học cái thói nói trái tai trẫm từ bao giờ vậy?


Trung Trực vái dài:


- Dạ, hội Nguyên tiêu quá vui, hoàng thượng lại đang thanh thới trong lòng, tiểu thần mừng nên có phần cẩu thả buông tuồng, mong hoàng thượng tha tội.


Trong sân hoàng cung, những ngọn đèn đã được thắp sáng trở lại. Đoàn cung nga đã ai về cung nấy. Dạ yến vừa bày xong, nhà vua cùng Hiền tần, Lê Thị Ái và bốn năm bà khác cùng ngồi dự tiệc.


Một đoàn vũ công tiến ra giữa sân, múa điệu Bát Dật giúp vui.


***


Sáng mai lại, tại cung Từ Thọ, thái hậu gọi Hạnh Nhi, xét hỏi.


- Cái gì? Thục tần không đến lấy lửa à ?


- Tâu đúng vậy, Thục tần không thèm đi lấy lửa, rồi lại còn nói những lời khó


nghe lắm.


Thái hậu tức giận:


- Thực sao? Mau theo ta.


Khi bà đi đến Tây viện, Thục tần đang ngồi trước giá vẽ. Trên giá có vuông lụa


trắng, trên có vẽ một vầng trăng tròn, một đám mây. Thục tần đang dùng bút lông đề thơ bên cạnh.


Cử đầu vọng minh nguyệt, Đê đầu tư cố hương.


Hằng và Phúc Quân đang ngồi bên cạnh. Thục tần giảng giải:


- Hai câu này nghĩa là: “Ngẩng đầu ngắm trăng sáng, cúi đầu nhớ quê hương”. Đây là thơ của Lý Bạch, nhà thơ nổi tiếng thời Thịnh Đường, lúc đi xa ông thương nhớ quê nhà nên làm bài thơ này.


Hằng bồi hồi:


- Đêm qua Nguyên tiêu trăng sáng, Hằng cũng nhớ nhà quá, nhớ cha già lâu rồi không gặp, trong lòng cứ thương mãi.


Phúc Quân đã lên chín, nghe giảng thơ đã hiểu phần nào. Cậu bé nói:


- Chị Ngọc Ngôn bây giờ đi xa lơ xa lắc, chắc chị ấy thấy trăng tròn cũng thương nhớ chúng mình lắm!


Thục tần gượng cười:


- Ừ, mà thôi em ạ, chị lớn thì phải lấy chồng. Lo thì lo thật, nhưng mà - Thục tần nói với Hằng: - Nghĩ lại Ngọc Ngôn đi xa mà hay, ở trong cung này sợ rồi cũng không yên thân đâu!


Đúng lúc ấy, thái hậu đột ngột xuất hiện.


- Thục tần, ngươi nói gì? Ở trong cung này làm sao mà không yên thân?


Thục tần kéo Hằng và Phúc Quân quỳ xuống. Thái hậu đường bệ ngồi xuống ghế giữa.


- Ta đến để hỏi ngươi: Đêm Nguyên tiêu tất cả cung nga đều đến nhận ơn mưa móc của hoàng thượng để cầu cho dương khí sinh sôi. Tại sao ngươi không thèm đến, lại còn buông lời oán vọng?


Thục tần miễn cưỡng thưa:


- Thái hậu trăm tai ngàn mắt, dù chuyện nhỏ trong phòng khuê cũng không thoát khỏi mắt người. Quả thật hôm qua thần không đi lấy lửa, vì thần nghĩ đó là trò vui nhân lễ Nguyên tiêu, không dự cũng không can hại gì. Lòng thần có oán trách ai đâu?


Thái hậu nhướng đôi mày ngài sắc sảo:


- Hay cho ngươi. Ngươi nói ta trăm tai ngàn mắt là ý gì? Có phải ý ngươi xách mé, cho là


ta rình mò dòm ngó các ngươi không? Lại dám bảo lễ ban dương khí của vua chỉ là trò vui nhảm nhí, sao dám hỗn hào như vậy? Phải chăng ngươi cậy có tài có học, tự xem mình là cao siêu nên không coi phép tắc ra gì?


Thục tần biết thái hậu cố ý buộc tội cho mình, dù có biện bạch cũng bằng không, nên lặng im chịu quở.


Hằng còn thật thà, thấy vậy vội thưa:


- Tâu thái hậu, thần xin làm chứng, hôm qua thần ở đây chơi suốt đêm, không hề nghe Thục tần nói điều gì vô lễ. Xin thái hậu mở lòng thông cảm cho Thục tần, vì lâu nay không được hoàng thượng lui tới, trong lòng buồn rầu nên không muốn chứng kiến sự vui vẻ náo nhiệt, chứ không có ý gì khác!


Thái hậu nạt:


- Hằng, ai hỏi ngươi? Ngươi đang mang thai cao quý của hoàng trưởng tử, sao không chịu ở yên dưỡng thai, lại đi đành hanh chúi mũi vào chuyện của người khác? Thục tần! Theo lời


249


chứng vừa rồi của phủ thiếp đây, thì rõ là ngươi oán vọng về chuyện hoàng thượng sủng ái người khác, nên không thèm đến nhận ơn.


Hằng há miệng mắc quai, không ngờ thái hậu bẻ bác lời nói của mình thành như vậy. Bà dài giọng, thuyết giảng:


- Ngươi phải biết người xưa đã dạy, trong mười đức tốt của người vợ, thì đức đầu tiên là không được ghen tuông. Sao lại dám ghen hờn nhỏ nhen như vậy?


Thục tần lạnh nhạt:


- Thái hậu đã quyết gắp lửa bỏ tay, xin người cứ mặc sức mặc lòng nói cho hả dạ.


Thái hậu càng tức:


- À, nhà ngươi dám nói thế ư? Đã quanh co chối tội, lại còn thách thức cả ta. Xưa nay trong cung chưa ai dám thế! Ngươi xuất thân là người của ta, đã vậy càng phải xử phạt thật nặng, để cho ai nấy biết phép tắc nội cung nghiêm minh, không thiên vị ai cả.


Thục tần buông xuôi:


- Thái hậu muốn đánh muốn giết, muốn sao thần cũng xin vâng.


Thái hậu dõng dạc:


- Được! Tổng quản thái giám! Hãy soạn ý chỉ của ta, thỉnh hoàng thượng giáng Thục tần từ bậc Tứ giai tần xuống hạng Quý nhân, vì tội ghen tuông, vô lễ. Đồng thời, soạn ý chỉ phong Quý nhân Lê Thị Ái lên hàng Ngũ giai Tiệp dư.


Bà mỉm một nụ cười lạnh lẽo, nhấn nhá một vài giây, chừng như để cho Thục tần có đủ thời gian thấm đòn. Hít vào một hơi thật sâu, giọng bà thêm sắc nhọn:


- Sau khi hoàng thượng phê chuẩn rồi, thì Nguyễn Thị Bảo không còn ở bậc Tứ giai, nên phải lập tức dời ra khỏi Tây viện, về ở chung với các cung nga mới tuyển. Lê Thị Ái hầu vua chu đáo, đã tỏ lòng trung, sẽ cho thay chân về ở đây, lệnh cho trang trí nơi ở thật rỡ ràng cho xứng với danh hiệu Tiệp dư.


Thái hậu nói rồi lạnh lùng bước đi, Tổng quản thái giám và Hạnh Nhi đi theo.


Thục tần bưng mặt gục xuống.


Hằng chạy đến đỡ Thục tần.


- Thục tần… Xin Thục tần bình tĩnh.


Thục tần nhắm mắt, choáng váng, đưa tay quờ quạng nắm tay Hằng:


- Ta cứ tưởng bà ấy sẽ đánh sẽ giam… Đánh hay giam ta cũng đành lòng chấp nhận. Ai ngờ bà ta nghĩ ra cách làm nhục về tinh thần, thật là độc địa.


Hằng xót xa, tìm cách an ủi:


- Thục tần đừng quá xúc động, dù sao cũng mới là ý chỉ của thái hậu, chắc gì hoàng thượng đã chuẩn y.


Thục tần lắc đầu, nghẹn ngào:


- Ta biết, hoàng thượng sẽ chuẩn y.


Hằng dìu Thục tần ngồi xuống sập.


Bỗng nàng nhăn mặt:


- Ôi…


250


Hằng khuỵu một chân, quỳ xuống. Trong lòng nàng bỗng cơn đau thốn lên. Ôm bụng,


Hằng thều thào:


- Lẽ nào mình chuyển bụng rồi sao…


(xem tiếp Chương 41)

19 Tháng Hai 2024(Xem: 621)
20 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 862)