Trần Mộng Tú: Tuổi Trẻ, Tình Yêu và Chiến Tranh

23 Tháng Mười Hai 20257:46 SA(Xem: 631)

VĂN HÓA ONLINE - VĂN HỌC NGHỆ THUẬT 3 ĐỊA LÝ-XÃ HỘI NHÂN VĂN - THỨ HAI 01 DEC 2025

Trần Mộng Tú: Tuổi Trẻ, Tình Yêu và Chiến Tranh


30/04/2025

https://vietbao.com/p321826a322094/tuoi-tre-tinh-yeu-va-chien-tranh

 

Trần Mộng Tú

 (Ghi lại quãng đường 50 năm di tản)


image003Nhà Thơ Trần Mộng Tú (1976)


Mỗi con người là một đốm lửa nhỏ nhoi, đốt hân hoan và cháy thống khổ. Cha mẹ, anh em ruột thịt, bạn rất thân có yêu thương mình tới đâu cũng không bao giờ thấu hiểu tận cùng cái đốm lửa đó cháy và tàn như thế nào của mỗi phận người. Hạnh phúc và bất hạnh của mỗi người còn nổi trôi theo hoàn cảnh, vận nước, thời cuộc chung của nhân loại.

Cuối cùng, phần đông người ta chỉ có thể dựa vào lòng tin của tín ngưỡng để tự đứng dậy.

 Khi chúng tôi yêu nhau thì anh mới ra Đại Học Sư Phạm được hơn 1 năm và đang đi dạy học thì bị gọi Động Viên-Khóa 3/68 Thủ Đức. Anh xin phép Cha Mẹ tôi cho anh được làm hôn thú trước, ngày tháng cưới tính sau vì sợ vào quân đội rồi, xin phép thành hôn sẽ khó khăn. Cha mẹ tôi bằng lòng. Tháng 6/1968 Ba tôi đi cùng tới văn phòng Tỉnh, cho phép chúng tôi làm hôn thú. Mấy ngày sau anh đi trình diện nhập ngũ, tôi thật sự lo sợ nhưng không biết phản ứng thế nào.

Chiến tranh vẫn vào thành phố mỗi đêm qua hỏa châu cùng tiếng súng và ban ngày là những lệnh nhập ngũ lan rộng ở các công tư sở. Sau cuộc tấn công Tết Mậu Thân của CS vào Huế, những trang báo ngập tràn tin chiến sự, cầm tờ báo lên ngang mặt như ngửi được mùi thuốc súng. Tiếng đại bác đêm đêm vẫn vọng về từ một nơi nào đó và ban ngày thì chiến tranh rải đạn trên những tờ nhật báo. Hàng xóm, người thân, nhà nào cũng có con trai bị gọi nhập ngũ.

 Rồi những tiếng gõ cửa chợt đến vào bất cứ giờ nào trong ngày, mở cửa ra, nhìn thấy một người ăn mặc quần áo nhà binh, mặt mũi thất thần, ngập ngừng báo tin: Người con / người chồng của Bà đã Tử Trận. Tiếng khóc bật lên, cả nhà giao động, người ôm mặt, người ngất xỉu, người chạy đi báo thân nhân…cả khu phố náo loạn… Mang được xác về hay mất xác thì cũng đau đớn ngang nhau.

Chiến tranh đã bước vào nhà mình, vào ngay nhà hàng xóm và đã đổ ập xuống thành phố.

Những tờ nhật báo

mỗi ngày một giống nhau

hôm nay tin địch chết

ngày mai tin ta chết

mẹ già cuối xóm

đi nhận xác con

người vợ trẻ xếp hành trang cho chồng mai đi sớm

tăng thêm quân

tuổi mười tám xếp bút nghiên cầm súng

đào thêm hầm

người chết thiếu chỗ chôn

chung quanh em bỗng thấy

thành phố tắt tiếng cười

chiếc áo em đang mặc mầu xanh

em nhìn thành mầu đỏ

mùi mực in

thành mùi máu tanh hôi

em yếu đuối

em ngơ ngác thất thần

em sợ lắm rồi thây người ngã xuống

 

Không,

không bao giờ em muốn anh đi

 Anh gạt tay em dấn mình vào lửa

mảnh đạn mảnh bom chặn mất đường về

 

Ngày mai mưa nắng anh không biết

lửa hỏa châu

đốt cháy lời thề. (tmt)

 

Cung bị gọi nhập ngũ (Khóa 3/1968) Thủ Đức

 Thời gian Cung huấn luyện quân sự ở Thủ Đức chúng tôi còn thỉnh thoảng được gặp nhau. Có khi cuối tuần, anh đi theo “xe cơm” ở trong trại ra ngoài, về được 1 đêm, sáng sớm hôm sau tìm taxi về trại. Nhà tôi đến Thủ Đức khoảng 30 cây số. Ba, Mẹ tôi thương lắm! Có khi anh về, gặp mưa ướt hết giầy, áo nhà binh, Ba tôi đưa quần áo của mình cho anh thay, Mẹ tôi phải nói chị giúp việc mang quần áo anh vào trong bếp lửa hong cho khô để ngày mai có áo về trại. Anh được một tối ở lại nhà tôi và được cha mẹ và tôi săn sóc, đêm anh ngủ với Ba tôi trên cái sập gụ giữa nhà. Những lần anh về như thế, chúng tôi được ngồi im lặng bên nhau đến khuya, chỉ cầm tay thôi mà muốn khóc… cũng không hiểu tại sao lại muốn khóc.

Nhưng sáng hôm sau anh đi thì tôi khóc thật, khóc âm thầm một mình sau cánh cửa. Không biết tại sao lại khóc có lẽ vì sợ mà khóc thì đúng hơn. Sợ anh đi rồi đi luôn. Cái sợ đó không lâu biến thành sự thật.

Anh ra Thủ Đức bị chuyển tới Chi Khu Trà Bồng. Một địa danh nghe tên mà ngơ ngác.

Tháng 11/1968 Mẹ chồng tôi mang trầu cau, bánh rượu, sang xin làm Đám Hỏi. (Bà không muốn mất cô con dâu mà con Bà đã yêu quý.) Đám Hỏi không có chú Rể, nghĩ cũng buồn, nhưng thời chiến mà, làm sao được.

 Sau đó anh được chỉ thị về đóng ở Kiên Giang (Rạch Giá). Sau Lễ Phục Sinh, tháng 4/1969 anh xin phép về 1 tuần cưới vợ. (Mọi việc đều do Mẹ anh thu xếp). Sau đám cưới, anh trở lại đơn vị, tôi vẫn ở nhà với cha mẹ và gia đình mình, đợi Bộ Giáo Dục cho Cung về đi dạy học lại, mới tính chuyện hai vợ chồng trẻ ra ở riêng.

 Nhưng anh không bao giờ trở lại với tôi nữa, ngày 30/7 anh tử trận ngay lần ra trận đầu tiên ở Xã Vĩnh Thanh Vân- Rạch Giá (Kiên Giang).

Nếu tính ngày: Chúng tôi cưới nhau được 3 tháng và ở với nhau được 2 tuần.

Tôi, Mẹ chồng và người anh ruột của anh cùng đi Kiên Giang đón xác anh về. –

 Nhà xác Kiên Giang nằm cạnh bờ sông /Con nước đục lờ đờ pha sắc máu.

HUYỆT MỘ

 

Không bao giờ em quên

đường ba trăm cây số

em đi nhận xác anh

với trái tim thống khổ

 

Không bao giờ em quên

trại lính nghèo xơ xác

nến thắp trên quan tài

nước mắt em mặn chát

 

Không bao giờ em quên

mẹ già đầu nhuốm bạc

người anh trai đau xót

thương thân mình ngày mai

 

Không bao giờ em quên

mắt môi anh ngày ấy

mắt nhìn em đắm đuối

môi còn ấm tình đầy

 

Không bao giờ em quên

trái tim anh lãng mạn

chỉ một bóng hình em

giờ nhận thêm mảnh đạn

 

Không bao giơ em quên

chiếc quan tài màu vàng

lá cờ ba sọc đỏ

anh nằm im lìm đó

                                   chẳng một lời sau cùng

 

Không bao giờ em quên

nghĩa trang ngày hôm đó

nắm đất vun cuối cùng

anh nằm sâu huyệt mộ.

 

Cung tử trận Ngày 30 Tháng 7- 1969 (1)

 Thời gian cứ trôi, mây vẫn bay và nước sông vẫn chảy. Tôi khóc cười theo vận nước nổi trôi. Tôi sống với tình yêu của hai bên gia đình: gia đình tôi và gia đình anh.

Tôi đi làm với sự thương quý, bao bọc của Hãng Thông Tấn The Associated Press, họ là những người đã yêu thương nâng đỡ tôi từ khi tôi còn độc thân, lấy chồng rồi lại độc thân. AP là một gia đình thứ hai của tôi, những người bạn Việt và Mỹ ai cũng yêu thương và hỗ trợ tôi qua thăng trầm của cuộc sống. Họ chia sẻ giọt nước mắt và tiếng cười với tôi.

Thế rồi Tháng Tư ập tới, một cơn hồng thủy hỗn mang. Gia đình, bè bạn, sở làm… tất cả đều tan tác như chim lạc bầy.   

 Tôi bỏ quê hương ra đi theo sự xếp đặt của AP. Cuống cuồng, hỗn loạn. Tôi cố lo cho đại gia đình mình. Tôi không còn lòng dạ nào nghĩ tới ngôi mộ của Anh nằm cô đơn trong nghĩa trang. Sau này nghĩ lại tôi cũng ân hận mãi là không kịp đến giã từ Anh lần cuối.


Tạ Tình

 

Hãy tha thứ cho em
Không một lời từ tạ
Không nụ hôn cuối cùng
Trên mộ anh bia đá

Hãy tha thứ cho em
Không một lời kinh nguyện
Không một đóa hoa hồng
Không một hàng lệ nến

Hãy tha thứ cho em
Để rêu phong lối cũ
Để mộ chí hoen mờ
Để anh sầu trong mộ

Hãy tha thứ cho em
Một đi không ngoảnh lại
Để sỏi đá mỏi mòn
Để cho anh ngóng đợi

Hãy tha thứ cho em
Núi sông ngàn cách trở
Tình đã phụ tình rồi
Xin đừng mong ngóng nữa.

 

tmt- Tháng 4-1975 (*)

 

Cũng như tất cả những người Việt Nam di tản khác, ai ai cũng mang trong mình những ký ức buồn của kẻ lưu vong. Chúng tôi làm lại đời mình, nhưng làm lại như thế nào cũng không bao giờ quên được ký ức của thời sống trên quê hương mình: Buồn, vui, tiếng cười và nước mắt, vết thương tháng Tư không bao giờ đóng vẩy, không bao giờ khô. Thỉnh thoảng những người tha hương vẫn cúi xuống nhìn vết thương của mình.

 Anh ạ, tháng Tư mềm nắng lụa

Hoa táo, hoa lê nở trắng vườn

Quê nhà biền biệt sau trùng núi

Em mở lòng xem lại vết thương (tmt) 


Vết thương chiến tranh, vết thương di tản dù xảy ra ở bất cứ quốc gia nào, cho bất cứ dân tộc nào cũng là những vết thương khó lành nhất. Mấy chục năm định cư ở xứ người: không bị đói, không bị lạnh, không bị vất vả bản thân, không chạy dưới bom đạn, sao tâm vẫn không thấy hoàn toàn vui, vẫn đau đáu một quê nhà xa lắc, vẫn thấy mất một cái gì quý lắm mà không bao giờ còn lấy lại được và mỗi năm tháng Tư về, thấy mình ngơ ngác đi tìm một cái gì chỉ còn bóng không còn hình.

Để rồi, tất cả như một cuốn phim quay ngược lại thời gian:

Tháng Tư đi vào trong núi

Tìm con ngựa trận năm nào

Yên cương bây giờ mục nát

Hỏi chàng chàng bặt âm hao (tmt)

 Tháng Tư 1975- những con người hốt hoảng chạy từ các thành phố, các tỉnh, đổ về Saigon, rồi lại kéo nhau chạy tứ tán ra bến cảng ra phi trường và chạy bất cứ nơi nào có thể chạy. Những sinh linh đáng thương như những con kiến chạy chung quanh miệng chén, chạy một lúc lại trở về chốn cũ. Con mất cha mẹ, vợ chồng mất nhau, anh chị em thất lạc… Mất tất cả như không còn gì để mất.

Nước mắt, máu và những tiếng súng…. Thành phố thân yêu không còn là thành phố mà giống như một miếng mồi khổng lồ cho báo, cho cọp và cả những con chó già xác sơ ở đâu tới, vào giật xé, chiếm đoạt.

 

Tháng Tư những tướng lãnh Việt Nam Cộng Hòa tuẫn tiết theo thành, đã có những vị chỉ huy, quay súng tự bắn mình… họ không muốn chết dưới tay Cộng Sản Bắc Việt và để cho lính của mình được an tâm di tản với gia đình.

Tháng Tư, các công tư sở, các trường học, bệnh viện, các cửa hàng mua bán lớn nhỏ đóng những cánh cửa thật chặt, nhưng chặt cách mấy cũng bị đập, bị phá vỡ, bị chiếm đoạt… bởi những con người chưa từng được sống trong một “thành phố” thật sự bao giờ. Với những người Cộng Sản miền Bắc từ núi, từ rừng đi ra thì Saigon là một thiên đàng.

Những người quốc gia của Việt Nam Cộng Hòa hơn hai mươi năm trưởng thành xây dựng trong thành phố đó, họ đang bị “giải phóng” bởi những người ở rừng, ở hang đá vừa mới chui ra. Những con người nhìn những cuốn sách toàn chữ là chữ, không ích lợi gì ngoài việc dùng nhóm lửa. 

Thật đáng thương cho một thế hệ không được trưởng thành, được giáo dục bằng đạo đức và bằng tinh hoa của ngôn ngữ.

Những người Quốc Gia bỏ chạy chỉ lo thoát thân, họ không cần đem theo tài sản vật chất vì họ đã có cái vốn văn học, vốn giáo dục 20 năm thẩm thấu vào đời sống họ. Vật chất có mất đi họ có thể kiếm lại. Vốn liếng giáo dục và học vấn không ai lấy ra khỏi được ở con người Quốc Gia.Có mất mát vật chất nhưng không đáng để phải đau lòng. Mất thân nhân, ruột thịt, bạn hữu và mất cả một nền văn hóa tốt đẹp mới đáng kể.

Tháng Tư và những tháng tiếp theo của năm 1975, bao nhiêu người bị bắt, bị nhốt, bị tù đầy, bị đuổi ra khỏi chính căn nhà của họ đã gây dựng từ bao nhiêu năm tháng để rồi chết trong những bìa rừng, trong những cái trại có cái tên hoa mỹ là “Cải Tạo”. Bao nhiêu chiếc thuyền ra cửa biển không phải chỉ một tháng Tư mà những năm tháng kế tiếp đó. Thuyền chìm, thuyền cứ chìm, cứ mất tích, cứ bị hải tặc, người vẫn bỏ đi.

Bỏ đi vì chính quyền Cộng Sản mới đã tước đoạt đến tận cùng những gì thuộc về người Quốc Gia…Người Cộng Sản dùng chữ “Giải Phóng” hoa mỹ thay cho chữ “Chiếm Đoạt” Họ chiếm tất cả nhà cửa, tài sản vật chất của người quốc gia, nhưng họ không bao giờ chiếm được di sản văn hóa đạo đức của Việt Nam Cộng Hòa. Họ không chiếm được vì họ không đủ kiến thức, hiểu biết để chiếm đoạt và hưởng lợi ích.

Tháng Tư 1975 và những năm tháng kế tiếp sau này đã cả triệu người của Việt Nam Cộng Hòa bỏ nước ra đi, hiện sống rải rác trên thế giới. Họ bỏ đi vì không muốn con cháu họ lớn lên trong xã hội Cộng Sản. Họ đi, mang theo cái di sản văn hóa tốt đẹp mà họ đã được hấp thụ truyền xuống con cháu họ ở hải ngoại. Thế hệ nối tiếp đã làm được nhiều điều tốt đẹp trên những quê hương họ di trú. Tháng Tư của 50 năm sau, những bậc phụ huynh một phần đã qua đời theo tuổi tác, những người còn lại không còn trẻ nữa, cúi nhìn xuống đời mình, lòng vẫn nặng tình quê.

Tháng Tư, tôi bỏ nước ra đi dắt theo cha mẹ già và cuốn Chinh Phụ Ngâm, cuốn Kiều trong túi hành trang. Tôi đến Camp Pendleton vào một buổi tối

ngày 21 tháng 4 năm 1975.

 BÀI THƠ VIẾT Ở Pendleton, California

 (Viết tặng những người di tản, ngày đầu đến trại Tỵ Nạn)

 

            Khi tôi đi một mặt trời vừa rụng

            Một kinh thành vừa sụp đổ sau lưng

            Một quê hương vừa thở nhịp cuối cùng

            Một dân tộc vừa ly khai dân tộc

 

             Khi tôi đến mặt trăng xanh vừa mọc

             Từng đoàn người già trẻ níu ôm nhau

             Ai gọi tên ai tiếng nấc nghẹn ngào

             Lều vừa dựng đứng chờ hồn thất lạc

         

             Khi tôi đi một cuộc tình vừa rạn

             Những đóa tường vi gục khóc trong bình

             Nụ hôn đau trao vội vã người tình

             Gói trong aó một cành hoa nước mắt

 

             Khi tôi đến... Ôi! một tôi đổi khác

             Áo khăn người nghe lạ tủi trên thân

             Chăn chiếu người đắp mãi vẫn lạnh căm

             Ly nước ngọt trên môi nghe muối mặn

 

             Khi tôi đi cả dòng sông đứng lặng

             Những vai cầu khuỵu xuống buổi tiễn đưa

             Nón bài thơ thả trên dòng nghinh lũ

             Sóng tang thương nức nở mấy cho vừa.

 

             Ngày 21 Tháng Tư/1975

 

             VIẾT TIẾP SAU 20 NĂM

 

             Hai mươi năm sau mở trang thơ cũ

             Giấy ố vàng... vẫn chẩy một dòng sông

             Tôi úp mặt vào thơ tìm tiếng sóng

             Hồn cỏ lau.  Ôi! bãi nhớ mênh mông

 

            Tháng Tư/1995

 

            VIẾT TIẾP SAU 45 NĂM

 

           Bốn mươi lăm năm nhìn bàn tay mở

           Thời gian trôi vớt được giọt nào không

           Dòng sông nào chẩy hoài trong ký ức

           Cửu Long ơi sao sóng cạn giữa lòng.

 

           Tháng Tư/2020

 

          VIẾT TIẾP VÀO NĂM 50

 

           Sợi tóc nào vừa nhuộm

           Vẫn trắng với thời gian

           Giọt nước mắt nào tan

           Vẫn đầm đìa muối mặn

           Quê hương còn mà mất

           Hận thù vẫn không vơi

           Lá cờ nào xé đôi

           Cũng hai màu vàng đ

           Màu đỏ là của máu

           Màu vàng là của da

 

           Một mai khi nằm xuống

           Cờ nào phủ thịt da

           Một mai khi nhắm mắt

           Ta có xót thương Ta

 

          Tháng Tư /2025

 
Tôi đã đi qua 50 năm ở quê người, mỗi năm đều có 1 Tháng Tư, như vậy là tôi đã cõng trên lưng 50 Tháng Tư. Chao ơi là nặng!

Bao nhiêu giọt lệ bao nhiêu tiếng cười, (Giọt lệ luôn đi trước tiếng cười), bao nhiêu đổi thay trong cuộc sống. Từ độc thân, lập gia đình, có con, có cháu ngoại, cháu nội… Từ môi thắm, má hồng thành da mồi, tóc bạc và buồn hơn nữa là càng nhiều tuổi và không còn bận mưu sinh, càng thấy như mình vẫn chạm tay vào một vết thương không bao giờ đóng vảy.

Cha mẹ và một vài người thân ruột thịt, vài người bạn quý đã qua đời. Thân xác họ nằm trong đất hay lênh đênh trên bọt sóng, tất cả đều để lại tiếng dội trong lồng ngực gày, để khi nào lòng quê chợt động, tôi mang ra tự vỗ về tôi.

Hình như có sống xa quê, người ta mới biết cái tình quê hương nó sâu đậm đến thế nào trong trái tim mình. Nhất là thức giấc vào một đêm tháng Tư thì khó tìm lại được giấc ngủ. Bao nhiêu hình ảnh đau buồn thi nhau kéo về, mình không khóc nhưng sao lòng im ắng thế, như nghe được tiếng thở của đêm và hình như tháng Tư đang khóc.

 Em nằm im lặng nghe đêm thở

Tháng Tư mở đôi mắt trong đêm

Anh ạ, em nghe Tháng Tư khóc

Tháng Tư nhỏ những giọt lệ đen. (tmt)


 
Tôi tự nói với mình: 50 năm rồi đấy, sao mình có thể sống ở ngoài quê hương lâu đến thế nhỉ! Ngày xưa còn nhỏ, cứ nghe thấy người bỏ làng, bỏ quê đi làm ăn xa, họ phải mau mau trở về nguyên quán khi tuổi đời đã cao, họ muốn được sống những ngày cuối đời ở quê nhà, và khi chết, được chôn cất trong làng trong quê mình. Bây giờ mình không chỉ xa quê, xa làng, mình còn xa cả nước. Mình đã rơi vào câu nói: “Sống nơi đất khách/Thác chôn quê người”

Có người bạn nói: “Đây là quê hương thứ hai của mình.” Thật vậy sao!

Tôi chỉ nghe nói Quê Nội, Quê Ngoại, nhưng không có nghĩa là hai tổ quốc, hai quê hương, vì làm sao một con người mà có tới hai quê? Chao ôi! Sao mà khó thế!

50 năm cũng cho tôi nhiều người bạn mới thành những người bạn lâu năm, những người bạn Việt Nam cùng chia xẻ được những ký ức về nguồn cội, về văn chương, văn hóa của quê nhà, để đôi khi cùng nhau ngậm ngùi hay hạnh phúc. Những người bạn khác quốc tịch, khác văn hóa trên mảnh đất Hợp Chủng này đã cho tôi học được rất nhiều điều: từ kiến thức và lòng nhân ái của họ, để thấu hiểu câu: “Cũng nhân tâm ấy há thiên lý nào” (2) của người xưa để lại.

Năm mươi năm đôi khi nghĩ lại giật mình, sao mà dài thế, nhưng đôi khi lại thấy ngắn như một tiếng thở dài.

 Anh ạ tháng Tư sương mỏng lắm

Sao em nhìn mãi chẳng thấy quê

Hay sương thành lệ tra vào mắt

Mờ khuất trong em mọi nẻo về. (tmt)


 Tháng Tư khi nghĩ về quê nhà, nghĩ về một Saigon thân thương với bao nhiêu kỷ niệm đầu đời, từ thuở còn đi học cho đến lúc trưởng thành, nhưng hình ảnh sâu đậm nhất để lại trong tâm vẫn là hình ảnh pho tượng người lính VNCH trước Nghĩa Trang Quân Đội. Người ta có thể kéo pho tương xuống, đập tan tành nhưng không đập được linh hồn của pho tượng đó trong tâm khảm của người quân, dân Việt Nam Cộng Hòa.

 Tháng Tư của 50 năm sau. Chúng tôi, những người sống còn trong cuộc chiến “máu đỏ da vàng” này, luôn luôn kính trọng và ghi ơn những Tướng, Tá, những Người Lính trong hơn 20 năm của VNCH đã vị quốc vong thân, và những quân nhân còn sống sót lưu vong đến ngày hôm nay, họ là những pho tượng không bao giờ vỡ dưới thời gian hay bất cứ bạo lực nào.

 Trần Mộng Tú- Tháng Tư-1975-2025

 (*) Thơ- Tạ Tình- Phạm Anh Dũng phổ nhạc

(1) (Chi tiết chuyến đi đón xác ghi lại ở bài: Bình Thủy 1969)

(2) Gia Huấn Ca.

23 Tháng Ba 2014(Xem: 13201)
Nhân dịp năm Việt-Pháp 2014, tại Paris đang diễn ra cuộc triển lãm ảnh đặc biệt mang tên « Objectif Việt Nam. Ảnh của Trường Viễn Đông Bác cổ ».
06 Tháng Ba 2014(Xem: 13749)
Văn đoàn Độc lập VN được dự kiến là một tổ chức xã hội dân sự độc lập, ái hữu. Một tổ chức xã hội dân sự mới thuộc lĩnh vực văn học với tên gọi ‘Bấm Văn đoàn độc lập Việt Nam’ vừa được tuyên bố vận động thành lập.
23 Tháng Hai 2014(Xem: 14918)
Các cuốn Nhật ký Anne Frank bị xé ở thư viện Shinjuku City Hơn 100 bản in cuốn Nhật ký Anne Frank đã bị xé và phá trong một thư viện công ở Tokyo, Nhật Bản, theo quan chức nước này.
16 Tháng Hai 2014(Xem: 15241)
Đào: một bài hát mang đậm chất Ả Đào (hay Ca Trù) của Âm nhạc truyền thống ở vùng Đồng bằng Bắc Bộ.
26 Tháng Giêng 2014(Xem: 13190)
Triển lãm "Angkor, sự khai sinh của một huyền thoại" tại bảo tàng nghệ thuật châu Á Guimet (DR)
02 Tháng Giêng 2014(Xem: 13228)
Giả như Albert Camus vẫn còn sống, thì hôm 07 tháng Mười Một vừa qua, ông có lẽ đã tròn 100 tuổi. Từng đoạt giải Nobel Văn học năm 1957, thế mà sinh nhật năm nay của đại văn hào diễn ra trong bầu không khí tĩnh lặng, “không trống, không kèn” như nhiều nhà văn lớn khác của Pháp. Kỷ niệm một trăm năm ngày sinh của Albert Camus chỉ gói trọn trong một cuộc triển lãm nhỏ với chủ đề “Albert Camus, công dân thế giới” tại Aix-en-Provence, một thành phố thuộc tỉnh Bouches-du-Rhône, miền nam nước Pháp. Triển lãm kéo dài từ ngày 05/10/2013 cho đến hết ngày 04/01/2014.
26 Tháng Mười Hai 2013(Xem: 13314)
Ngày 28/12/1973, « Quần đảo ngục tù – L’Archipel du Goulag » của nhà văn Nga Alexandre Soljenitsyne, đã được xuất bản tại Paris và được đánh giá là cuốn sách lớn của thế kỷ 20. Tuyển tập về nỗi kinh hoàng dưới chế độ Staline đã làm thay đổi nhãn quan của phương Tây về Liên bang Xô Viết.
12 Tháng Mười Một 2013(Xem: 14523)
Mùng 7 tháng 11 năm 2013 là dịp kỷ niệm ngày sinh lần thứ 100 của nhà văn Albert Camus. Cho dù ông là một trong các nhà văn Pháp được đọc nhiều nhất và được dịch nhiều nhất, tại Pháp không hề có một nghi lễ chính thức nào được cử hành vào dịp này. Với người Pháp, tác giả của « Kẻ xa lạ » tiếp tục gợi nên những quan điểm đối kháng.
24 Tháng Mười 2013(Xem: 13203)
Suốt mấy tuần qua, tin tức về bão lụt miền Trung bị tin về cái chết của tướng Võ Nguyên Giáp đè nén. Các bản tin về bão lụt miền Trung đi tin các tỉnh Quảng Bình, Thừa Thiên- Huế đang đối diện với những cơn lũ quét mạnh mẽ sắp tràn xuống những khu vực hạ nguồn sau khi cơn bão rút đi. Mưa tích nước trên thượng nguồn các con sông lớn sẽ tràn bất ngờ gây lũ quét và đây là nguyên nhân gây thương vong và thiệt hại tài sản lớn cho người dân hơn chính cơn bão trực tiếp gây ra.
21 Tháng Mười 2013(Xem: 15922)
Westminster (Bình Sa)- - Trưa Thứ Bảy, 12 tháng 10 năm 2013, tại nhàng Paracel Seafood Restaurant khoảng 350 quan khách, thân hữu, một số qúy vị đại diện các hội đoàn, đoàn thể, qúy văn thi hữu, các cơ quan truyền thông và đồng hương tham dự buổi ra mắt hai tác phẩm "Phận Người Vân Nước” và “Chuyện Dọc Đừờng" của người lính viết văn Phan Nhật Nam do Nhà xuất bản Sống và Tuần Báo Sống phát hành.
01 Tháng Mười 2013(Xem: 14402)
Đông đảo khán giả đã tới xem các vở kịch của Lưu Quang Vũ được trình diễn từ 09-15/09 nhân kỷ niệm 25 năm ngày mất của ông.
11 Tháng Chín 2013(Xem: 13569)
Nghệ sĩ Vân Ánh chơi trống và hát (Ảnh: Christine Jade)
04 Tháng Bảy 2013(Xem: 16013)
Trong một bài viết: Rồi Mai Đây / Một bài thơ của Tạ Tỵ đăng trên website Newvietart.com / France-ngày 15.12.2009) - không đủ , lại tưởng là đủ?
17 Tháng Sáu 2013(Xem: 14684)
Chân dung Nhà văn Nguyễn Xuân Hoàng. PHOTO: LKT 2003
06 Tháng Sáu 2013(Xem: 14021)
Paris năm nay mùa hè mát như mùa thu, 70 độ, thỉnh thoảng mưa bụi chỉ làm đôi cánh bồ câu hơi ướt như làn sương còn sót lại đêm qua.Thành phố nghìn năm văn vật này, như Trường An của Tàu, Thăng Long của Việt, vẫn đang đào bới tìm tòi, ngay cổng đại học Sorbonne nhà khảo cổ còn khai quật lên dưới lòng đất cột đá dấu tích từ thời La Mã và dòng sông Seine, được vinh danh là dòng sinh mệnh, ligne de vie, của đất Pháp, sóng nước vẫn lào xào quanh chân cầu phơi bóng mặt trời vàng đục buổi chiều sũng mây.
29 Tháng Năm 2013(Xem: 20685)
Còn 24 tiếng đồng hồ nữa liên hoan Cannes công bố bảng vàng. Hôm nay, 25/05/2013, là ngày chiếu hai bộ phim cuối cùng tranh giải Cành cọ vàng. Còn tối nay, ban tổ chức vinh danh thần tượng điện ảnh Pháp Alain Delon, nhân xuất công chiếu phiên bản mới của bộ phim Plein Soleil.
08 Tháng Năm 2013(Xem: 14764)
Tôi trở về Nhà Từ Đường sau 15 năm đi xa. Thật ra con số 15 năm là không đúng. Nó chỉ đúng tính theo ngày tôi bỏ nước ra đi, chứ không đúng tính từ ngày tôi trở lại Nhà. Hồi còn ở trong nước chẳng mấy khi tôi lên ngôi Nhà Chung này.
23 Tháng Tư 2013(Xem: 15400)
21 Tháng Tư 2013(Xem: 18706)
21 Tháng Tư 2013(Xem: 14960)