Số đặc biệt báo Văn Hóa Tết Bính Thân 2016

02 Tháng Hai 20165:24 CH(Xem: 8480)
"BÁO VĂN HÓA-CALIFORNIA" THỨ  TƯ 03 FEB  2016

Hoạ sĩ Rừng vẽ tặng báo Văn Hoá Tết Bính Thân

image004

++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++

Thơ vui

 

Tuổi 60-100

60 chưa phải đã già

60 là tuổi mới qua dậy thì

65 hết tuổi thiếu nhi 
70 là tuổi mới đi vào đời
75 là tuổi ăn chơi
80 là tuổi yêu người yêu hoa 
90 mới bắt đầu già

đêm đêm vẫn cứ mặn mà yêu đương

100 có lệnh Diêm vương
cứ ở trên ấy yêu đương thỏa lòng
bao giời đạn hết lên nòng

từ từ nằm xuống là xong một đời.

Vô danh 

++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++

NĂM Thân MUỐN BIẾT TUỔI

image006

image008

Thuận Hạp & Khắc Kỵ RA SAO?

 

 

(Bính Thân từ 08-02-2016 đến 27-01-2017)

 

 

(Trích dẫn tác phẩm Tử-Vi & Địa-Lý Thực-Hành  của Gs Hàn Lâm Nguyễn-Phú -Thứ)

 

Sau năm Ất Mùi chấm đứt, thì đến năm Bính Thân được bàn giao từ giờ giao thừa bắt đầu giữa đêm chủ nhựt, 17-02-2016 để cầm tinh đến 24 giờ đêm 27-01-2017.Năm Bính Thân này thuộc hành Hỏa và mạng Sơn Hạ-Hỏa, năm này thuộc Dương, có can Bính thuộc mạng Hỏa và có chi Thân thuộc mạng Kim.. Căn cứ theo luật thuận hạp hay khắc kỵ của Ngũ Hành,  thì "mạng Hỏa khắc  mạng Kim " tức năm này "Can khắc Chi " hay nói khác đi Trời khắc Đất. Bởi vì, mạng Hỏa được khắc xuất, mạng Kim bị khắc nhập. Do vậy, năm này xem như là năm xấu nhứt tổng quát, không thể thực hiện gì kết quả như ý. Trường hợp này, giống như những người có : mạng Hỏa gặp năm mạng Thủy - mạng Thủy gặp năm mạng Thổ - mạng Thổ  gặp năm mạng Mộc và mạng Mộc gặp năm mạng Kim. Được biết năm Thân vừa qua là năm Giáp Thân thuộc hành Thủy, nhằm ngày thứ năm, 22-01-2004 đến 08-02-2005.

 

                   Căn cứ theo Niên Lịch Cổ Truyền Á Đông  xuất  hiện  được  minh định  quảng bá  từ năm 61  của  đời Hoàng Đế bên Tàu, bắt đầu năm 2637 trước Công Nguyên, cho nên chúng ta lấy 2637 + 2016 = 4653, rồi đem chia cho 60 năm, thì có kết quả Vận Niên Lục Giáp  thứ  77 và số dư 33 năm bắt buộc rơi vào Vận Niên Lục Giáp thứ 78 bắt đầu từ năm 1984 đến năm 2043. Do vậy, năm Giáp Thân 2016 này là năm thứ 33 của Vận Niên Lục Giáp 78 và năm Thân  kế tiếp sẽ là năm Mậu Thân thuộc hành Thổ, nhằm ngày thứ tư tính từ 26-01-2028 đến 12-02-2029.

 

                   Năm Bính Thân có người thắc mắc, muốn biết năm này tuổi ảnh hưởng như thế nào? Vậy chúng ta thử phân tách năm Bính Thân, thì thấy ba việc phải làm như sau :

 

1.- Đối với Mạng ảnh hưởng như thế nào?

 

Bởi vì, năm Bính Thân thuộc mạng Hỏa cho nên năm này,  sẽ đưa  đến  thuận hạp hay khắc kỵ với mọi người như thế nào?

 

Xin trích dẫn như dưới đây :

 

- Những ngưởi  có tuổi  cùng mạng Hỏa như : Bính Dần (1926 - 1986 ...), Đinh Mão (1927 - 1987 ...), Giáp Tuất (1934 - 1994 ...), Ất Hợi (1935 - 1995 ...), Mậu Tý (1948 - 2008 ...), Kỷ Sửu  (1949 - 2009 ...), Bính Thân (1956 - 2016 ...),  Đinh Dậu (1957 - 2017 ...),  Giáp Thìn (1904 - 1964 ...),  Ất Tỵ (1905 - 1965 ...), Mậu Ngọ (1918 - 2078 ...) và Kỷ Mùi (1919 - 1979 ...).

Xem như tương hòa với năm Bính Thân bởi vì có cùng mạng Hỏa cho nên năm này có đời sống an cư & lạc nghiệp sẽ gia tăng, phát triển về mọi mặt một cách bình thường, vì không bị khắc kỵ. Phàm ở trên đời, nếu có đời sống ổn định bình thường, thì xem như tương sanh tốt đẹp

 

Tuy nhiên, những người có mạng Âm Hỏa như tuổi : Đinh Mão, Ất Hợi, Kỷ Sửu, Đinh Dậu, Ất Tỵ và Kỷ Mùi, thì tốt hơn những người có mạng Dương Hỏa như tuổi : Bính Dần, Giáp Tuất, Mậu Tý, Bính Thân, Giáp Thìn và Mậu Ngọ. Bởi vì, theo luật Dương Âm lần lượt trưởng tiêu, không khác ngọn thủy triều lên xuống hoặc có không rồi không có hay nói khác đi là Sắc Không rồi Không Sắc. Vì thế: "Dương Âm tương ngộ tất ứng" còn "Dương ngộ Dương và Âm ngộ Âm bất ứng". Phương pháp này áp dụng cho tất cả các tuổi, để chúng ta thực hành sau này.

 

- Những người  có tuổi  mạng Thổ như : Canh Tý (1900 - 1960 ...), Tân Sửu (1901 - 1961 ...), Mậu Thân (1908 - 1968 ...), Kỷ Dậu (1909 - 1969 ...), Bính Thìn (1916 - 1976 ...), Đinh Tỵ (1917 - 1977 ...), Canh Ngọ (1930 -1990 ...), Tân Mùi (1931 - 1991 ...), Mậu Dần (1938 - 1998 ...), Kỷ Mão (1939 - 1999 ...), Bính Tuất (1946 - 2006 ...) và Đinh Hợi (1947 - 2007...).

 

Những người có tuổi mạng Thổ gặp năm Bính Thân thuộc mạng Hỏa, theo luật thuận hạp hay khắc kỵ của ngũ hành, thì "mạng Hỏa sanh mạng Thổ ". Bởi vì, mạng Hỏa bị sanh xuất và mạng Thổ  được sanh nhập, cho nên những người có mạng Thổ năm này tổng  quát  rất  tốt,  thuận lợi, tiến triển về mọi mặt  để đưa đến thành công như ý. Trường hợp này, giống như người có : mạng Hỏa gặp năm mạng Mộc - mạng Mộc gặp năm mạng Thủy, mạng Thủy gặp năm mạng Kim và mạng Kim gặp năm mạng Thổ.

 

- Những người  có tuổi mạng Kim như : Giáp Tý (1924 - 1984 ...), Ất Sửu (1925 - 1985 ...), Nhâm Thân (1932 - 1992 ...), Quý Dậu (1933 - 1993 ...), Canh Thìn (1940 - 2000 ...), Tân Tỵ (1941 - 2001 ...), Giáp Ngọ (1954 - 2014 ...), Ất Mùi (1955 - 2015 ...), Nhâm Dần (1962 - 2022 ...),  Quý  Mão  (1963 - 2023 ...), Canh  Tuất  (1910 - 1970 ...) và Tân Hợi ( 1911 - 1971 ...).

 

Những người có tuổi mạng Kim gặp năm Bính Thân thuộc mạng Hỏa, theo luật thuận hạp hay khắc kỵ của ngũ hành, thì "mạng Hỏa khắc mạng Kim". Bởi vì, mạng Hỏa được khắc xuất và mạng Kim bị khắc nhập, cho nên những người có mạng Kim, năm này xấu tổng quát, không thể thực-hiện gì kết quả tốt đẹp. Trường hợp này, giống như những người có : mạng Thổ gặp năm mạng Mộc - mạng Mộc gặp năm mạng Kim - mạng Hoả gặp năm mạng Thủy và mạng Thủy gặp năm mạng Thổ.

 

Những người  có tuổi mạng Mộc như : Mậu Thìn  (1928 - 1988 ...), Kỷ Tỵ (1929 - 1989 ...), Nhâm Ngọ (1942 - 2002 ...), Quý Mùi (1943 - 2003 ...), Canh Dần  (1950 - 2010 ...),Tân Mão (1951 - 2011 ...), Mậu Tuất (1958 - 2018 ...), Kỷ Hợi (1959 - 2019 ...), Nhâm Tý (1912 - 1972 ...), Quý Sửu (1913 - 1973 ...), Canh Thân (1920 - 1980 ...) và Tân Dậu (1921 - 1981 ...).

 

Những người có tuổi thuộc mạng Mộc, gặp năm Bính Thân thuộc mạng Hỏa, theo luật thuận hạp hay khắc kỵ của ngũ hành, thì "mạng Mộc sanh mạng Hỏa ". Bởi vì, mạng Mộc được sanh xuất và mạng Hỏa bị sanh nhập, cho nên năm này tổng quát những người có mạng Mộc mặc dù được tương sanh, nhưng năm này bị sanh xuất xem như bị tiêu hao tổng quát, vì chỉ cho ra mà chẳng thâu được nguồn lợi nào đáng kể và không bằng  những  người  có :  mạng Thổ gặp năm mạng Hỏa - mạng  Hỏa gặp  năm  mạng Mộc - mạng Mộc gặp năm mạng Thủy -  mạng Thủy gặp năm mạng Kim và mạng Kim gặp năm mạng Thổ.

 

- Những người có tuổi mạng Thủy  như : Bính Tý (1936 - 1996 ...), Đinh Sửu (1937 - 1997 ...), Giáp Thân (1944 - 2004 ...), Ất Dậu (1945 - 2005 ...), Nhâm Thìn (1952 - 2012 ...), Quý Tỵ (1953 - 2013 ...), Bính Ngọ (1906 - 1966 ...), Đinh Mùi (1907 - 1967 ...), Giáp Dần (1914 - 1974 ...), Ất Mão (1915 - 1975 ...), Nhâm Tuất (1922 - 1982 ...) và Quý Hợi (1923 - 1983 ...).

 

Những người có tuổi mạng Thủy gặp năm Bính Thân thuộc mạng Hỏa, theo luật thuận hạp hay khắc kỵ của ngũ hành, thì "mạng Thủy khắc mạng Hỏa". Bởi vì, mạng Thủy được khắc xuất và mạng Hỏa bị khắc nhập, cho nên những người có mạng Thủy năm này mặc dù bị khắc kỵ, nhưng tổng quát nó không bị ảnh hưởng xấu nhiều, vì những người đó có mạng khắc kỵ với năm và cũng không có lợi bằng những người có mạng Thủy cùng năm mạng Thủy đã dẫn. Trường hợp này, giống như người có : mạng Thổ gặp năm mạng Thủy - mạng Hỏa gặp năm mạng Kim, mạng Kim gặp năm mạng Mộc và mạng Mộc gặp năm mạng Thổ.

 

2.- Đối với Thiên Can ảnh hưởng như thế nào ? :

 

 Năm Bính gặp can Giáp Ất :

 

Năm này là năm có Can là Bính, thuộc mạng Hỏa và những người có tuổi Can là Giáp Ất thuộc mạng Mộc, theo luật thuận hạp hay khắc kỵ của ngũ hành,  thì "mạng Mộc sanh mạng Hỏa ". Bởi vì, mạng Mộc bị sanh xuất và mạng Hỏa được sanh nhập, cho nên năm này những người có mạng Mộc dù được tương sanh, nhưng bị sanh xuất xem như bị tiêu hao tổng quát, vì chỉ cho ra mà chẳng thâu được nguồn lợi nào đáng kể và không bằng những người có mạng Thổ gặp năm mạng Hỏa cũng được tương sanh, vì "mạng Hỏa sanh mạng Thổ như đã dẫn. Trường hợp này, giống như người có : mạng Thổ gặp năm mạng Kim - mạng Kim gặp năm mạng Thủy -  mạng Thủy gặp năm mạng Mộc và mạng Mộc gặp năm mạng Hỏa.

 

Năm Bính gặp can Bính Đinh :

 

 Năm này là năm có Can là Bính, thuộc mạng Hỏa và những người có tuổi  Can  là  Bính Đinh, thuộc  mạng Hỏa, theo luật thuận hạp hay khắc kỵ của ngũ hành, thì có cùng mạng Hỏa, thì xem như tương hòa, cho nên năm này có đời sống an cư & lạc nghiệp sẽ gia tăng, phát triển về mọi mặt một cách bình thường, vì không bị khắc kỵ. Phàm ở trên đời, nếu có đời sống ổn định bình thường, thì xem như tương sanh tốt đẹp.

 

Năm Bính gặp can Mậu Kỷ :

 

Năm này là năm có Can là Bính, thuộc mạng Hỏa và  những  người  có  tuổi  Can  là  Mậu  Kỷ,  thuộc  mạng Thổ,  theo luật thuận hạp hay khắc kỵ của ngũ hành, thì "mạng Hỏa sanh mạng Thổ  ". Bởi vì, mạng Hỏa bị sanh xuất và mạng Thổ  được sanh nhập, cho nên năm này những người có mạng Thổ  xem như tổng quát rất tốt, thuận lợi, tiến triển về mọi mặt để đưa đến thành công như ý. Trường hợp này, giống như những người có : mạng Hỏa gặp năm mạng Mộc - mạng Mộc gặp năm mạng Thủy - mạng Thủy gặp năm mạng Kim và mạng Thổ gặp năm mạng Hỏa.

 

Năm Bính gặp can Canh Tân :

 

Năm này là năm có Can là Bính, thuộc mạng Hỏa và những người có tuổi Can là Canh Tân thuộc mạng  Kim, theo luật thuận hạp  hay khắc  kỵ  của  ngũ  hành, thì "mạng Hỏa khắc mạng Kim ".Bởi vì, mạng Hỏa được khắc xuất và mạng Kim bị khắc nhập, cho nên năm này những người có mạng Kim, xem như là năm xấu tổng quát, không thể thực hiện gì kết quả như ý. Trường hợp này, giống như những người có : mạng Hỏa gặp năm mạng Thủy -  mạng Thổ gặp năm mạng Mộc - mạng Mộc gặp năm mạng Kim và mạng  Kim gặp năm mạng Hỏa.

 

Năm Bính gặp can Nhâm Quý :

 

Năm này là năm có Can là Bính, thuộc mạng Hỏa và những người có tuổi Can là Nhâm Quý thuộc mạng Thủy,  theo luật thuận  hạp  hay khắc  kỵ  của  ngũ  hành, thì "mạng Thủy khắc mạng Hỏa ".Bởi vì, mạng Thủy được khắc xuất và mạng Hỏa bị khắc nhập, cho nên năm này những người có mạng Thủy dù bị tương khắc, nhưng tổng quát nó không bị ảnh hưởng xấu nhiều, vì những người đó có mạng khắc kỵ với năm và cũng không có lợi bằng những người có mạng Thủy cùng năm mạng Thủy đã dẫn. Trường hợp này, giống như người có : mạng Thổ gặp năm mạng Thủy - mạng Hỏa gặp năm mạng Kim, mạng Kim gặp năm mạng Mộc và mạng Mộc gặp năm mạng Thổ.

 

 

3.- Đối với Địa Chi ảnh hưởng như thế nào?

 

Năm Thân gặp Chi Hợi Tý :

 

 Năm này có Chi là Thân thuộc mạng Kim, những người có Địa Chi Hợi và Tý thuộc mạng Thủy, theo luật thuận hạp hay khắc kỵ của  ngũ  hành, thì "mạng Kim sanh  mạng Thủy ". Bởi vì, mạng Kim bị sanh xuất và mạng Thủy được sanh nhập, cho nên năm này những người có mạng Thủy xem như tổng quát rất tốt, thuận lợi, tiến triển về mọi mặt để đưa đến thành công như ý. Trường hợp này, giống như những người có : mạng Kim gặp năm mạng Thổ - mạng Thổ gặp năm mạng Hỏa - mạng Hỏa gặp năm mạng Mộc và mạng Mộc  gặp năm mạng Thủy.

 

Năm Thân gặp Chi Thìn Tuất Sửu Mùi :

 

 Năm này có Chi là Thân thuộc mạng Kim,  những người có Địa Chi Thìn Tuất Sửu và Mùi tức Tứ Mộ thuộc mạng Thổ, theo luật thuận hạp hay khắc kỵ của ngũ hành, thì "mạng Thổ sanh mạng Kim  ". Bởi vì, mạng Thổ  bị sanh xuất và mạng Kim được sanh nhập, cho nên năm này những người có mạng Thổ, dù được tương sanh, nhưng bị sanh xuất xem như bị tiêu hao tổng quát, vì chỉ cho ra mà chẳng thâu được nguồn lợi nào đáng kể và không bằng những người có mạng Kim gặp năm mạng Thổ cũng được tương sanh, vì "mạng Thổ sanh mạng Kim như đã dẫn. Trường hợp này, giống như người có : mạng Thủy gặp năm mạng Mộc - mạng Mộc gặp năm mạng Hỏa -  mạng Hỏa gặp năm mạng Thổ -  mạng Thổ gặp năm mạng Kim.

 

Năm Thân gặp Chi Dần Mão :

 

Năm này có Chi là Thân thuộc mạng Kim,  những người có Địa Chi Dần và Mão thuộc mạng Mộc, theo luật thuận hạp hay khắc kỵ của ngũ hành, thì "mạng Kim khắc mạng Mộc ". Bởi vì, mạng Kim được khắc xuất và mạng Mộc bị khắc nhập, cho nên năm này những người có mạng Mộc, xem như là năm xấu tổng quát, không thể thực hiện gì kết quả như ý. Trường hợp này, giống như những người có : mạng  Kim gặp năm mạng Hỏa - mạng Hỏa gặp năm mạng Thủy -  mạng Thủy gặp năm mạng Thổ và mạng Thổ gặp năm mạng Mộc.

 

 

Năm Thân gặp Chi Tỵ Ngo :

 

Năm này có Chi là Thân thuộc mạng Kim,  những người có Địa Chi Tỵ và Ngọ thuộc mạng Hỏa, theo luật thuận hạp hay khắc kỵ của ngũ hành, thì "mạng Hỏa khắc mạng Kim". Bởi vì, mạng Hỏa được khắc xuất và mạng Kim bị khắc nhập, cho nên năm này những người có mạng Kim dù bị tương khắc, nhưng tổng quát nó không bị ảnh hưởng xấu nhiều, vì những người đó có mạng khắc kỵ với năm và cũng không có lợi bằng những người có mạng Hỏa cùng năm mạng Hỏa đã dẫn. Trường hợp này, giống như người có : mạng Kim gặp năm mạng Mộc - mạng Mộc gặp năm mạng Thổ - mạng Thổ gặp năm mạng Thủy và  mạng Thủy gặp năm mạng Hỏa.

 

Năm Thân gặp Chi Thân Dậu :

 

Năm này có Chi là Thân thuộc mạng Kim, những người có Địa Chi Thân và Dậu thuộc mạng Kim, thì có cùng mạng Kim, thì xem như tương hòa, cho nên năm này có đời sống an cư & lạc nghiệp sẽ gia tăng, phát triển về mọi mặt một cách bình thường, vì không bị khắc kỵ. Phàm ở trên đời, nếu có đời sống ổn định bình thường, thì xem như tương sanh tốt đẹp.

 

Để tạm kết thúc bài này, tôi xin kính chúc tất cả quý bà con đồng hương bước sang năm mới Bính Thân được : An Khang Thịnh Đạt - Công Thành Danh Toại - Tâm Thân Thường Lạc và Phúc Thọ Khương Ninh.

 

Hàn Lâm NGUYỄN PHÚ THỨ

Mừng Xuân Bính Thân 2016

 

 

+++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++

 

Chọn Tuổi Xông Nhà (Xông Đất), Xuất Hành, Khai Trương Đầu Năm

Theo phong tục cổ truyền Tết Nguyên Đán bắt đầu từ giao thừa. Nên ông bà thường khuyn con chu kể từ giờ pht ny nn vui vẻ với nhau, khơng nn ci cọ, khơng lm vỡ chn bt.

Còn ông bà, cha mẹ lo lễ cúng giao thừa, là lễ cúng đưa tiễn các vị hành khiến năm cũ và đón rước các vị hành khiến năm mới ở ngoài sân, và trong nhà thì cúng ông bà tổ tiên…

Sau đó là cùng nhau ăn uống vui vẻ, chúc Tết lẫn nhau, kể cả lì xì đầu năm cho nhau để chúc may mắn cho từng thành viên trong gia đình.

Sáng mùng một Tết thì các thư sinh chọn giờ Hoàng đạo để khai bút đầu năm với văn hay chữ tốt để lấy hên đầu năm, hoặc cùng cả nhà chờ đón vị khách đầu tiên đến xông đất, xông nhà.

Vị khách đặc biệt này có thể là ngẫu nhiên, có thể là đã được gia đình “chọn trước Tết” , để sáng sớm mùng một là phải đến xông đất, xông nhà. Nếu không, có vị khách khác đến xông đất trước là bị chủ nhà quở trách là xúi quẩy cả năm

Thông thường vị khách này đã được chọn tuổi hợp với chủ nhà như sau:

1- Chủ nhà tuổi Tý : Thì chọn người tuổi Thân, Thìn (Tam hợp), Tuổi Sửu (Nhị hợp).

2- Chủ nhà tuổi Sửu : Thì chọn tuổi Tỵ, Dậu, Tý.

3- Chủ nhà tuổi Dần : Thì chọn tuổi Ngọ, Tuất, Hợi.

4- Chủ nhà tuổi Mẹo : Thì chọn tuổi Mùi, Hợi, Tuất.

5- Chủ nhà tuổi Thìn : Thì chọn tuổi Tý, Thân, Dậu.

6- Chủ nhà tuổi Tỵ : Thì chọn tuổi Sửu, Dậu, Thân.

7- Chủ nhà tuổi Ngọ : Thì chọn tuổi Dần, Tuất, Mùi.

8- Chủ nhà tuổi Mùi : Thì chọn tuổi Mẹo, Hợi, Ngọ.

9- Chủ nhà tuổi Thân : Thì chọn tuổi Tý, Thìn, Tỵ.

10- Chủ nhà tuổi Dậu : Thì chọn tuổi Sửu, Tỵ, Thìn.

11- Chủ nhà tuổi Tuất : Thì chọn tuổi Dần, Ngọ, Mẹo.

12- Chủ nhà tuổi Hợi : Thì chọn tuổi Mẹo, Mùi, Dần.

Hoặc cách chọn tuổi xơng nhà theo Thiên Can như sau:

1. Tuổi Giáp hạp với Kỷ mà kỵ với Canh.

2. Tuổi Ất hạp với Canh mà kỵ với Tân.

3. Tuổi Bính hạp với Tân mà kỵ với Nhâm.

4. Tuổi Đinh hạp với Nhâm mà kỵ với Quý.

5. Tuổi Mậu hạp với Quý mà kỵ với Giáp.

6. Tuổi Kỷ hạp với Giáp mà kỵ với Ất.

7. Tuổi Canh hạp với Ất mà kỵ với Bính.

8. Tuổi Tân hạp với Bính mà kỵ với Đinh.

9. Tuổi Nhâm hạp với Đinh mà kỵ với Mậu.

10. Tuổi Quý hạp với Mậu mà kỵ với Kỷ.

(Nếu chọn được Thiên Can hạp và Tuổi hạp lại càng thêm tốt. Nếu chọn Thiên Can hạp, nhưng lưu ý Tuổi xung: Tý-Ngọ xung, Mẹo-Dậu xung, Thìn-Tuất xung, Sửu-Mùi xung, Dần-Thân xung, Tỵ-Hợi xung, thì cũng nên tránh).

Hoặc chọn theo mệnh:

Chủ nhà mệnh Kim nên chọn người mệnh Thổ, Thuỷ, Kim.

Chủ nhà mệnh Mộc nên chọn người mệnh Thuỷ, Hoả, Mộc.

Chủ nhà mệnh Thuỷ nên chọn người mệnh Kim, Mộc, Thuỷ.

Chủ nhà mệnh Hoả nên chọn người mệnh Mộc, Thổ, Hoả.

Chủ nhà mệnh Thổ nên chọn người mệnh Hoả, Kim, Thổ.

(Nếu chọn được mệnh hạp, nhưng lưu ý Tuổi xung: Tý-Ngọ xung, Mẹo-Dậu xung, Thìn-Tuất xung, Sửu-Mùi xung, Dần-Thân xung, Tỵ-Hợi xung, thì cũng nên tránh).

Hoặc chọn theo trạch lưu niên:

Năm nay người 19-28-37-46-55-64-73 được trạch Phúc, tốt

Năm nay người 20-29-38-47-56-65-74 được trạch Đức, tốt

Năm nay người 17-26-35-44-53-62-71 đượctrạch Bảo, tốt

Năm nay người 18-27-36-45-54-63-72 được trạch Lộc, tốt

Những tuổi còn lại là trạch : Bại, Hư, Khốc, Quỷ, Tử đều xấu.

(Nếu chọn được người có tuổi trạch tốt, nhưng lưu ý Tuổi xung: Tý-Ngọ xung, Mẹo-Dậu xung, Thìn-Tuất xung, Sửu-Mùi xung, Dần-Thân xung, Tỵ-Hợi xung, thì cũng nên tránh).

Tuy nhiên không phải lúc nào gia chủ cũng nhờ được người hợp tuổi với mình đến để xông đất, nên đa số gia chủ áp dụng kinh nghiệm dân gian là chọn người tốt vía hay còn gọi là nhẹ vía, có nghĩa là người đó trong cuộc sống có tính tình dể chịu, vui vẻ, nhiệt tình may mắn v.v…đến xông đất vào sáng sớm mùng một Tết.

Tất nhiên vị khách được “Đặt cọc” này phải chuẩn bị phong bao màu đỏ để đến xông đất và “nhập tài” cho gia chủ, để gia chủ lấy hên đầu năm mới. Và gia chủ sau đó phải đáp lễ với vị khách này cũng như vậy và cùng chúc nhau những điều tốt đẹp…

Xuất hành

Việc xuất hành đầu năm mới đã trở thành phong tục cổ truyền từ lâu đời với mong muốn một năm mới làm ăn phát đạt và gặp nhiều may mắn.

Giờ v  Hướng xuất hành: Thông thường ngy mồng một Tết mọi người thường chọn giờ và hướng xuất hnh.

Giờ hoàng đạo: Mọi người thường chọn giờ Hoàng đạo vào lúc sớm để xuất hành. Để sau đó người ta còn phải đi nhiều việc khác như lễ chùa, thắp hương nhà thờ tộc, trực cơ quan…

Hướng xuất hành: Có hai hướng là hướng Tài Thần và Hỉ Thần. Nhưng người ta vẫn thích xuất hành về hướng Hỉ Thần, là vị Thần mang lại nhiều may mắn và niềm vui. Còn hướng Tài Thần người ta ít thích với lý do là chỉ có tài lộc mà thôi.

(Hướng xuất hành: Là hướng được tính theo đường chim bay, so với nhà ở).

Hái lộc: Hái lộc là đến vị trí nơi mình xuất hành, dừng lại thầm khấn trong miệng tên tuổi và xin Thần Mộc cái lộc đầu năm để cả năm làm ăn thuận lợi. Sau khi khấn xong thì bẻ một nhánh nhỏ có chồi non (chứ không phải ào ạt bẻ sạch nhành lá như ta thường thấy xảy ra ở các công viên một cách vô ý thức…)

 

++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++

 

Mùa Xuân nói chuyện Khỉ

                                    Khi nào cho vượn lià cành

                                    Cho chim lià tổ, thiếp hoạ may lià chàng

                                                                                                Ca dao

image010Trong 12 con giáp, khỉ đứng hạng thứ 9 của 12 con vật trong Thập Nhị Địa Chi. Giống Khỉ thuộc loài có vú, sanh con, thường sống từng đoàn ở trong rừng, ưa nhảy nhót, đu chuyền từ cây này sang cây khác, thông minh hơn các thú vật khác,  thường bắt chước các hoạt động của con người. Học thuyết tiến hoá của Charles Darwin, gây ra nhiều cuộc bút chiến sôi nỗi đối với những nhà thần học và tôn giáo, vì ông ta cho rằng khỉ (Vượn) là thuỷ tổ của loài người. Năm 2016 là năm Bính Thân, chúng ta cùng tìm hiểu về đời sống của khỉ 

Khỉ có tên trong Khoa học 

Giới (regnum) Animalia

Ngành (phylum) Chordata

Lớp (class) Mammalia

Bộ (ordo) Primates

Họ (familia) Cercopithecidae

Chi (genus)      Macaca

Khỉ sống từng vùng khác nhau trên thế giới, bởi vậy đời sống tập tính có nhiều điểm khác biệt. Có loại khỉ ăn thịt cá, ăn mối, ăn trái cây, lá, vỏ cây… Hình dáng lớn nhỏ màu lông khác nhau:

Khỉ đuôi dài (Macaca nemestia) sống ở Đông Nam Á. Tùy theo loài, chiều dài con trưởng thành từ 38–55 cm với tay và chân ngắn. Đuôi dài hơn thân với chiều dài từ 40–65 cm. Con đực lớn hơn con cái, nặng từ 5–6 kg so với con cái nặng từ 3–6 kg.

Khỉ đuôi lợn (Macaca nemestrina), trọng lượng khoảng 14 kg. Bộ lông màu vàng nhạt, đỉnh đầu có đám lông đen, đuôi giống đuôi lợn.

Khỉ Mốc (Macaca fascicularis) dài 50 cm đến 73 cm với đuôi dài 19 cm đến 38 cm. Con đực nặng 10 kg đến 14,5 kg, con cái nặng 8 kg đến 12 kg. Thức ăn của khỉ mốc là trái cây, lá, ngũ cốc và một số động vật không xương sống.

Khỉ mặt đỏ (Macaca arctoides) có màu lông sẫm pha đỏ, nâu hoặc đen ở phần trên của cơ thể. Chúng có mặt đỏ và đuôi gần như không có.

Khỉ mặt vàng (Macaca mulatta) có thân màu nâu, phần mông, hai bên hông và đùi màu nâu đỏ.

Khỉ voọc xám (Presbytis pheyrei crepusculus) lưng có màu sẫm, thân trước và tay có màu xám bạc, chân màu đen, mặt màu xanh, xung quanh mắt có viền tròn mầu kem, trán có mầu xám đen và đuôi trắng.

Vượn trắng (Nomascus leucogenys). Tất cả các loài vượn đều có tay dài hơn chân và không có đuôi. Vượn cái và vượn con có màu nâu vàng, hoặc xám vàng. Vượn đực toàn thân màu đen.

Đười ươi (Orang Utang) Đười ươi (Pongo pygmacu), Khỉ muôn (Chimpanzee), những con tinh tinh (Pan troglodytes) Khỉ lùn (Bonobo) Khỉ đột mõ dài (Pavian) ...

image012

Có 22 loài khỉ đuôi dài, trong đó một số được sử dụng thường xuyên trong các thí nghiệm khoa học. Chúng là một trong những động vật linh trưởng được giới khoa học quan tâm bởi trí thông minh và khả năng thích nghi với môi trường sống. Khỉ thích quay trở lại những cây quen thuộc nơi chúng từng tìm thấy hoa quả, bầy khỉ  thích tìm thức ăn khi thời tiết nắng ấm áp hơn là lúc trời đầy mây và lạnh giá. Tiết trời ấm và sự kết hợp của bức xạ mặt trời làm chín muồi của trái cây cũng như sự tăng trưởng của các ấu trùng sống ẩn trong một số loại quả, món ăn mà Khỉ rất ưa chuộng. Mỗi khi phát hiện thức ăn, khỉ luôn thông báo cho đồng loại bằng những tiếng kêu đặc trưng.

Khỉ đột và Tinh Tinh, dù ở trong rừng rậm được các nhà Động vật học quây phim chiếu lại trong các chương trình Tivi về đời sống của chúng. Phần lớn khỉ ăn trái cây và lá cũng như ăn các động vật nhỏ. Tinh Tinh có nhóm máu và gen cũng trùng hợp với chúng ta, là loại thông minh biết dùng vũ khí như đá, cây để chống lại kẻ thù, biết dùng đá để đập những loại hạt có vỏ cứng như hạt dẻ để ăn, biết dùng lông chim để ráy tai, dùng những cọng hoặc cành cây để xiả răng. Để tránh khát nước biết nhai những lá cây nát làm thành „miếng xốp“ nhúng vào nước rồi vắt vào miệng để uống, biết dùng cành cây làm cần câu để móc mồi từ những ổ mối lớn để ăn. Tinh tinh được huấn luyện để mặc áo quảng cáo, đeo kính mát và làm tài tử đóng phim như trong phim Tarzan. Tinh tinh cao chừng 170 cm con lùn 90 cm, trọng lượng nặng khác nhau từ 45 kg đến 60 kg, thời gian thụ thai từ 225 ngày đến 240 ngày. Khỉ con bú sửa mẹ 2 đến 4 năm. Tinh tinh mẹ rất yêu thương và chăm sóc con nhỏ đi đâu cũng mang con con bên cạnh. Tuổi thọ khoảng 40 năm

King Kong thời đại

image014

Phim (Film) King Kong làm cho nhiều người say mê, người dựng phim cho con khỉ Gorin là giống tàn bạo vì sức lực phi thường của nó. Những bộ phim King Kong diễn tả con khỉ Gorin này chuyên khủng bố tàn phá nhà cửa. Đó là xảo thuật dàn dựng tưởng tượng, nhưng thật sự con khỉ Gorin sống dịu dàng điềm đạm thân thiện. Bà Diana Fossy từng sống giữa bầy Gorin chưa bao giờ bị chúng tấn công. Khi gặp người lạ chúng thường đứng thẳng trên hai chân sau, hai chân trước (2 tay) đập vào ngực nó và phát ra tiếng rống thật to để đe dọa đối phương. Khỉ Gorin cố gắng tránh các cuộc ẩu đả và chỉ giương oai, giểu võ thôi, Chúng thường chạy lướt qua nhau nhổ bật rể các cây con để thị uy. Gorin loại khỉ đột nầy cao 1,80 m; nặng 180 Kilô hoặc nhiều hơn (nhưng những con sống ở bờ biển lông ngắn màu nâu không to lớn bằng những giống ở rừng) mỗi ngày 3 giờ tìm thức ăn, 4 giờ để ăn, thì giờ còn lại vui chơi hay ngủ. Khỉ đực Gorin nặng tới 275 kg con cái nặng 100kg thời gian mang thai 251 đến 289 ngày, sanh con con nặng 2 kg. Tuổi thọ 60 tuổi. Gorin chỉ ăn thảo mộc, măng, rễ, bẹ non, trái và lá cây. Gorilla sống ở những khu rừng nhiệt đới và cận nhiệt đới của Châu Phi. Hai loài Gorilla hiện nay là Gorilla núi rất quý hiếm sống trong rừng trên núi Albertine Rift cao 2225 đến 4267 m, thuộc dãy Virunga phía đông Châu Phi.

Loài thứ 2 là Gorilla đồng bằng sống tại những khu rừng rậm rạp, đầm lầy và các vùng ngập nước xấp xỉ mực nước biển. Thức ăn của chúng là các loại thực vật như cây mọng nước, chồi non... Gorilla thường sống trong rừng rậm, nơi có nhiều cây cối và đó là nguồn thực phẩm quan trọng của chúng. Gorilla thường sống dưới mặt đất, đi bằng bốn chân và chỉ đi bằng hai chân khi chuẩn bị đánh nhau. Về đêm, chúng có thể ngủ trên cây. Gorilla dù có thân hình to lớn những có thể leo cây khá tốt. Chúng sống theo đàn dưới sự chỉ huy của một con đực to khỏe nhất. Nhiệm vụ của con đực là lãnh đạo và bảo vệ cả đàn khỏi bị thú dữ tấn công. Kẻ thù nguy hiểm nhất của Gorilla là loài báo hoa mai rất hung dữ. Khi bị đe dọa, con đực sẽ đứng thẳng người và dùng 2 tay đấm thình thịch vào bụng để cảnh báo trước khi chiến đấu. Gorilla được biết đến như một dã thú đầy sức mạnh với ngoại hình to lớn, khỏe hơn nhiều so với người, đôi tay mạnh mẽ, và thông minh và một cú đấm của gorilla có thể khiến mọi vật đối diện phải biến dạng. Dù có thân hình to lớn đồ sộ, Gorilla có tốc độ chạy ở mức trung bình, khoảng 40 km/h. Tuy có thân hình to lớn và dữ tợn nhưng thực tế các con khỉ Gorilla ăn thực vật và ít khi gây hại cho những con thú khác.

Khỉ đột di chuyển bằng đốt ngón tay, mặc dù đôi khi chúng có thể đứng thẳng khi mang theo thức ăn hay trong tình trạng phòng ngự. Khỉ đột trưởng thành hoang dã nặng 135 đến 180 kg trong khi con cái thường chỉ nặng bằng nửa con đực 68–113 kg. Con đực trưởng thành cao 1,7 đến 1,8 m với sải tay 2,3 đến 2,6 m. Con cái có sải tay ngắn hơn. Khỉ đột đực trưởng thành được biết đến như "lưng bạc" do vùng lông màu bạc trên lưng của nó. Đôi khi, một con lưng bạc lớn hơn 1,8 mét nặng đến 230 kg trong hoang dã, những con khỉ đột béo phì trong tình trạng nuôi nhốt nặng đến 270 kg

Khỉ Capuchin nổi tiếng vì sự thông minh biết sử dụng các viên đá để đập vỡ hạt, đào đất và thăm lỗ... Không giống các loài khỉ khác, các con cái thuộc giống Khỉ Capuchin không có bất kỳ dấu hiệu cơ thể nào cho thấy chúng đang trong thời kỳ "động đực". Các con khỉ cái thường thu hút sự chú ý của con đực bằng khuôn mặt hờn dỗi, những tiếng kêu rên rỉ hoặc bằng cách chạm vào "chàng" và chạy đi chỗ khác, thậm chí còn ném đá về phía con khỉ đực nó khao khát yêu đương. Hành động ném đá của khỉ cái như một cách thăm hỏi, chào mời.

Với những loài linh trưởng khác, con cái thể hiện đầy đủ mọi hành vi ve vãn, 'động đực'. Khỉ đực thường chải lông, bắt rận cho khỉ cái trước khi giao hoan với chúng. Khỉ cái cũng chải lông cho khỉ đực…

Đười ươi (Dryopithecus) là ẩn sĩ trong rừng?

image016

Đười ươi thường bện các cành lại làm ổ trên cây cao, nơi chúng không cảm thấy nguy hiểm, để ngủ đêm và nghỉ ngày, chúng thích ngủ chỉ rời ổ khi mặt trời lên cao. Đười ươi đực ngồi trong ổ ca khúc ban mai nó vươn vai, giơ rộng cánh tay dài từ họng phát ra âm thanh nhát gừng, càng lúc càng to và kết thúc bằng một tiếng kêu dài rộn ràng. Thường vợ chồng Đười ươi ở cách xa nhau chỉ gặp nhau những lúc có cây to trái chín rộ hoặc những lúc giao hợp. Đươi ươi sống trên cây không di chuyển dưới đất như khỉ Gorin và Tinh tinh. Đười ươi ăn trái cây trong rừng ngoài ra cũng ăn lá vỏ cây mối và kiến. Trước khi ăn thường nếm thử. Đười ươi cao 97 cm, con đực nặng 90 kg con cái nặng 50 kg, thời gian mang thai từ 260 đến 270 ngày, và cho con bú 2 đến 3 năm. Tuổi thọ đến 40 năm Đười ươi đực do các bướu cổ rộng tạo thành mô sụn liên kết mà mặt bẹt như cái đĩa, tuổi già có thêm râu ria dài, và lưng cũng bạc như khỉ Gorin. Đười ươi sống trên cây các rừng vùng nhiệt đới ẩm thấp, phần lớn ở ở Đông Nam Á trong rừng Calimantan và Bắc Sumatra, ở Mã lai và Nam Dương, có giống Orang Utann gọi là người rừng cao khoảng 1,50 m, nặng 90 Kilô, ăn trái cây, trứng chim, chuộc, côn trùng, ngoài ra cũng thường bắt khỉ con, heo rừng, linh dương nhỏ để ăn, con đực hay săn mồi hơn con cái.

Thói quen của các loại khỉ đều chải chuốc bộ lông cho nhau, hoặc bắt chí, rận hay tìm những miếng da khô bị tróc trong bộ lông. Thường đàn khỉ có một con đầu đàn to lớn với trách nhiệm lo cho cả đàn. Khỉ đầu đàn cũng thuộc hạng „sư phụ“ không thua gì Dê đực về việc chăm lo thỏa mãn cho mấy chục Khỉ cái trong đàn. Khỉ đực có thể giao phối liên tục cả ngày, kéo dài quanh năm suốt tháng và sẵn sàng quyết chiến nếu khỉ đực khác dám bén mảng quyến rũ các bà vợ của mình, khỉ thường ngủ trong ổ do chúng đan mỗi ngày bằng cành cây, sợ các thú dữ như hổ báo, mèo rừng và rắn độc

Vượn có phải là thuỷ tổ của loài người không?

Vượn thông minh, nhanh nhẹn chúng có thể nhảy xa 20 m, qua giòng sông nhiều cá Sấu, nhảy từ ngọn cây nầy sang ngọn cây bên kia, chúng thường suy tính khi giải quyết vấn đề khó khăn. Để lấy được món ăn hấp dẫn trên cao, thường biết chồng các khối gỗ lên cao và dùng gậy khều thức ăn, Vượn không nói được, nhưng những gì quan trọng chúng đều báo tin cho nhau bằng cử chỉ và nét mặt. Gần đây qua nhiều cuộc thí nghiệm nó có thể sử dụng Computer, biết dùng sơn để vẻ… vượn có thể nhận ra mình trong ảnh và trong gương?

Học thuyết tiến hoá của Charles Darwin (1809-1882) Darwin bỏ thì giờ nghiên cứu về học thuyết nầy từ năm 1842 đến năm 1844, nhưng chưa dám phổ biến sau khi nhận bản thảo về học thuyết tiến hoá của Alfred Russel Wallance gốc người Anh sống ở Đông Ấn. Năm 1859 cuốn „ Nguồn gốc của các loài“ được xuất bản tạo ra nhiều cuộc tranh cãi đến năm 1871 Darwin xuất bản cuốn „ Nguồn gốc loài người và sự lựa chọn trong quan hệ giới tính“ tác phẩm nầy với học thuyết về sự tiến hoá của loài người có nguồn gốc từ Vượn. Người tiền sử Neandertalien cách đây 5 triệu năm. Rất nhiều nhà nghiên cứu cho rằng người Neanderthal không hề có đóng góp gì về gen đối với loài người hiện nay và giống người nầy đã tuyệt chủng (Vượn 20 triệu năm, Đười ươi 20 triệu năm, Tinh tinh 10 triệu năm (tài liệu dẫn chứng tác giả Witus B. Droscher). Gây ra nhiều cuộc bút chiến sôi nỗi đối với những nhà thần học và tôn giáo, học thuyết của Darwin làm thoái hóa lòng tin. Con Vượn muôn đời vẫn là con Vượn, ngày nay sự tiếp xúc của con người với các loài vật do tạo hoá sinh ra, vẫn như thời nguyên thuỷ con rắn sinh ở sa mạc có màu của cát, con rắn sinh ở trên cây có màu xanh đó là sự biến đổi sinh tồn hoà nhập vào đời sống. Con người do Thượng Đế tạo ra đã có trí khôn từ muôn thuở sinh tồn hàng triệu năm trên trái đất nầy.

Các nhà Khoa học chứng minh có thể loài Vượn có những yếu tố nào đó giống con người về nhóm máu một số Gene? so sánh bộ gene của người và Tinh tinh cho thấy một sự khác biệt gene liên quan đến thính giác đã cho phép con người phát triển giọng nói trong khi Tinh tinh không nói được. Bộ gene của con người và Tinh tinh 99% giống nhau. Nhưng một số quá trình phát triển như thính giác và khứu giác của con người lại có tốc độ nhanh hơn. Những gene liên quan tới quá trình này có thể giải thích một phần vì sao Tinh tinh và con người lại có sự khác biệt đó. Nhà nghiên cứu Andrew Clark tại Đại học Cornell ở Ithaca, New York, cùng cộng sự đã lập nên bản đồ gồm hơn 7.000 gene của Tinh tinh trước khi so sánh với con người. Không thể vội vả kết luận Vượn là thuỷ tổ loài người.

Chuyện hoan đường về khỉ

Chuyện Tây Du Ký, kể chuyện ba thầy trò Tam Tạng đi thỉnh kinh ở Tây Trúc đường xa vời vợi thời đó hạ giới còn yêu quỷ, nhiều tài năng biến hoá cản trở việc đi thỉnh kính của Tam Tạng. Tôn Hành Giả là con khỉ ở núi cao được sinh ra từ lòng một hòn đá, biết nói tiếng người muốn sống trường sinh bất tử, rời động Thủy Liêm xuống núi đi tìm thuốc trường sinh, may mắn gặp Tô Sở Thần thâu nhận làm đệ tử, truyền dạy vỏ thuật và các phép thần thông biến hóa. Thành tài Tôn ngộ Không không trở về cố quận, xuống thủy cung của Long Vương chiếm được vật báu Như Ý kim Cổ Bổng (làm cây thiết bảng) lên Thiên đàn uống rượu trộm loại trường sinh bất tử của Thái Thượng Lão Quân. Phá rối khắp nơi nổi danh là Tề Thiên Đại Thánh lộng hành. ''cao nhân tất hữu cao nhân trị''.  Phật Tổ Như Lai chứng minh cho họ Tôn thấy sự mênh mông vô lượng của các pháp mà những kẻ ở cõi này không bao giờ vượt nổi, nếu chỉ loay hoay với tham vọng. Tề Thiên Đại Thánh dù thần thông biến hoá cũng không chạy khỏi bàn tay của Đức Phật Như Lai úp bàn tay xuống tạo Ngũ Hành Sơn ngàn cân giam cái tham vọng của họ Tôn lại. Nhưng Ngài cũng biết rằng, chẳng có núi cao biển sâu nào giam được tham vọng của con người nếu con người không tự tu thân. Ngài cũng để một lối thoát cho sự ăn năn hối cải cho Tề Thiên. Một ngày đẹp trời thầy Đường Tăng Tam tạng đi ngang qua đã thâu nhận Tề Thiên làm đệ tử, cứu ra khỏi ngũ hành đè trên lưng, nhưng Ngài phòng ngừa tính khỉ thích vui chơi, phá rối nên gắn trên đầu vòng Kim cô? để dễ trị tội trên đường đi thỉnh kinh có thêm đệ tử gốc heo là Trư  Bát giới và Sa tăng..

Những năm Thân trong lịch sử

Giáp Thân 1884 triều đình Huế ký hoà ước với Pháp công nhận sự bảo hộ của Pháp ông Patenôtre hội cả các quan, bắt đem huỷ bỏ Ấn của Tàu phong cho vua Việt Nam, nghiã là từ đó nước Nam thuộc về nưóc Pháp bảo hộ, không còn thần phục nước Tàu. Pháp chia nước ta ra làm hai khu vực Trung Kỳ và Bắc Kỳ để dễ cai trị.  Dần dần Hòa ước đó mất đi ý nghiã Pháp chiếm hết quyền lực để đô hộ Triều đình Huế chỉ giữ cái hư vị mà thôi. Cho đến ngày 08.03.1949 thỏa ước Elysée (điện Elysée, Paris) Quốc trưởng Bảo Đại sang Pháp ký với tổng thống Vincent Aurio Pháp thừa nhận Việt Nam, có nền ngoại giao, kinh tế, tài chánh, tư pháp giáo dục riêng.

Giáp Thân - Ất Dậu nạn đói từ mùa thu năm 1944 đến muà đông năm 1945 các tỉnh miền Bắc như Nam Định, Thái Bình, Hưng Yên, Hà Nam và Ninh Bình bị thiệt hại nặng nề, số người chết gần 2 triệu người! tài liệu mô tả trên khắp các nẽo đường đều có xác người chết vì quá đói!

Mậu Thân 1968 xảy ra cuộc tổng công kích của MTDTGPMNVN vào các thành phố của miền nam VNCH vào đêm Giao thừa 29.12.1968 (dương lịch ngày 30.1.1968). Thảm cảnh diễn ra chỉ 25 ngày đêm trên có 41 tỉnh. Thành phố, Thị trấn, thị xã miền Nam Việt Nam, gây nhiều tổn thất về nhân mạng và tài sản, ca dao một thời được nhắc lại, để nhớ những đau thương mang đến trong dịp Tết Mậu Thân (1968) với niềm vui không trọn!

Mậu thân giặc chiếm Huế đô

Đốt nhà, cướp của, đào mồ chôn dân!

Làm sao quên được Mậu thân

Cộng quân tàn ác giết dân hại mình

Mậu thân cộng chiếm Huế đô

Đông Ba, Gia Hội thành mồ chôn dân!

Khỉ trong văn học

Khỉ đi vào đời sống văn hóa người Châu Á qua năm Thân, tháng Thân, ngày Thân, giờ Thân. Trong thành ngữ, tục ngữ, ca dao Việt Nam, khỉ cũng được người đời nhắc đến, Ở miền Nam, chiếc cầu tre bắc qua kênh rạch ở vùng sông nước được gọi là cầu khỉ. Đời Hán bên Trung hoa trong chuyện Tô Vũ chăn dê, đã nhờ con vượn cái cứu sống trong những đêm đông giá lạnh trong 10 năm Tô Vũ đã sống với vượn như tổ ấn gia đình

Ngày nào khỉ lìa qủa xanh

Thì anh mới bỏ em ngày ấy

hoặc

Khỉ bồng con lên non cắn trái

Cảm thương nàng phận gái mồ côi

Những câu thơ trào phúng ví von chuyện của gia cầm, thường nuôi mèo chó ít người nuôi khỉ, chỉ còn ít người tin nuôi khỉ trước sân hay trong chuồng bò để chống bệnh phong.

Chuột chù chê khỉ rằng hôi

Khỉ mới trả lời cả họ mầy thơm!

Con chó chê khỉ lắm lông

khỉ lại chê chó ăn dông ăn dài

Đời sống của chim trời tung cánh bay xa, Vượn thì thích sống trong rừng có hoa trái mỗi ngày di chuyển không xa khu vực núi rừng chỉ trong phạm vi 1 km,

Nhạn lạc bầy kêu thảng thốt

Vượn lạc bầy cắn trái khóc than

Đêm nằm lụy nhỏ chứa chan

Tôi nhớ đến câu tình tự

Tôi băng ngàn tới đây!

Khỉ sống trong rừng ở trên cây nhưng lo ngại sự tấn công cuả thú dữ như báo, hổ, mèo rừng, khỉ thường báo động cho nhau biết mỗi khi đánh được mùi của cọp đến gần. 

Chớ mượn hơi hùm run nhát khỉ

Trần Trọng Kim dịch bài thơ của Vương Xương Linh khi bị đày lên vạn Tuế Lâu với đời sống cô đơn để nhìn đời sống cuả khỉ chim muôn

Núi chiều vượn khỉ yên vui

Bãi kia chim cốc tới lui từng bầy

Ai lên trong đám khói mây

Chiều hôm man mác lại gây nỗi sầu.

Con vượn có mặt trong văn chương truyền khẩu của người Việt như trong bài dân ca "Lý qua đèo" ở Huế hay "Ăn ở trong rừng" thuộc Quan họ Bắc Ninh. Ca trù có điệu xẩm huê tình cũng nhắc đến vượn. Ca dao thì có câu nhắc đến vượn để trỏ ý xa xôi, hoang dã như trong câu ca dao miền Nam:

Má ơi! Đừng gả con xa

Chim kêu vượn hú biết nhà má đâu.

Tục ngữ về vượn có câu: Vượn lìa cây có ngày vượn rũ. Trong văn học thì hai tác phẩm lớn là Truyện Kiều và Lục Vân Tiên đều có nhắc tới vượn, nhất là tiếng hú (còn gọi là hót) của chúng. Trong tín ngưỡng Tứ phủ hình bóng con vượn hiện ra biểu tượng cho miền núi hoang sơ khi vượn ra mắt dâng cúng hoa quả

Từ ngữ về con khỉ chủ yếu xuất hiện trong văn hóa của các dân tộc Á Châu. Một số thành ngữ, tục ngữ như:

Khỉ ho cò gáy: Chỉ chốn hoang vu

Giết gà dọa khỉ. Rung cây nhát khỉ

Làm trò khỉ: Chế giễu những người hay pha trò, bắt chước, làm trò hề

Trời sinh con khỉ ở lùm

Chuyền qua chuyền lại rớt ùm xuống sông

Khỉ bồng con lên non kiếm trái

Cảm thương nàng phận gái mồ côi

Mặt nhăn như khỉ

Nuôi ong tay áo, nuôi khỉ dòm nhà

Khỉ gió, khỉ khô, khỉ mốc: Những câu của, câu mắng: đồ khỉ hay đồ khỉ gió: Ám chỉ người không đứng đắn, nghiêm túc, hay nghịch ngợm

Khỉ lại là khỉ, mèo lại hoàn mèo….

Dân tộc nào thường ăn thịt khỉ

Nhiều quốc gia ở Phi Châu và Nam Mỹ họ săn bắn bắt các loại khỉ để ăn thịt đe doạ làm khỉ mất giống? Ở Á Đông cho rằng thịt khỉ bổ máu, cường dương. Đông y còn dùng xương khỉ để nấu cao khỉ chửa trị được nhiều bệnh (?), Thời Từ Hi Thái Hậu (Kaisserin witwe Cixi) Thái Hậu lựa chọn thức ăn đại bổ như „Trảm mã trà “ và „Não hầu / múc óc khỉ “. Bọn Thái Giám múc nước sôi tạt vào đầu con khỉ. Con khỉ bị nóng lấy tay gãi tuốt hết lông đầu, và họ bỏ con khỉ vào thùng có khoét lỗ tròn vừa đầu con khỉ nhô lên, lấy dao bén vạt ngang óc khỉ lòi ra lấy thià múc óc bỏ một thứ thuốc dâng cho Thái hậu (trong tác phẩm Từ Hi Thái Hâu của Mộng Bình Sơn).

Món ăn dã man nầy ngày nay còn lại trong giới nhiều tiền ăn chơi tại Trung Hoa cũng như Việt Nam! Ở Tây phương giới y khoa chỉ dùng khỉ trong các việc thí nghiệm, nuôi khỉ trong sở thú để mọi người chim ngưỡng, không có bán thịt khỉ Các loài khỉ đột, Tinh tinh và Đười ươi hoang dã đang trong nguy cơ bị tuyệt chủng vì vừa bị săn bắt, vừa chịu ảnh hưởng của việc tàn phá rừng. Loài tinh tinh đã biến mất tại ba nước Tây Phi và sẽ sớm biến mất tại ba nước khác.và Đười ươi cũng it vì sinh đẻ chậm và thường bị săn bắn và phá rừng

Khỉ ăn ớt

Thuyết tiến hoá đã được bàn cãi qua nhiều thế kỷ, nhưng sự đổi đời sau 30.4.1975 cũng nhiều chuyện về khỉ như „khỉ đội mũ cối ngồi xe, bắt chước như khỉ, nói như vẹt“. Tôi có người anh con cậu, sau khi đi học tập cải tạo về không được phép ở lại Sài Gòn, bị gọi đi xây dựng vùng kinh tế mới, đi thuỷ lợi đào kinh trồng thơm ở Lê Minh Xuân. Nên mẹ tôi mua một khu vườn ở Gia Rây gần Ngã ba Ông Đồn để anh tự lập nghiệp nuôi sống tạm thời để khỏi bị đi kinh tế mới trước khi tìm đường vuợt biên.

Vườn rộng gần một mẫu, thời đó chỉ một vài cây vàng 24K để canh tác. Vườn có nhiều chuối xanh tươi những buồng chuối dài trái lớn, lôm chôm lọai trốc vỏ cao hơn đầu người, những loại trái cây như đu đủ mit tố nữ...những khu đất trống có thể trồng đậu xanh, bắp tùy theo mùa, nhờ những năm trong trại cải tạo anh đã canh tác thành công. Những lúc anh về Sài gòn thường mang trái cây về cho chúng tôi như mít, chuối, đu đủ thơm ngon nhờ chín cây.

Nhưng không lâu những mùa trái cây bị đàn khỉ hàng trăm con từ trên núi về phá hoại ăn hết chuối bắp, nhưng không thể nào đánh đuổi, „rung cây nhác khỉ“ nó chạy đi nhưng cứ trở lại kiếm ăn. (Vì trên nuí Bộ đội khai thác gỗ để bán, và săn bắn khỉ để ăn thịt).  

Anh về Sài Gòn tìm mua sơn các màu đỏ, xanh và vãi đỏ. Chúng tôi tưởng anh đổi nghề đi vẽ quảng cáo chăng? Nhưng không phải vậy anh mua các dụng cụ trên để trị bầy khỉ ngoan cố ăn trộm trái cây! Anh kể lại kinh nghiệm người bạn chỉ cách trị khỉ „cho khỉ nó ăn ớt “

Anh đào cái hố rộng hình vuông hay tròn rộng sâu hơn 1,5 m để khỉ không thể trèo lên, từ trên hố xuống đáy để một cái cây làm thang, dưới hố để chuối và ớt hiểm giả nhỏ để chung với nhau. Lúc yên tỉnh đàn khỉ kéo nhau xuống kiếm ăn thấy chuối nó cùng nhau trèo trên cây để sẳn xuống hố, tranh nhau ăn chuối và ăn luôn cả ớt dính vào tay vào mắt mũi cay quá! Chúng tranh nhau bỏ chạy nhưng dưới đáy hố không còn đường nào thoát hiểm con nầy trèo lên cái cây con khác kéo lại, cứ tranh nhau như vậy con trèo còn kéo lại cuối cùng đều ở lại dưới hố. Chỉ cần lấy cái cây đi thì khỉ hết đường chạy trốn. Bắt từng con cột lại cạo lông đầu, lấy sơn trét lên đầu và mặt khỉ, làm cho nó trở thành con khỉ lạ, cột trên cổ nó cái khăn đỏ làm „khỉ ngoan của Bác“. Bôi thêm ớt lên trên mình khỉ thả chúng chạy vào rừng. Đàn khỉ cùng đàn không thể nhận ra là bạn, sợ bỏ chạy xa đôi khi cắn nhau chí tử gặp ớt cay bỏ chạy quên cả khu vườn nhiều hoa trái...

Không có bài học nào giống nhau, kinh nghiệm cuộc đời khó có thể tưởng tượng. Nếu đàn khỉ không tranh nhau kéo nhau khi bị nạn ăn ớt, để từng con chạy trốn thì con người không thể bắt được để cạo đầu bôi sơn, để rồi tự quây trở lại cắn nhau không nhận ra là bạn và thù.

Bốn thập niên cộng đồng chúng ta làm kiếp người lưu vong, dù hội nhập đời sống mới phát triễn và thành công trên nhiều lãnh vực về: khoa học, thương mãi vv.. Cạnh tranh với người bản xứ khắp „Năm Châu Bốn Bể „ Nhưng nhìn lại sinh hoạt cộng đồng thường thiếu đoàn kết…nên dễ bị nhà cầm quyền CSVN lợi dụng cơ hội, để gây chia rẻ cộng đồng người Việt ghét chế độ cộng sản bỏ nước ra đi tìm tự do.

Mời độc giả xem đoạn phim khỉ phá các chú hổ con

Tiger and Monkey Fight Funny Funny Videos

https://www.youtube.com/watch?v=xy2y-7DoDhU


Affenweibchen werfen Steine, wenn sie Sex wollen

http://www.sueddeutsche.de/wissen/ipad-video-ipad-affen-als-steinwerfer-1.1862662                  


* Tài liệu tham khảo

Tiere Dieser Welt Tác giả Martin Walters & Jinnny Johson

Die Tiere Afrikas  Einführung von Jane Goodall

Monky witus B. Droscher

Việt Nam Sử lược Trần Trọng Kim

http://www.kilimanjaro.com/gorilla/goripict.htm

 

+++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++

 

Tết Nguyên Đán có từ bao giờ?

Nguồn gốc Tết Nguyên Đán, hay nói ngắn hơn là Tết có từ đời Ngũ Đế, Tam Vương. Đời Tam Vương, nhà Hạ, chuộng mầu đen, nên chọn tháng đầu năm, tức tháng Giêng, nhằm tháng Dần. Nhà Thương, thích màu trắng, lấy tháng Sửu (con trâu), tháng chạp làm tháng đầu năm. Qua nhà Chu (1050-256 trước công nguyên), ưa sắc đỏ, chọn tháng Tý (con chuột), tháng mười một làm tháng Tết. Các vua chúa nói trên, theo ngày giờ, lúc mới tạo thiên lập địa: nghĩa là giờ Tý thì có trời, giờ Sửu thì có đất, giờ Dần sinh loài người mà đặt ra ngày tết khác nhau. Đến đời Đông Chu, Khổng Phu Tử ra đời, đổi ngày tết vào một tháng nhất định: tháng Dần. Mãi đến đời Tần (thế kỷ III trước Công nguyên), Tần Thủy Hoàng lại đổi qua tháng Hợi (con lợn), tức tháng Mười. Cho đến khi nhà Hán trị vì, Hán Vũ Đế (140 trước Công nguyên) lại đặt ngày Tết vào tháng Dần (tức tháng Giêng) như đời nhà Hạ, và từ đó về sau, trải qua bao nhiêu thời đại, không còn nhà vua nào thay đổi về tháng Tết nữa.

Đến đời Đông Phương Sóc, ông cho rằng ngày tạo thiên lập địa có thêm giống Gà, ngày thứ hai có thêm Chó, ngày thứ ba có Lợn, ngày thứ tư sinh Dê, ngày thứ năm sinh Trâu, ngày thứ sáu sinh Ngựa, ngày thứ bảy sinh loài Người và ngày thứ tám mới sinh ra ngũ cốc. Vì thế, ngày Tết thường được kể từ ngày mồng Một cho đến hết ngày mồng Bảy tháng Giêng. Trong lịch sử dân tộc Việt Nam, chúng ta đã trải qua thời kỳ hơn 1000 năm phong kiến phương Bắc đô hộ nên một số phong tục của chúng ta có ảnh hưởng từ phương Bắc, trong đó có Tết Nguyên Đán đó cũng là điều dễ hiểu, tuy nhiên nó đã được Việt hóa để gần gũi hơn với đời sống văn hóa tinh thần của người Việt.

Tết Nguyên đán (Tết Cả) là lễ hội lớn nhất trong các lễ hội truyền thống Việt Nam từ hàng ngàn đời nay. Tết Nguyên đán Việt Nam từ buổi "khai thiên lập địa" đã tiềm tàng những giá trị nhân văn... Tết còn là dịp để mọi người Việt Nam tưởng nhớ, tri âm tổ tiên, nguồn cội… Ngày Tết, dân tộc  VN có nhiều phong tục hay như khai bút, khai canh, hái lộc, chúc Tết, du xuân, mừng thọ….Từ già đến trẻ ai cũng biết, ngày tết trong nhà ít nhất cũng phải có cành hoa, bánh chưng, chai rượu…

Vào  giao thừa có tục mừng tuổi chúc Tết, trước hết con cháu mừng tuổi ông bà, cha mẹ. Ông bà cha mẹ cùng chuẩn bị một ít tiền để mừng tuổi cho con cháu trong nhà và con cháu hàng xóm láng giềng, bạn bè thân thích. Lời chúc có ca có kệ hẳn hoi nhưng xem người ta thích nhất điều gì thì chúc điều đó, chúc sức khoẻ là phổ biến nhất. Chú ý tránh phạm tên huý gia tiên, tránh nhắc tới lỗi lầm sai phạm cũ, xưng hô hợp với lứa tuổi và quan hệ thân thuộc.

Chúc Tết những người trong năm cũ gặp rủi ro tai hoạ thì động viên nhau "Của đi thay người", "Tai qua nạn khỏi", nghĩa là ngay trong cái hoạ cũng tìm thấy cái phúc, hướng về sự tốt lành, kể cả đối với người phạm tội vẫn với thái độ nhẹ nhàng, khoan dung. Nhưng, nhìn chung trong những ngày đầu năm, người ta kiêng không nói tới điều rủi ro hoặc xấu xa.

Quanh năm làm ăn vất vả, ít có điều kiện qua lại thăm hỏi nhau, nhân ngày Tết đến chúc mừng nhau, gắn bó tình cảm thật là đặm đà ý vị; hoặc điếu thuốc miếng trầu, hoặc chén trà ly rượu…Nhiều vùng nông thôn, hễ đến chúc Tết nhau nhất thiết phải nâng ly rượu, nếm vài món thức ăn gì đó chủ mời vui lòng, năm mới từ chối sợ bị giông cả năm.

Quà Tết, lễ Tết:

Bình thường qua lại hỏi thăm nhau có khi cũng có quà, biểu lộ mối ân tình, nhưng phong tục ta đi lễ Tết vẫn có ý nghĩa hơn, nhất là đi trước Tết càng quý. Việc biếu quà Tết, tỏ ân nghĩa tình cảm là điều đáng quý. Học trò tết thầy giáo, bệnh nhân tết thầy thuốc, con rể tết bố mẹ vợ... quà biếu, quà Tết  đó không đánh giá theo giá thị trường. Nhưng cũng đừng nên gò bó, câu nệ sẽ hạn chế tình cảm: Không có quà, ngại không dám đến. Dân tộc VN tuy nghèo nhưng vẫn trọng nghĩa tình, "Lời chào cao hơn mâm cỗ".

Lễ mừng thọ:

Ở các nước Tây Âu thường mừng thọ vào dịp kỷ niệm ngày sinh, ở ta ngày xưa ít ai nhớ chính xác ngày sinh tháng đẻ nên vào dịp đầu xuân thường tổ chức mừng thọ lục tuần, thất tuần, cửu tuần... tính theo tuổi mụ. Ngày tết ngày Xuân cũng là dịp mọi người đang rảnh rỗi, con cháu tụ tập đông vui, chúc thọ ông bà, cha mẹ.

Tục kiêng hót rác đổ đi trong ba ngày Tết:

 

Tục kiêng hót rác ba ngày Tết nên ngày 30, dầu bận rộn đến đâu cũng phải dọn dẹp nhà cửa sạch sẽ và những ngày Tết thì mọi người phải hết sức giữ gìn nhà cửa không vứt rác bừa bãi.

Vào dịp đầu xuân, người có chức tước khai ấn, học trò sĩ phu khai bút, nhà nông khai canh, thợ thủ công khai công, người buôn bán mở hàng lấy ngày: Sĩ, Nông, Công, thương "Tứ dân bách nghệ" của dân tộc ta vốn cần cù, ai cũng muốn năm mới vận hội hành thôn làm ăn suôn sẻ, đầu xuân chọn ngày tốt đẹp, bắt tay lao động sớm, tránh tình trạng cờ bạc, rượu chè, hội hè đình đám, vui chơi quá đà. Sau ngày mồng một, dù có mãi vui tết, hoặc còn kế hoạch du xuân, đón khách, cũng chọn ngày "Khai nghề",   "Làm lấy ngày". Nếu như mồng một là ngày tốt thì chiều mồng một đã bắt đầu. Riêng khai bút thì giao thừa xong, chọn giờ hoàng đạo bắt đầu không kể mồng một là ngày tốt hay xấu. Người  thợ thủ công nếu chưa ai thuê mướn đầu năm thì cũng tự làm cho gia đình mình một sản phẩm, dụng vụ gì đó (nguyên vật liệu đã chuẩn bị sẵn). Người buôn bán, vì ai cũng chọn ngày tốt nên phiên chợ đầu xuân vẫn đông, mặc dầu người bán chỉ bán lấy lệ, người đi chợ phần lớn là đi chơi xuân./

 

+++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++

MỘT SỐ BÀI CHỦ ĐỀ MÙA XUÂN TRONG THƠ ĐƯỜNG

Nguyễn Hữu Thăng sưu tầm và dịch thơ

Tảo khởi
Lý Thương Ẩn

Phong lộ đạm thanh thần,
Liêm gian độc khởi nhân.
Oanh đề hoa hựu tiếu,
Tất cánh thị thùy xuân?

Dịch nghĩa:
Thức dậy buổi sáng
Gió lặng sương êm, sớm mai mát mẻ
Trong rèm có người một mình tỉnh dậy
Chim oanh hót, hoa lại cười
Cảnh xuân thực ra dành cho ai?

Dịch thơ:
Ban mai êm ả gió sương
Trong rèm một bóng dễ thương dậy rồi
Líu lo oanh hót hoa cười
Cảnh xuân không biết cho người nào đây?


Xuân hiểu
Mạnh Hạo Nhiên
Xuân miên bất giác hiểu,
Xứ xứ văn đề điểu,
Dạ lai phong vũ thanh,
Hoa lạc tri đa thiểu?

Dịch nghĩa
Buổi sớm mùa xuân
Giấc ngủ đêm xuân không biết trời sáng
Nơi nơi đều nghe thấy tiếng chim hót
Đêm qua nghe tiếng gió mưa
Chẳng hay hoa rụng nhiều hay ít?

Dịch thơ:
Giấc xuân, trời sáng còn say
Nơi nơi ríu rít gọi bầy tiếng chim
Gió mưa xào xạc trong đêm
Cánh hoa nào biết rụng thêm ít nhiều?

Thơ Lý Bạch
Thùy gia ngọc địch ám phi thanh
Tán nhập xuân phong mãn Lạc thành
Thử dạ khúc trung văn Chiết liễu
Hà nhân bất khởi cố viên tình

Dịch nghĩa
Đêm xuân nghe sáo ở thành Lạc Dương
Đêm xuân nghe tiếng sáo vẳng trong thành Lạc Dương
Hòa trong gió xuân khắp thành Lạc Dương
Đêm nay nghe tiếng sáo thổi khúc ca Chiết liễu* biệt ly
Có ai mà không động lòng nhớ về quê cũ
(* Chiết liễu: Ngày xưa mỗi lần đưa tiễn, người thân thường bẻ cành liễu trao cho người ra đi , sau có khúc ca Chiết liễu (bẻ liễu) nói về tình ly biệt).

Dịch thơ:
Nhà ai sáo ngọc tiếng vang ngân
Vẳng khắp Lạc Thành theo gió xuân
Khúc nhạc đêm nay bài Chiết liễu
Tình quê xao xuyến nhớ muôn phần./

Giang Mai
Đỗ Phủ

Mai nhụy lạp tiền phá
Mai hoa niên hậu đa
Tuyệt tri xuân ý hảo
Tối nại khách sầu hà
Tuyết thụ nguyên đồng sắc
Giang phong diệc tự ba
Cố viên bất khả kiến
Vu tụ uất tha nga

Dịch nghĩa

Cây mai ven sông
Cây mai hé nhụy trước tháng chạp
Ra giêng thì nở nhiều hoa
Y xuân đã thật là tốt
Nhưng sao khách vẫn buồn rầu?
Tuyết và cây vốn cùng một màu
Gió làm sông nổi sóng
Vườn nhà cũ không thể thấy được
Vì núi Vu cao chót vót và cây cối um tùm

Dịch thơ:
Tháng chạp mai cười nụ
Ra giêng sẽ nở nhiều
Ý xuân luôn đẹp đẽ
Lòng khách sao buồn thiu?
Cây tuyết màu không đổi
Gió sông sóng vẫn theo
Vườn xưa đâu thấy nữa
Ngàn núi Vu cheo leo./

Thương xuân Khúc
Bạch Cư Dị

Thâm thiển thiềm hoa thiên vạn chi
Bích sa song ngoại chuyển hoàng ly
Tàn trang hòa lệ há liêm tọa
Tận nhật thương xuân, xuân bất tri

Dịch nghĩa
Khúc ca thương xuân
Trước thềm cả ngàn vạn bông hoa từ đậm tới nhạt
Chim oanh hót bên ngoài cửa sổ che màn lụa xanh
Son phấn đã tàn, nhòa lệ, người đẹp buông rèm ngồi
Cả ngày thương tiếc xuân mà xuân đâu có biết.

Dịch thơ:
Muôn đóa ngoài hiên đủ nhạt, hồng
Véo von oanh hót vẳng bên song
Rèm buông, son phấn sao nhòa lệ
Thương cảm xuân nhiều, xuân biết không?

DI GIA BIỆT HỒ THƯỢNG ĐÌNH
Nhung Dục
Hảo thị xuân phong hồ thượng đình
Liễu điều đằng mạn hệ ly tình
Hoàng oanh trú cửu hồn tương thức
Dục biệt tần đề tứ ngũ thanh

Dịch nghĩa:
Chuyển nhà từ biệt đình trên hồ
Hay biết bao gió xuân ở đình trên hồ
Cành liễu, dây leo quấn nhau tình ly biệt
Chim oanh vàng ở lâu cũng trở nên quen
Sắp xa nhau cũng kêu lên bốn năm tiếng

Dịch thơ:
Lồng lộng gió xuân khắp thủy đình
Liễu ôm dây cuốn bấy trung trinh
Oanh vàng quấn quýt bao ngày tháng
Nay sắp xa nhau gọi nhớ mình./
 
Xuân tình
Vương Giá
Vũ tiền sơ kiến hoa gian nhị,
Vũ hậu tuyền vô diệp để hoa.
Phong điệp phân phân quá tường khứ,
Khước nghi xuân sắc tại lân gia.

Dịch nghĩa:
Ngày xuân mưa tạnh
Sắp mưa, vừa thấy hoa phô nhị
Mưa tạnh, dưới lá không còn bông hoa nào
Ong bướm tới tấp bay qua tường
Ngờ rằng màu xuân đã sang bên hàng xóm

Dịch thơ:
Trước mưa vừa thấy hoa mơn mởn
Mưa tạnh, dưới cành hoa tả tơi
Ong bướm qua tường bay vắng bóng
Ngờ xuân cũng chạy đến nhà người.

Tống xuân từ
Vương Duy

Nhật nhật nhân không lão
Niên niên xuân cánh qui
Tương hoan tại tôn tửu
Bất dụng tích hoa phi.

Dịch nghĩa

LỜI TIỄN MÙA XUÂN

Ngày lại ngày, người cứ già đi,
Năm theo năm, xuân vẫn cứ đến .
Hãy vui cùng với chén rượu,
Cần gì phải thương tiếc cánh hoa bay.

Dịch thơ:
Ngày ngày người cứ già đi
Hàng năm xuân cứ đến thì lại sang
Cùng vui, rượu hãy uống tràn
Tiếc làm chi cánh hoa tàn rụng bay
Mộ Xuân Quy Cố Sơn Thảo Đường
Tiền Khởi
Cốc Khẩu xuân tàn hoàng điểu hi
Tân Di hoa tận hạnh hoa phi
Thủy liên u trúc sơn song hạ
Bất cải thanh âm đãi ngã quy

Dịch nghĩa:
Cuối xuân về nhà tranh ở núi cũ
Ở Cốc Khẩu* xuân đã tàn, oanh vàng thưa thớt
Hoa tân di đang rụng, cánh hoa hạnh bay bay
Thương cho cụm trúc lặng lẽ bên cửa sổ mở nhìn ra núi
Vẫn không đổi sắc xanh âm u chờ đón ta về.
*Cốc Khẩu, tên cổ vùng tây bắc huyện Kinh Dương tỉnh Thiểm Tây ngày nay.

Dịch thơ:
Cốc Khẩu xuân tàn, thưa tiếng oanh
Tân di, hoa hạnh rụng trơ cành
Âm thầm khóm trúc ngoài song cửa
Thương đợi ta về vẫn đẫm xanh

Mộ Xuân Hí Tặng Ngô Đoan Công
Tào Đường

Niên thiếu anh hùng hảo trượng phu
Đại gia vọng bái chấp kim ngô
Khai miên hiểu nhật thinh đề quyết
Tiếu ỷ xuân phong trượng lộc lô
Thâm viện xuy sinh văn hán tì
Tĩnh giai điều mã nhiệm hề nô
Mẫu đơn hoa hạ câu liêm ngoại
Độc bẵng hồng cơ loát hổ tu

Dịch nghĩaF
Cuối xuân tặng đùa ông Ngô Đoan
Tuổi trẻ anh hùng, về già là bậc trượng phu
Mọi người đều vái lạy ông từ xa
Sớm mai thức dậy, nghe chim cuốc kêu
Tươi cười trước gió xuân vịn tay vào ròng rọc (kéo nước)
Trong phòng sau khuôn viên nghe hầu gái thổi sênh
Ngoài đường yên tĩnh mặc cho tớ trai lo việc dạy ngựa
Dưới hoa mẫu đơn bên ngoài rèm cửa
Chỉ để cho người vợ nhỏ má hồng được vuốt râu hùm

Dịch thơ:
Tuổi trẻ anh hùng, già thảnh thơi
Ai ai cũng lạy, thấy hơn người
Sớm nghe tiếng cuốc ung dung dậy
Ngày ghẹo gió xuân thỏa thích cười
Mê gái thổi sênh ngồi nội thất
Mặc hầu dạy ngựa chạy ngoài trời
Mẫu đơn mơn mởn ngoài rèm ngọc
Râu hổ, má hồng ve vuốt chơi.

Nam viên kỳ 1
Lý Hạ

Hoa chi thảo mạn nhãn trung khai,
Tiểu bạch trường hồng Việt nữ tai.
Khả liên nhật mộ yên hương lạc,
Giá dữ xuân phong bất dụng mai.

Dịch nghĩa:
Vườn phía nam
Cành hoa, dây cỏ nở trước mắt
Màu trắng xen đỏ như má gái nước việt
Đáng thương thay đêm xuống hương nhạt đi
Gả cho gió xuân mà không cần mai mối.

Dịch thơ:
Rực rỡ cỏ hoa, rộ nở gần
Khác nào gái Việt má bồ quân
Thương thay đêm xuống hương phai nhạt
Mai mổi chẳng cần, gả gió xuân.

Đào hoa khê
Trương Húc

Ẩn ẩn phi kiều cách dã yên,
Thạch ky tây bạn vấn ngư thuyền
Đào hoa tận nhật tùy lưu thủy
Động tại thanh khê hà xứ biên

Dịch Nghĩa
Suối hoa đào
Nhịp cầu cheo leo thấp thoáng sau làn khói đồng,
Đứng phía tây hòn đá, hỏi thăm ông đánh cá :
Suối ngày hoa đào trôi theo dòng nước,
Chẳng hay động ở bên nào suối nước trong ?

Dịch thơ:
Thấp thoáng cầu treo ẩn khói đồng
Bờ tây ghềnh đá hỏi ngư ông:
Hoa đào mải miết trôi dòng nước
Động ở bên nào cạnh suối trong?

Yến Đông Thành trang
Thôi Huệ Đồng

Nhất nguyệt chủ nhân tiếu kỷ hồi,
Tương phùng tương trị thả hàm bôi.
Nhãn khan xuân sắc như lưu thủy,
Kim nhật tàn hoa tạc nhật khai.

Dịch nghĩa :
Ăn tiệc ở trại phía đông kinh thành
Một tháng chủ nhân được mấy trận cười
Gặp nhau đây là lúc nên nhắp chén
Nhìn màu xuân trôi qua như nước chảy
Bông hoa hôm qua nở, hôm nay đã tàn rồi

Dịch thơ:
Chủ nhân mỗi tháng mấy lần cười
Nay đã gặp nhau cứ uống chơi
Có thấy màu xuân như nước chảy
Hoa hôm qua nở đã tàn rồi./

Yến Đông Thành Trang
Thôi Mẫn Đồng

Nhất niên qua hựu nhất niên xuân
Bách tuế tằng vô bách tuế nhân
Năng hướng hoa tiền kỷ hồi túy
Thập thiên cô tửu bất từ bần

Ch thích
Thành, tức kinh thành Trường An. Thôi Huệ Đồng, là phò mã của Đường Minh Hoàng (kết hôn công chúa thứ mười), nên có trang trại riêng ở phía đông kinh thành. Tác giả Thôi Mẫn Đồng là em trai của Thôi Huệ Đồng. Trong một bữa tiệc tại trang trại của mình, người anh xướng xuất một bài với tựa đề “Yến Đông Thành Trang”, người em cũng làm một bài cùng tựa đề

Dịch nghĩa:
Trong tiệc ở trang trại phía đông kinh thành
Mỗi năm qua đi một tuổi xuân.
Đời người thọ trăm năm nhưng hiếm có ai trăm tuổi.
Nếu còn có thể say bên hoa vài dịp nữa,
Có phải mua mười ngàn đồng rượu cũng đừng chối vì nghèo.

Dịch thơ:
Mỗi năm trôi mất một mùa xuân
Trăm tuổi nào ai đã đến lần
Mấy độ trước hoa say túy lúy
Mười ngàn mua rượu, chớ phân vân

Biên từ
Trương Kính Trung
Ngũ Nguyên xuân sắc cựu lai trì,
Nhị nguyệt thuỳ dương vị quải ti.
Tức kim hà bạn băng khai nhật,
Chính thị Trường An hoa lạc thì.

Dịch nghĩa:
Bài từ về biên ải
Sắc xuân thành Ngũ Nguyên vốn đến muộn
Đã tháng hai rồi mà dương liễu vẫn chưa buông tơ
Hiện giờ là lúc băng giá trên sông mới tan
Cũng là lúc ở Trường An hoa đang rụng.

Dịch thơ:
Xuân sắc Ngũ Nguyên vẫn muộn màng
Bến sông băng giá mới vừa tan
Tháng hai tơ liễu còn chưa rủ
Hoa xứ Trường An đã lụi tàn.
(NHT dịch – 25/5/2012)

Diễm nữ từ
Lương Hoàng

Lộ tỉnh đào hoa phát
Song song yến tịnh phi
Mĩ nhân tư thái lý
Xuân sắc thượng la y
Tự ái tần khuy kính
Thời tu dục yểm phi
Bất tri hành lộ khách
Dao nhạ ngũ hương qui

Dịch nghĩa:
Bài ca người đẹp
Hoa đào nở bên giếng sương
Chim én sóng đôi nhẹ nhàng bay
Người đẹp trong tư thế riêng
Màu xuân trên tấm áo lụa
Hài lòng nhiều lần ngắm mình trong gương
Lúc lại e thẹn muốn kéo cửa che
Chẳng biết có khách đi đường thưởng thức mùi ngũ hương từ xa.

Dịch thơ:
Giếng sương đào chúm chím cười
Dập dìu cánh én lưng trời sóng đôi
Người xinh duyên dáng khác vời
Sắc xuân áo lụa đẹp tươi lạ lùng
Gương soi càng ngắm càng ưng
Cửa ngoài muốn khép ngượng ngùng lại thôi
Nào hay qua ngõ mấy người
Đem hương ngào ngạt từ nơi đây về.

Sơn phòng xuân sự
Sầm Tham
Lương viên nhật mộ loạn phi nha
Cực mục tiêu điều tam lưỡng gia
Đình thụ bất tri nhân khứ tận
Xuân lai hoàn phát cựu thời hoa

Dịch nghĩa:
Nét xuân ở nhà trong núi
Trong vườn Lương, lúc chiều tà những con quạ bay hỗn loạn
Cố trông hết tầm mắt cũng chỉ thấy vài ba túp nhà tiêu điều
Cây trong sân không biết rằng người ta đã đi hết
Xuân về lại nở những bông hoa thời xa xưa

Dịch thơ:
Bầy quạ vườn Lương tối loạn bay
Dăm ba nhà nát vẫn còn đây
Cây sân chẳng biết người tan tác
Hoa cũ xuân sang cứ nở đầy./

Đề đô thành nam trang
Thôi Hộ
Khứ niên kim nhật thử môn trung,
Nhân diện đào hoa tương ánh hồng.
Nhân diện bất tri hà xứ khứ,
Đào hoa y cựu tiếu xuân phong

Dịch nghĩa:
Viết tại thôn Nam đô thành
Năm trước ngày này ngay cửa này,
Mặt người, hoa đào ánh hồng lẫn nhau.
Mặt người chẳng biết đã đi đâu,
Vẫn hoa đào năm ngoái đang cười giỡn với gió xuân.

Dịch thơ:
Năm trước ngày này trước cửa sân
Hoa đào, sắc má ửng bồ quân
Má hồng nay biết nơi nào nhỉ
Chỉ thấy hoa cười với gió xuân./


++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++

 

Ngày Xuân, Lại Nói Chuyện Tháng Giêng

 

image018

Phạm Cao Dương

Nói chuyện tháng Giêng là đề tài tôi viết để gửi đăng trên một số các báo xuân ở hải ngoại cách đây nhiều năm. Câu chuyện xoay quanh một số các từ ngữ từ sau năm 1975, vì lý do này hay lý do khác, hầu như không còn được dùng nữa. Người ta, đặc biệt là một số các xướng ngôn viên của các đài phát thanh, đã dùng những từ ngữ khác để thay thế. Trong số đó có từ ngữ tháng Giêng, từ ngữ dùng để gọi tháng đầu tiên của một năm. Thay vì gọi hay đọc tháng này là tháng Giêng, người ta gọi hay đọc nó là tháng Một. Lý do có lẽ là vì khi viết người ta dùng số 1 cho tiện dụng . Từ đó, tháng Chạp trở thành tháng Mười Hai, viết bằng số 12, và tháng Một tất nhiên không còn là tháng Mười Một nữa. Nhớ lại bài học thuộc lòng mà tôi có dịp học hồi còn nhỏ trong đó có các câu:

Tháng Giêng ăn tết ở nhà…

Tháng một, tháng chạp nên công hoàn toàn.

mà thỉnh thoảng tôi vẫn thất các thầy cô ở các trường Việt ngữ hiện tại thường nhắc tới, tôi không khỏi bùi ngùi khi thấy một chuyện bình thường người ta không nên để xảy ra, vẫn xảy ra. Đây không phải là chuyện bảo thủ hay không bảo thủ dù là chuyện liên hệ tới ngôn ngữ, mà ngôn ngữ vốn có tính chất qui ước và luôn thay đổi. Có điều qui ước hay không qui ước, thay đổi hay không thay đổi, người nói vẫn không thể vì lý do gì đi chăng nữa làm mất đi tính cách chính xác và phong phú của ngôn ngũ mình sử dụng. Một thí dụ điển hình là người Mỹ nói riêng, và dân của những nước nói tiếng Anh, nói chung,  cũng ở vào trường hợp tương tự nhưng họ đã không làm như vậy. Khi viết để cho tiện họ và không chính thức họ vẫn dùng các con số 1 cho tháng Giêng,  2 cho tháng Hai … liên tục cho đến số 12 cho tháng Chạp trong cách ghi ngày tháng của họ. Nhưng khi phải ghi một cách đầy đủ một cách hình thức và tránh nhầm lẫn họ vẫn viết rõ là January, February … December. Còn khi nói, khi đọc, chính thức hay không chính thức, họ luôn luôn dùng các tiếng này chứ không bao giờ dùng các con số thay thế.

Thoáng đó, nhiều năm đã trôi qua. Vì bận rộn với cuộc sống thường ngày, tôi không có dịp theo dõi chuyện này và bây giờ, khi viết bài này, chúng ta đang ở tháng Giêng của năm mới tây nhưng tháng Giêng của năm mới ta thì chưa tới, nên tôi chưa thể nói là bà con ta hiện tại có còn cái tật sử dụng tiếng Việt một cách bừa bài, cẩu thả như vậy nữa không. Nói như vậy vì nói tới tháng Giêng tây nhiều người đã dùng chữ Một, tháng Một và tôi hy vọng các vị này dành hai chữ tháng Giêng cho tháng đầu năm âm lịch. Tuy nhiên nhiều vị khác cũng cảnh cáo tôi là đừng lạc quan hão, đồng thời thỉnh thoảng tôi cũng thấy có người đề cập đến vấn đề này như nói đến một nỗi buồn tiếng Việt. Sự trong sáng và phong phú của ngôn ngữ của chúng ta dường như mỗi ngày một bị thui chột  trước cuộc sống mới nặng về thực tế và lúc nào cũng tất bật, vội vã. Người ta đã nại đủ cớ, kể cả ngang ngược tự cho mình là đúng để muốn nói sao thì nói, muốn viết sao thì viết không theo một nguyên tắc nào cả, nhất là khi mọi người, vì lý do này hay lý do khác, kể cả lười biếng, thiếu suy nghĩ, dễ dãi chạy theo thời thượng hay để phá bỏ những gì thuộc một thời xưa cũ.

Bây giờ nói tới chuyện mới. Gọi là mới, nhưng thực sự thì chuyện này đã xảy ra từ hơn mười năm trước. Hồi đó là năm 1995, hai mươi năm sau khi chế độ cộng hòa ở Miền Nam không còn nữa. Để tưởng nhớ tới biến cố quan trọng nhưng vô cùng phức tạp đối với dân tộc Việt Nam này, đài BBC của người Anh, một dân tộc nổi tiếng là lạnh lùng và thực tế, khác hẳn với người Pháp, đã phỏng vấn một số người Việt về sự khác biệt trong cuộc sống của người Việt Nam ở hai miền Nam, Bắc sau hai chục năm thống nhất đầy bi thương này.

Một trong số những người được phỏng vấn là Giáo Sư Sử Học Trần Quốc Vượng thuộc trường Đại Học Quốc Gia Hà Nội. Tôi không nhớ rõ là để trả lời câu hỏi nào Giáo Sư Vượng đã có dịp đưa ra nhận xét của mình khi đề cập tới tiếng Việt ở Miền Nam. Đại khái câu nói của ông là ông và nhà văn Nguyễn Tuân, một nhà văn rất nổi tiếng trong thời tiền chiến với lối viết tùy bút vô cùng ý nhị, vô cùng bóng bẩy, nặng tính chất hoài cổ của ông, rất lấy làm đắc ý về một câu nói của đồng bào Miền Nam là “vậy mà không phải vậy”. Phát biểu thế thôi, Giáo Sư Vượng đã không giải thích thêm. Người nghe muốn hiểu sao thì hiểu và áp dụng vào khía cạnh nào của cuộc sống thì áp dụng, trong đó có cả sự kiện Miền Bắc đã dùng bạo lực đánh bại Miền Nam để thống nhất đất nước và tình trạng thống nhất hai chục năm sau đó. Thay vào đó, với thói quen nói lên sự thực của một người dạy và viết sử và với bản tính bộc trực, ông đã thêm một chữ khác hay được dùng ở miền Nam là chữ “nên” khác với chữ “phải” ở Miền Bắc. Với chữ “phải” này, ông chú thích thêm rằng “Đó là tiếng của cán bộ”. Tôn trọng Giáo Sư Trần Quốc Vượng dù cho bây giờ ông đã không còn nữa và để độc giả được thong thả suy luận, theo đúng với tinh thần ra vô thong thả của người Miền Nam, tôi chỉ thuật lại nội dung đại khái của cuộc phỏng vấn này và không bàn rộng hơn nữa.

Trở lại chuyện mùa xuân và tháng giêng. Cũng trong bài học thuộc lòng kể trên, câu thứ hai của bài này là:

Tháng hai cờ bạc, tháng ba hội hè…

Hội hè trong sinh hoạt cổ truyền ở Miền Bắc Việt Nam tượng trưng cho tinh thần và cuộc sống hồn nhiên, vui tươi, thoải mái, hoàn toàn tự do không bị ràng buộc của người Việt truyền thống, sau những ngày lao động vất vả với đầy dẫy những lo âu mà trên từ vua chúa, quan lại, dưới đến các nhà đạo đức tôn sùng Khổng giáo hay các bô lão ở các xã thôn đều phải tôn trọng.  Người ta đã mở hội để không chỉ riêng dân trong làng vui chơi mà luôn cả dân từ các làng khác hay từ các thành phố về tham dự.

Mùa xuân ấy ông tôi lên tận tỉnh

Đón tôi về xem hội ở làng bên…

Những hội hè này trong suốt thời Pháp thuộc vẫn đều đặn được mở với tất cả những tiết mục mà một số vượt ra ngoài trí tưởng tượng của người trẻ của thế hệ hiện tại.  Trừ một số hội chùa hay một số hội đền, đa số các hội được người ta “trẩy” là để vui chơi, để gặp gỡ và nếu có phải lễ thì lễ ít hơn là hội. Chữ lễ do đó hầu như không được dùng mà chỉ có chữ hội hay hội hè hay hội hè đình đám cho cả trăm hội ở khắp trong nước, ở miền núi cũng như khắp miền xuôi, từ hội đền như Hội Đền Hùng, Hội Đền Kiếp Bạc, … hội chùa như Hội Chùa Hương, Hội Chùa Keo, … hội phủ như Hội Phủ Giầy… đến các hội làng. Tất cả đều là hội. Không hề có hội lễ. Lý do rất đơn giản. Đó là vì hội là mục đích chính và lễ là phụ. người trẩy hội là để vui chơi, để xem hội. Còn có lễ thì càng tốt mà không lễ thì cũng chẳng sao, không bắt buộc. Người Việt bản chất rất bao dung về tôn giáo, tín ngưỡng. Không phải chỉ qua ngôn ngữ bình thường mà qua thi ca, sau này là tiểu thuyết ….người ta cũng thấy phản ảnh rõ rệt điều này. Nhưng đó là chuyện của quá khứ.  Sau một thời gian bị lãng quên vì chiến tranh và vì cách mạng, các hội hè cổ truyền của người Việt, do nhu cầu bảo tồn truyền thống của dân tộc, nhu cầu phát triển du lịch hay nhu cầu thuần túy chính trị…, đã được mở lại. Đây là một cố gắng đáng khích lệ. Nhưng từ hội hè theo đúng tinh thần của những biến cố đặc trưng cho một nếp sống đã tồn tại từ  nhiều ngàn năm, đổi sang lễ hội, người ta đã vô tình làm mất đi ý nghĩa hồn nhiên, căn bản ban đầu của một hình thức biểu hiện cuộc sống tập thể ở nông thôn thời xưa của người Việt vậy.

Ngôn ngữ là phương tiện để truyền đạt nhưng không phải chỉ là thuần túy truyền đạt mà còn là một biểu hiện của tinh thần,  của nếp sống và rộng ra là của văn hóa của người sử dụng và của dân tộc sử dụng ngôn ngữ ấy. Coi là phương tiện, người ta có thể sử dụng nó một cách tùy hỷ nhưng điều này chỉ nên áp dụng cho những gì liên hệ tới cuộc sống tạm bợ hàng ngày. Đối với những phạm vi khác liên hệ tới quá khứ và tương lai lâu dài hơn, người sử dụng phải vô cùng thận trọng hầu tránh làm mất đi những tính cách chính xác, trong sáng và phong phú  của ngôn ngữ mà mình yêu mến và có may mắn được dùng vậy. Việc làm nói ra thì dễ nhưng thực hiện và thường xuyên thực hiện./

 

+++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++

 

Những tục lễ trong đêm giao thừa trong Tết nguyên đán ở Việt Nam

Lễ Trừ Tịch hay Giao Thừa

Lẽ trời đất có thủy khởi phải có tận cùng, một năm đã bắt đầu ắt phải có hết, bắt đầu từ lúc giao thừa, cũng lại hết vào lúc giao thừa. Theo Hán Việt Từ Điển của Đào Duy Anh nghĩa là cũ giao lại, mới tiếp lấy.

Chính vì ý nghĩa ấy, nên hàng năm vào lúc giao tiếp giữa hai năm cũ mới này, có lễ Trừ Tịch.

Ý nghĩa của lễ này là đem bỏ đi hết những điều xấu dở cũ kỹ của năm cũ sắp qua để đón những cái mới mẻ tốt đẹp của năm mới sắp tới.

Lễ Trừ Tịch theo người Tàu còn là một lễ khu trừ ma quỷ. Tục Tàu xưa vào ngày trừ Tịch, tức là ngày 30 Tết có dùng 120 trẻ con trạc chín mười tuổi, mặc áo thâm, đội mũ đỏ, cầm trống vừa đi đường vừa đánh để trừ khử ma quỷ, do đó có danh từ Trừ Tịch. Lễ Trừ Tịch cử hành vào lúc giao thừa nên lễ này còn mang tên là lễ Giao Thừa.

Xưa kia người ta cúng giao thừa ở đình, ông Tiên chỉ hoặc thủ từ đứng làm chủ lễ, nhưng người ta cũng cúng giao thừa ở thôn xóm nữa. Lễ giao thừa ở thôn xóm được tổ chức hoặc tại các văn chỉ nếu văn chỉ làng xây tại xóm, nếu không thì cũng tổ chức ngay ở điểm canh đầu xóm.

Ở đây vị được cử ra làm chủ lễ là vị niên trưởng hoặc vị chức sắc cao nhất trong thôn xóm. Một chiếc hương án được kê ra, trên hương án có đỉnh trầm hương hoặc bình hương thắp tỏa khói nghi ngút. Hai bên đỉnh trầm hương có hai ngọn đèn dầu hoặc hai ngọn nến.

Lễ vật gồm chiếc thủ lợn hoặc con gà, bánh chưng, mứt kẹo, trầu cau, hoa quả, rượu nước và vàng mã, đôi khi có thêm cỗ mũ của Đại Vương hành khiển. Lễ quý hồ thành bất quý hồ đa, nhưng dù nhiều dù ít, lễ vật bao giờ cũng phải gồm có vàng hương, vàng lá hay vàng thoi tùy tục địa phương và nhất là không quên được rượu, vì vô tửu bất thành lễ.

Đến giờ phút này, chuông trống vang lên, ông chủ tế ra khấn lễ, rồi dân chúng kế đó lễ theo, với tất cả sự tin tưởng ở vị tân vương hành khiển, cầu xin ngài phù hộ độ trì cho được một năm may mắn, bao nhiêu sự không may năm trước sẽ qua hết. Tại đình làng, cùng với lễ cúng ngoài trời còn lễ thành hoàng hoặc vị phúc thần tại vị nữa.

Các chùa chiền cũng có cúng lễ giao thừa, nhưng lễ vật và đồ chay, đồng thời với lễ giao thừa nhà chùa còn cúng Phật, tụng kinh và cúng Đức Ông tại chùa. Ở các tư gia, các gia trưởng thường lập bàn thờ ở giữa sân, hoặc ở trước cửa nhà, trường hợp những người ở thành phố không có sân, cũng một chiếc hương án, hoặc một chiếc bàn kê ra với lễ vật như trên.

Và ở các tư gia, tuy người ta vẫn cúng lễ giao thừa với sự thành kính như xưa, nhưng bàn thờ thì thật là giản tiện. Có khi chỉ là chiếc bàn con với mâm lễ vật, có khi lễ vật được đặt trên một chiếc ghế đẩu. Hương thắp lên được cắm vào một chiếc ly đầy gạo hoặc vào một chiếc lọ nhỏ để giữ chân hương. Có nhiều gia đình hương thắp đặt ngay trên mâm lễ, hoặc cấm vào các khe nải chuối dùng làm đồ lễ.

Cúng giao thừa ở ngoài trời

Ngày xưa quan niệm rằng mỗi năm Thiên đình lại thay toàn bộ quan quân trông nom công việc dưới hạ giới, đứng đầu là một người có trí như quan toàn quyền. Năm nào quan toàn quyền giỏi giang anh minh, liêm khiết thì hạ giới được nhờ như: Được mùa, ít thiên tai, không có chiến tranh, bệnh tật…Trái lại, gặp phải ông lười biếng kém cỏi, tham lam…thì hạ giới chịu mọi thứ khổ.

Và các cụ hình dung phút giao thừa là lúc bàn giao, các quan quân quản hạ giới hết hạn kéo về trời và quan quân mới được cử thì ào ạt kéo xuống hạ giới tiếp quản thiên hạ. Các cụ cũng hình dung phút ấy ngang trời quân đi, quân về đây không trung tấp nập, vội vã, thậm chí có quan, quân còn chưa kịp ăn uống gì.

Những phút ấy, các gia đình đưa xôi gà, bánh trái, hoa quả, toàn đồ ăn nguội ra ngoài trời cúng, với lòng thành tiễn đưa người nhà trời đã cai quản mình năm cũ và Đón người nhà trời mới xuống làm nhiệm vụ cai quản hạ giới năm tới.

Vì việc bàn giao, tiếp quản công việc hết sức khẩn trương nên các vị không thể vào trong nhà khề khà mâm bát mà chỉ có thể dừng vài giây ăn vội vàng hoặc mang theo, thậm chí chỉ chứng kiến lòng thành của chủ nhà.

Vì cứ tưởng tượng thêm thắt các hình ảnh nhà trời theo mình như vậy nên nhiều nhà có của đua nhau cúng giao thừa rất to và nghĩ cách làm mâm cúng giao thừa nổi lên bởi những của ngon vật lạ, trang trí cầu kỳ để các quan chú ý, quan tâm đến chủ hảo tâm mà phủ hộ cho họ với những ưu ái đặc biệt.

Trong đêm Giao Thừa, sau khi làm lễ giao thừa xong, có những tục lễ riêng mà cho tới ngày nay từ thôn quê đến thành thị vẫn còn nhiều người theo giữ.

Đi chùa,  đình, đền Lễ giao thừa ở nhà xong, người ta kéo nhau đi lễ các đình, chùa, miếu, điện,  để xin Phật, Thần phù hộ độ trì cho bản thân và cho gia đình. Và nhân dịp người ta thường xin quẻ đầu năm.

Kén hướng xuất hành

Khi đi lễ, người ta kén giờ và kén hướng xuất hành, đi đúng hướng đúng giờ để gặp sự may mắn quanh năm. Ngày nay, người ta đi lễ nhưng ít người kén giờ và kén hướng.

Hái lộc

Đi lễ đình, chùa, miếu, điện xong, lúc trở về người ta có tục hái một cành cây mang về ngụ ý là lấy lộc của Trời đất Phật Thần ban cho. Trước cửa đình cửa đền, thường có những cây đa, cây đề, cây si cổ thụ, cành lá xùm xòa, khách đi lễ mỗi người bẻ một nhánh, gọi là cành lộc.

Cành lộc này mang về người ta cắm trước bàn thờ cho đến khi tàn khô. Với tin tưởng lộc hái về trong Đêm giao thừa sẽ đem lại may mắn quanh năm, người Việt Nam trong buổi xuất hành đầu tiên bao giờ cũng hái lộc. Cành lộc tượng trưng cho tốt lành may mắn.

Về tục xuất hành cũng như tục hái lộc có nhiều người không đi trong đêm giao thừa, mà họ kén ngày tốt giờ tốt trong mấy ngày đầu năm và đi đúng theo hướng chỉ dẫn trong các cuốn lịch đầu năm để có thể có được một năm hoàn toàn may mắn.

Hương lộc

Có nhiều người trong lúc xuất hành đi lễ, thay vì hái lộc cành cây, lại xin lộc tại các đình đền chùa miếu bằng các đốt một nắm hương hoặc một cây hương lớn, đứng khấn vái trước bàn thờ, rồi mang hương đó cắm tại bình hương bàn thờ Tổ tiên hoặc bàn thờ Thổ Công ở nhà.

Ngọn lửa tượng trưng cho sự phát đạt. Lấy lửa tự các nơi thờ tự mang về, tức là xin Phật Thánh phù hộ cho được phát đạt tốt lộc quanh năm.

Trong lúc mang nấm hương từ nơi thờ tự trở về, nhiều khi gặp gió, nấm hương bốc cháy, người ta tin đó là một điềm tốt báo trước sự may mắn quanh năm. Thường những người làm ăn buôn bán hay xin hương lộc tại các nơi thờ tự.

Xông nhà

Thường cúng giao thừa ở nhà xong, người gia chủ mới đi lễ đền chùa. Gia đình có nhiều người, thường người ta kén một người dễ vía ra đi từ lúc chưa đúng giờ trừ tịch, rồi khi lễ trừ tịch tới thì dự lễ tại đình chùa hoặc ở thôn xóm, sau đó xin hương lộc hoặc hái cành lộc về.

Lúc trở về đã sang năm mới, người này đã tự xông nhà cho gia đình mình, mang sự tốt đẹp quanh năm về cho gia đình.

Đii xông nhà như vậy tránh được sự phải nhờ một người tốt, vía khác đến xông nhà cho mình. Nếu không có người nhà dễ vía để xông nhà lấy, người ta phải nhờ một người khác trong thân bằng cố hữu tốt vía để sớm ngày mồng một Tết đến xông nhà, trước khi có khách tới chúc Tết, để người này đem lại sự dễ dãi may mắn lại.

Nguồn: Phong Thủy Tổng Hợp

 

+++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++

 

                         GIÓ  MÙA  XUÂN

Truyện ngắn

image020

THANH TH ƯƠNG HOÀNG

            Đã mười mấy năm trôi qua mà mỗi lần nhớ lại cái ngày khủng khiếp ấy Thắng vẫn không khỏi rùng mình, nổi da gà. Chẳng bao giờ anh nghĩ còn sống được tới hôm nay, có lẽ do phước đức ông bà để lại. Cái ngày khủng khiếp đó diễn ra sau ngày 30 tháng 4 năm 1975. Trong một trận đánh ở mặt trận Long Khánh, Thắng bị thương nặng và được chuyển về Bệnh viện Cộng Hòa cấp cứu. Sau những ngày mê man Thắng hồi tỉnh mới biết mình bị cụt hai chân trên quá đầu gối và cánh tay phải. Và khi gỡ băng ở mặt ra anh biết thêm mình bị hư một con mắt. Viên đạn pháo của địch đã rớt trúng hố cá nhân của Thắng làm anh bất tỉnh từ giờ phút đó. Sau này anh được một bạn đồng đội kể lại là khi vết thương làm độc, anh mới được chuyển tới Bệnh viện Cộng Hòa.

Rồi ngày 30 tháng Tư ập xuống Thành phố Saigon, Thắng chỉ được biết tin tức một cách lơ mơ. Mặc dù vết thương chưa lành vẫn còn băng bó nhưng buổi chiều ngày hôm đó, Thắng còn nhớ như in, người ta vào Bệnh viện xua đuổi anh và các thương bệnh binh khác phải rời khỏi nơi này ngay để họ lấy chỗ chữa trị cho các đồng chí của họ. Thế là tất cả thương bệnh binh Miền Nam Việt Nam dắt díu nhau rời Bệnh viện. Thắng rời Bệnh viện, cũng như mọi người, với bộ đồ bệnh nhân và chân tay còn băng bó. Một anh bạn hạ sĩ may mắn chỉ cụt một cánh tay đã cõng Thắng ra khỏi cổng bệnh viện. Ngoài đường người người nhớn nhác qua lại với tất cả sự hoảng hốt sợ hãi. Một người trông thấy Thắng ngồi bệt bên lề đường, nói to: “Không chạy mau đi còn định ngồi đó ăn vạ sao! Chúng nó giết chết cả lũ bây giờ”. Anh bạn thương binh cõng Thắng, đang ngồi bên cạnh thở mệt, nghe vậy vội vàng đứng lên, nói với Thắng: “Thôi cậu ráng lết đi, tớ phải chuồn đây, hết sức rồi”. Dứt lời anh ta tất tả bước lẫn vào đám đông. Còn lại mình Thắng, anh đưa bàn tay còn lại che mặt khóc rưng rức. Anh không hề buồn trách người bạn bỏ đi, đó là lẽ thường tình của con người trước nguy cơ đe dọa.  Nhưng đây là lần đầu tiên trong đời anh cảm thấy bơ vơ trơ trọi, đơn độc tận cùng. Từ ngày ra trận mạc với bao gian nan nguy khốn anh vẫn coi thường, nhưng lần này bỗng nhiên anh thấy sợ và bật khóc. Biết về đâu bây giờ?

Quê anh tận Miền Trung xa lắc. Trừ bà mẹ già ra anh không còn một người thân. Anh có một cô bạn gái nhưng hai người chưa hề có lời cam kết sống đời. Nhất là sau trận đại hồng thủy này chắc gì cô còn sống? Mà nếu cô còn sống chắc gì đã có cơ hội gặp lại nhau. Và nếu có may mắn gặp lại nhau chăng nữa chắc gì cô đã nhận ra anh và chấp thuận những rủi ro mất mát anh đang có? Thắng bây giờ mới thấm thía câu “tứ cố vô thân”. Không nhà cửa, không gia đình, không người thân, nhất là không một đồng bạc trong túi, Thắng biết đi về đâu, biết làm gì để sống trong khi thương tật trên thân thể anh vẫn chưa lành lặn, vẫn nhức nhối vô cùng vì sự vận động và xúc động quá mức. Thắng trong lúc suy nghĩ bi quan dẫn đến tuyệt vọng, anh thấy chỉ còn có con đường duy nhất giải thoát sự sống là lao mình vào những xe quân sự của bộ đội cộng sản di chuyển trên đường. Tiếng động cơ rầm rầm khiến Thắng có cảm tưởng như tiếng gầm gừ của con thú dữ đang há miệng nhe nanh sắp sửa ăn thịt mình. Phải chết thôi. Chết để trọn vẹn với cuộc đời người chiến sĩ bại trận: chết bởi quân thù. Nước mắt nơi con mắt độc nhất của Thắng lại tuôn ra. Tại sao mình không chết luôn ngoài mặt trận để khỏi phải nhận lãnh cái nhục bại trận thảm hại này? Giữa lúc Thắng cố lết cái tấm thân tàn tật ra khỏi lề đường thì có một cánh tay níu anh lại. Một giọng nói của người đàn bà nổi lên: “Ô hay, muốn chết hay sao mà bò ra lòng đường đầy xe cộ!”. Thắng quay nhìn lại phía tiếng nói. Đó là một bà già gầy gò, áo quần rách rưới. Thắng nói như trong mê sảng không suy nghĩ: “Phải, tôi muốn chết”. “Đừng có tính bậy nào. Có phải thương binh quân ta không? Vừa bị chúng nó đuổi ra khỏi nhà thương Cộng hòa à?”. Dứt lời bà già dồn tất cả sức lực kéo Thắng vào trong lề đường. Bà hỏi: “Nhà ở đâu?”. Thắng không trả lời chỉ lắc đầu. “Thế còn vợ con?”. Thắng vẫn lắc đầu. Bà già thở dài: “Thế là vô gia cư rồi. Có phải vì vậy mà anh định tự tử?”. Thắng vẫn lắc đầu nhưng khóe mắt anh nước mắt lại trào ra. “Bây giờ về nhà tôi ở tạm ít ngày chịu không?”.

Không đợi Thắng “chịu không” bà già ngoắc một xích lô đạp chở hai người đi.

Mười mấy năm trời trôi qua Thắng vẫn tưởng như mới xẩy ra ngày hôm qua. Và anh vẫn nhớ như in từng sự việc. Căn nhà của bà già, đúng hơn là một túp lều nhỏ, bốn phía được quây bởi mấy tấm ni lông và mái lợp bằng lá dừa khô. Căn lều nằm trong góc sâu của một nghĩa điạ, hình như một nghĩa địa bị bỏ hoang từ lâu. Mấy ngày sau Thắng biết trong nghĩa địa này có nhiều gia đình những người ăn xin. Chính bà già ân nhân của Thắng cũng hành nghề này. Bà sáng sớm đã ra khỏi “nhà”, tới trưa mới về đưa thức ăn cho Thắng xong lại đi. Phần ăn là một tổng hợp pha trộn đủ thứ thuộc loại cơm thừa canh cặn như: cơm, canh, thịt, cá, xương, rau, đậu...Đây là đồ ăn thừa của khách ở các cửa hàng ăn uống. Lần đầu ăn Thắng thấy rờn rợn ghê ghê, nhưng rồi quen dần anh lại thấy ngon miệng. Chính những thức ăn ‘ăn xin’ này đã nuôi dưỡng Thắng, làm cho thương tật của anh mau chóng lành lặn, sức khỏe mau chóng hồi phục vì cơ thể được cung cấp đầy đủ chất bổ.

Một hôm bà già ôm về một đứa bé còn đỏ hỏn. Thắng ngạc nhiên. Bà già nói: “Má thấy nó khóc eo éo nơi thùng rác nên bồng về đây. Kiến với ruồi bu đầy mình nó. Nếu má không thấy thì chỉ vài giờ nữa thằng bé toi mạng”. Bắt đầu từ đó Thắng có bổn phận trông nom chăm sóc đứa bé. Anh tên là Thắng bây giờ trở thành kẻ thua nên để ghi nhớ cái năm tháng định mệnh của đất nước và của cả đời mình, anh đặt tên thằng bé là Nguyễn Thua. Nguyễn là họ của Thắng. Đương nhiên thằng bé trở thành con nuôi của Thắng.

Ngày tháng trôi mau. Khu nghĩa địa ngày càng đông người các nơi đổ tới định cư và biến thành một khu gia cư ồn ào náo nhiệt. Những ngôi mộ được xây cất có mái đúc giờ trở thành tổ ấm của những cặp vợ chồng ăn xin trẻ. Đó là những “căn nhà” của những kẻ chiếm ngụ từ đầu. Còn đa số “nhà” được cất trên khoảng đất chật hẹp giữa hai ngôi mộ. Một nửa dân số trong khu gia cư này thuộc thành phần ăn xin. Số còn lại thì đi làm những công việc nặng nhọc ở các xí nghiệp thủ công nhỏ của tư nhân hoặc quét dọn hốt rác tại các chợ, hoặc trộm cắp cướp giật. Khi trời sắp tối người ta mới về và sự ồn ào náo nhiệt nổi lên từ đây cho tới tận khuya. Người ta nhậu nhẹt, người ta chửi nhau rồi đánh lộn. Thằng bé Nguyễn Thua lớn lên trong môi trường đó. Sáu tuổi nó đã là một đứa trẻ khỏe mạnh và lanh lợi. Nó được cho biết bà già ăn xin là bà ngoại và bố là Nguyễn Thắng, mẹ nó bị chết vì bệnh ngay sau khi sinh nó. Nó càng lớn càng thương yêu “bố Thắng” và bà ngoại. Hàng ngày nó được bốThắng dạy đọc và viết chữ quốc ngữ.

Sau khi thân thể quen với sự tàn tật và cuộc sống mới ổn định, Thắng cố dò la tin tức mẹ mình nhưng vẫn biệt tăm. Anh cho rằng mẹ mình nếu không chết về bom đạn cũng bị chết đói rồi. Trong lúc cuộc sống đang im lìm phẳng lặng trôi thì bà mẹ nuôi của Thắng mắc bạo bệnh qua đời. Bà thường ao ước, mong muốn khi chết được chôn trong áo quan. Bà có dành dụm một số tiền nhỏ không đủ trang trải việc chôn cất. May nhờ bà con sống trong khu nghĩa địa xúm lại giúp đỡ. Xác bà được bao bọc kín bởi những tấm ni lông và ngoài cùng bó chiếu. Phải đợi tới tối khuya người ta mới lén lút đào phần trên của một ngôi mộ đất rồi đặt xác bà già vào đấy vùi đất lại. Thắng và thằng Thua ngày ngày quanh quẩn bên ngôi mộ bà già khóc lóc thảm thiết. Bà chết đi để lại cuộc sống vất vả khốn khó cho hai bố con Thắng. Cuộc đời hai người từ đây rẽ vào một khúc ngoặt mới: phải tự lực mưu sinh. Thắng nhờ người đóng giúp một tấm ván khoảng mét vuông có bốn bánh xe nhỏ. Hàng ngày thằng Thua kéo tấm ván có Thắng ngồi trên tới các ngả tư đường đông người qua lại để hành nghề ăn xin.

&

 Nhiều đêm khuya trằn trọc không ngủ được Thắng nhớ tới những ngày tháng xưa cũ, thời gian anh sống với các bạn bè đồng ngũ. Anh nhớ nhiều tới lão trung sĩ trung đội phó, tuy hay hách sì sằng và nổi nóng chửi thề với anh em nhưng rất tốt bụng. Thắng mới đầu rất ghét lão nhưng một lần trong trận đánh, một anh tân binh bị trọng thương, lão đã vác trên vai người bạn đồng ngũ trẻ này chạy phăng phăng giữa lằn đạn địch. Khi tới chỗ an toàn thì người lính trẻ tắt thở. Lão trung sĩ đã ôm thây người lính trẻ khóc nức nở như chính con lão chết. Rồi nhớ tới thằng Tư móm, một cây hề của trung đội, thằng này không bao giờ biết buồn là gì. Hôm được tin mẹ nó chết, nó vẫn nói năng khôi hài khi mọi người đến chia buồn với nó. Nhưng Thắng đã bất chợt bắt gặp nó ôm mặt khóc khi tưởng không có ai gần bên. Và còn biết bao bạn hữu đồng ngũ thân thiết nữa. Bây giờ không biết bọn họ ở đâu, sống hay chết. Thắng cầu nguyện cho họ không gặp phải những nỗi đoạn trường như mình. Chiến tranh đã phá hoại thân thể và đời sống anh, anh không oán trách và chấp nhận thân phận kẻ thua trận phải chịu cảnh đọa đầy nhục nhã. Nhưng trong anh vẫn còn lẩn quẩn một nỗi niềm, một uẩn khúc gì đó mà anh chưa gọi tên nó ra được. Anh đã bị các cấp chỉ huy, các bạn đồng đội và tất cả chiến hữu trong quân đội Việt Nam Cộng Hòa bỏ quên? Anh phải gánh chịu nhục nhã cho tất cả những người thua trận? Anh nghe tin tức thấy nói những quân nhân may mắn chạy thoát khỏi bàn tay trừng trị của kẻ thù giờ đây đang lập nghiệp nơi nước ngoài có một đời sống no đủ, sung sướng. Và họ cũng không quên những chiến hữu trong nước. Họ đã tổ chức lạc quyên nhiều lần gửi tiền về cứu giúp, nhất là trong dịp Tết nhất. Nhưng riêng bản thân Thắng cho tới nay vẫn chưa nhận được một đồng nào. Có lẽ họ tưởng anh chết hoặc không biết địa chỉ. Ở khu đất này chỉ có địa chỉ người chết chứ làm gì có địa chỉ người sống!

Cuộc đời Thắng cứ thế sống trong sự tàn phế tối tăm nhục nhã, không một chút hy vọng, không một chút đợi chờ vào ngày mai. Đời sống ngày càng khó khăn đến nỗi nghề ăn xin cũng phải dùng tất cả mánh lới thủ đoạn mới đánh động được lòng người. Nhiều buổi hai cha con Thắng xin không đủ tiền ăn tối, phải uống nước lã cầm hơi. Thắng chịu đựng được nhưng còn thằng Thua, nó đang tuổi ăn tuổi lớn. Nó nhịn đói một bữa đã xanh mặt muốn té sỉu. Cả bầu trời u ám đen sì đang phủ xuống cuộc sống hai cha con Nguyễn Thắng. Nhiều đêm Thắng nằm mơ thấy mình nhận được tiền bạn bè đồng ngũ từ ngoại quốc gửi về, không nhiều nhưng cũng đủ để hai cha con Thắng sống cầm hơi một thời gian. Ít ra thì hai người khỏi phải hành cái nghề đốn mạt nhất xã hội này. Có được số vốn dù là nhỏ, Thắng sẽ cho thằng Thua đi bán vé số. Nhưng giấc mơ vẫn là giấc mơ. Sáng ra mở mắt thấy đời vẫn tối tăm mù mịt.

Một hôm Thắng bị sốt phải nằm nhà để thằng Thua đi xin ăn một mình. Tối về, vừa thấy Thắng nó đã kêu lên: “Thua rồi Bố ơi! Cả ngày nay chẳng có ma nào bố thí một đồng!”. Thắng vuốt tóc thằng Thua an ủi: “Không sao con, ngày mai nhất định sẽ khá! Các bạn đồng ngũ của Bố ở ngoại quốc sẽ gửi tiền về. Con sẽ thoát khỏi cảnh ăn mày ăn xin này. Con sẽ đi bán vé số. Con sẽ có một cuộc sống ổn định có nhân cách”.

     Nhưng rồi nhiều năm tháng trôi qua bố con Thắng cứ sống trong mỏi mòn chờ đợi, tuyệt vọng. Anh đã nhờ người viết thư cho các Báo, các tổ chức từ thiện, các hội đoàn ái hữu binh chủng ở nước ngoài, nhất là ở Mỹ...

&

Chiều Ba mươi Tết, Thắng nằm sốt rên rỉ. Thằng Thua “đi làm” (dân ăn xin trong khu này gọi đi ăn xin là đi làm cho nó sang) từ sáng tới giờ vẫn chưa thấy về. Ngoài cơn sốt lại còn thêm cơn đói hành hạ. Các nhà hàng xóm lăng xăng sửa soạn Tết. Có nhà còn giết cả gà luộc và mùi cơm nếp bốc ra thơm lừng. Thắng kéo chiếc mền rách che kín mặt để khỏi phải ngửi thấy những cái mùi hấp dẫn ấy.

Anh đang lo lắng thấp thỏm chờ đợi thằng Thua về thì có tiếng người léo nhéo: “Đấy, đúng chỗ ấy đấy! Bác Thắng ơi có khách Việt kiều tới thăm!”. Khách Việt kiều tới thăm! Một sự việc mà Thắng mong ước, mòn mỏi chờ đợi từng ngày bấy lâu nay! Thắng tung chăn ngồi dậy. Khách là một người đàn bà xa lạ. Thắng trố mắt nhìn. “Ông có phải là Nguyễn Thắng trước ở binh chủng B.?”. Người đàn bà hỏi, dọng nói nhỏ nhẹ lịch sự. “Vâng, đúng là tôi”. Nhìn thân thể đại tàn phế của Thắng  khách sững sờ xúc động. Bà quay mặt đi lấy khăn giấy lau vội mấy giọt nước mắt. Thấy khách lạ Việt kiều sang trọng quá bộ tới xóm nhà mả này, một số người hiếu kỳ xúm lại coi và xì xào bàn tán. “Ông có thể cho tôi biết số quân?”.Thắng  đọc ngay số quân và tên đơn vị của mình. Anh đã  thuộc làu từ khi nhập ngũ. “Ông có còn nhớ trung sĩ  La không?” khách hỏi. Thắng kêu lên: “Ô, lão trung sĩ trung đội phó hách sì sằng, hơi một chút là la lối om sòm! Tôi làm sao quên lão được!”. Khách cười: “Tôi là vợ của lão trung sĩ ấy đây!”. Thắng trố mắt nhìn khách chột dạ: “Tôi xin lỗi. Tuy ông ấy rất khó tính nhưng anh em trong trung đội đều quý mến ông ấy”.

Người đàn bà hạ dọng nói nhỏ cho Thắng đủ nghe: “Hôm nay tôi đem số tiền quyên góp của anh em ở nước ngoài về tặng ông”. Hai tai Thắng ù lên và đầu óc chuếnh choáng. Anh muốn nghe người khách nhắc lại lần nữa để biết chắc là mình không nghe lầm. Khách ngại ngùng đưa mắt nhìn những người đang đứng vây quanh.

Thắng biết ý nói to:”Đây là người bà con của tôi ở Mỹ về thăm tôi. Mong bà con cô bác giải tán để chúng tôi được tự nhiên chuyện trò”. Khi mọi người bỏ đi hết, khách lạ mở bóp lấy mấy tờ giấy bạc đô la trao cho Thắng. Hai tay Thắng run lên khi nhận tiền. “Có thư của các bạn ông gửi ông đây. Chẳng bao giờ họ quên ông đâu, chỉ vì không có địa chỉ của ông nên sự cứu trợ hôm nay mới tới. Mong ông đừng buồn phiền oán trách là anh em họ vui rồi. Thôi giờ tôi xin phép. Ít ngày nữa tôi sẽ trở lại thăm ông và nhận thư ông gửi cho bạn bè, nhất là cho ông trung sĩ hách sì sằng thường nhắc tới ông luôn”.

Khách vừa đi khỏi thì thằng Thua về. Mặt nó dài ra méo sệch: “Vẫn thua to Bố ơi. Thiên hạ mải lo sắm Tết quên chuyện bố thí. Thế là Tết này bố con mình đành...”. Thằng Thua chưa nói hết câu Thắng đã cất tiếng cười lớn - tiếng cười mà thằng Thua mới nghe thấy lần đầu ở Bố mình. “Bố con mình phen này đổi đời rồi con ạ. Con nghe xem có phải gió mùa Xuân đang tới không?”.

Trong lúc thằng Thua còn ngơ ngác không hiểu Bố nó nói gì thì Thắng đưa cánh tay độc nhất còn lại ôm nó vào lòng ghì chặt và nói tiếp qua hai hàng nước mắt rưng rưng: “Gió mùa Xuân bên kia bờ đại dương đã thổi tới nhà bố con mình mang theo tình người, tình đồng ngũ đầy ắp. Nhất định ngày mai Mùng Một Tết sẽ là ngày mở đầu cho những tháng năm tốt đẹp. Thế mà bao năm qua Bố cứ tưởng…”.

THANH THƯƠNG HOÀNG

 

 

+++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++

 

Mùa Xuân, đọc  truyện  ngắn

Lan rừng

Nhất Linh Nguyễn Tường Tam

Quang xuống xe rồi vào một cái nhà ở đầu phố để hỏi thăm đường đi Bản Lang và để thuê ngựa. Người cho thuê ngựa hỏi:

- Ông vào nhà ai trong đó?

- Vào nhà ông Vi Văn Hoài. Đường vào đấy có xa lắm không?

- Độ mười cây số thôi. Nhưng ông phải đi ngay kẻo trời tối mất. Để tôi lấy con ngựa thật khỏe ông đi cho chóng. Ông vào trong ông Hoài thì tôi không cần cho người đi theo dắt ngựa về, khi nào ra, ông đem ngựa lại trả tôi cũng được.

Rồi người cho thuê ngựa chỉ tay về phía một con đường lên dốc, bảo Quang:

- Ông cứ đi theo con đường đó. Đến một cái chùa đã đổ nát, thì ông rẽ sang bên tay phải, rồi đi thẳng, khi nào đến một cái cầu gỗ là đến Bản Lang.
Lên hết chỗ dốc, Quang cho ngựa chạy phóng để kịp đến trước khi tối trời.

Đi vài cây số gặp một cái chùa đổ nát, chàng theo lời người cho thuê ngựa rẽ về bên tay phải, rồi lại cho ngựa phóng. Nhưng đi được ít lâu, chàng có cảm cái tưởng là lạ rằng con đường đương theo không phải là đường về Bản Lang, tuy chưa lần nào chàng về Bản Lang cả. Chàng tự cho mình nghĩ thế là vô lý, rồi cứ cắm đầu quất ngựa.

Đi đã lâu lắm, đáng lẽ phải tới nơi rồi, mà vẫn chưa thấy cái cầu gỗ. Chàng nhìn ra không có một cái nhà nào để có thể hỏi thăm được. Chung quanh chỉ toàn rừng già; những cây cao vót, ngọn nghiêng ngả, rào rào trước ngọn gió chiều vừa bắt đầu nổi lên. Chàng thấy rợn rợn, sợ hãi trước cảnh non cao rừng cả, nhưng vẫn quất ngựa cho phóng nước đại, tiến lên.

Đường thấy khó đi dần. Hai bên toàn một thứ cỏ cao, hoa trắng như bạc, lá nhọn và sắc. Sương chiều dần dần tỏa xuống, Quang phải cho ngựa đi từ từ, vì cách năm thước không nom thấy rõ đường.

Bỗng chàng ghì ngựa lại, lắng tai, mừng rỡ. Trong sương, chàng vừa nghe rõ có tiếng người, tiếng thanh thanh của một người con gái:

- Có ai cưỡi ngựa trắng đi trên đường. Quang cất tiếng hỏi:

- Ai đấy?

Thấy có tiếng động ở sau lưng, Quang quay nhìn lại. Một người con gái Thổ vai gánh hai cái giỏ, đi với một đứa bé con tiến đến phía chàng.

- Đến Bản Lang còn xa không, cô?

Quang vừa hỏi vừa nhìn cô gái Thổ và để ý đến nước da trắng và đôi mắt đen của cô bé. Chàng lấy làm lạ rằng cái sợ hãi lúc nãy đã biến đâu mất và tủi thẹn rằng mình được yên tâm như thế là nhờ ở một cô con gái yếu ớt.

Quang nhắc lại câu hỏi:

- Đến Bản Lang còn xa không, cô?

Người con gái thản nhiên đáp:

- Ông đi nhầm đường rồi.

Quang buột mồm kêu:

- Bây giờ làm thế nào?

Chàng toan quay ngựa thì cô gái Thổ như đoán được ý chàng, nói:

- Ông không quay về được nữa đâu.

- Nhưng mà đêm nay có trăng.

- Có trăng, nhưng nhiều sương không nom thấy rõ đường.

Thấy Quang lưỡng lự, cô gái Thổ nói tiếp:

- Vả lại ông phải đi qua một cái rừng có nhiều hổ.

Cô con gái quay lại vẫy đứa em:

- Chúng mình về đi thôi, kẻo ở nhà mong.

Quang không muốn quay lại nữa, hỏi cô bé:

- Nhà cô ở gần hay xa?

- Gần đây.

- Tôi muốn về nhà cô có được không?

Cô gái Thổ vừa đi vừa nói:

- Ông cứ về.

Quang nhảy xuống ngựa, rồi yên lặng rẽ cỏ đi theo hai chị em cô Thổ.

Chàng tưởng mình đi trong một thế giới huyền ảo vì chung quanh chàng chỉ có một màu sương trắng mờ dưới ánh trăng.

Đi khỏi mấy khóm cây, bỗng chàng nghe thấy một tiếng gì ở xa, ồn ào như tiếng họp chợ.

- Tiếng gì thế cô?

- Tiếng thác. Thác Linh Hai ở gần nhà em.

*

Vì trời không lạnh lắm, nên Quang bảo cô gái Thổ cho mượn cái chiếu để chàng nằm ngủ ngoài sân sàn. Chàng vừa ăn cơm no, và uống ít rượu nên thấy trong người dễ chịu, khoan khoái. Bữa cơm chỉ có một đĩa chả trứng và một bát canh măng mai, nhưng chàng ăn rất ngon miệng; xưa nay chàng không thích rượu, mà bữa cơm ấy chàng cũng uống nổi hai chén, vì rượu đó chàng thấy có một hương riêng phảng phất như hương lan. Cha mẹ cô gái Thổ đối với chàng rất là ân cần. Chàng mừng rằng lỡ đường lại gặp được một gia đình tử tế như vậy, và nhất là được gặp một cô gái Thổ xinh đẹp.

Chàng mỉm cười, sung sướng, đánh diêm châm thuốc lá hút và đợi cô gái Thổ mang chiếu ra để được nhìn lại nét mặt cô dưới bóng trăng. Giải chiếu xong, chàng nằm một lát rồi ngủ thiếp đi.

Lúc Quang sực tỉnh thì trăng đã lên cao, sương đã tan hết. Trời trong lắm, nên những ngọn núi trông như ở sát ngay cạnh nhà, mấy giải rừng đen trên ngọn núi in rõ nền trời đầy sao.

Nghe có tiếng dệt vải sau nhà, Quang tìm đến chỗ dệt vải định xin nước uống và nhất là để gặp mặt cô gái Thổ, vì chàng chắc rằng chính cô đương ngồi dệt vải.

Cô gái Thổ ngừng thoi, mỉm cười, nhìn Quang hỏi:

- Ông chưa đi ngủ?

Quang hỏi lại:

- Thế cô cũng chưa đi ngủ.

- Em còn dệt vải.

- Còn tôi thì khát nước, nên không ngủ được.

Cô gái Thổ lại cúi xuống bắt đầu dệt.

- Ông ra suối mà uống.

- Tôi sợ lắm, sợ hổ nó ăn thịt.

Cô gái Thổ bật cười. Quang thấy hết cả ngượng nghịu, chàng tiến lại đứng sát bên khung dệt, hỏi:

- Tên cô em là gì?

- Tên em là Sao.

Quang mỉm cười nói:

- Thảo nào mà cô đẹp như sao trên trời.

Cô Sao ngây thơ đáp:

- Em chẳng đẹp.

Nhưng câu đó cô ta nói bằng một thứ giọng cố làm ra nũng nịu, và vừa nói vừa đưa mắt nhìn Quang một cách tinh nghịch.

Bỗng Quang thấy thoảng qua một cơn gió thơm ngát mùi hoa, và ngay lúc đó Quang nhận thấy nét mặt cô gái Thổ tươi lên bội phần. Nàng nói:

- Nửa đêm rồi.

Quang lấy đồng hồ xem thì kim chỉ đúng mười hai giờ. Chàng ngạc nhiên hỏi:

- Sao cô biết đúng thế?

- Vì hoa lan nở. Ông không ngửi thấy mùi thơm à?

- Có, nhưng mà lan gì vậy?

- Hoa lan rừng, nở đúng nửa đêm.

Cô Sao đặt thoi xuống, rồi nhìn thẳng vào mặt Quang, nói:

- Ông có đi chơi rừng không... đi xem lan nở, và nhân tiện em đưa ông ra suối uống nước.

Quang thấy một cô gái rủ mình đi chơi rừng đêm, lấy làm ngạc nhiên vô cùng, song chàng nghĩ rằng người đường rừng có tính tự nhiên, chất phác, nên sự đó, họ cho là thường chăng.

Quang để cô Thổ đi trước mình một ít. Qua mấy thửa ruộng ngô non, hai người đến một cái khe suối, nước chảy lấp lánh như bạc sau những ngọn cỏ đen.

Quang hỏi:

- Nước này uống có sợ sốt rét không cô?

- Không sao. Ngày nào em cũng uống. Anh trông người em tươi tắn thế này thì đủ biết.

Quang bạo dạn tiến lên trước rồi quay lại cúi nhìn vào tận mặt cô Thổ, mỉm cười nói đùa:

- Thử xem mặt cô Sao có tươi tắn thật không nào.

Chàng đứng lặng nhìn không chớp mắt: mầu da cô Thổ dưới bóng trăng, chàng trông trắng mát như mầu một cành hoa phong lan và đôi mắt đen phảng phất như hai chấm đen trên cành hoa. Bỗng Quang thấy một thứ hương thơm thoảng qua, cũng một thứ hương thơm như ban nãy.

Cô Sao nói:

- ở bên suối đây có một cây lan. Cây này ít khi có hoa lắm. Nếu có thì chỉ nở một cái hoa là cùng. Ông muốn xem?

Quang lấy làm lạ; chàng vừa ví mặt cô Thổ với hoa lan thì cô ấy đột nhiên nói đến hoa lan như đã đọc được ý nghĩ của chàng.

Nhìn theo phía ngón tay trỏ của cô Thổ, Quang thấy một bông hoa trắng na ná như một bông huệ to, nhưng hai cành phía trên có hai chấm đen như mực. Thật là một thứ hoa lạ, chàng chưa được thấy bao giờ.

Quang tiến lên toan ngắt, thì cô Thổ vẻ mặt sợ hãi giơ hai tay giữ lấy tay Quang:

- Em xin ông. Chỉ có mỗi một cây này gần nhà, em quý lắm. Chốc nữa vào rừng vô số, ông tha hồ bẻ... Ông uống nước, rồi ta đi.

Quang cúi rạp xuống mặt suối uống nước và tưởng mình lúc đó như một con hổ đương uống bóng trăng.

Lúc ngửng lên, chàng để ý đến một vật gì trăng trắng ở giữa dòng suối. Nhìn kỹ thì là một hòn đá. Hòn đá ấy, kỳ dị thay, Quang thấy phảng phất giống hình một cái vai của một người con gái trắng trẻo nằm dưới làn nước. Chàng bảo cô Thổ:

- Trông hòn đá như vai người con gái, cô Sao ạ.

Cô Thổ cười bảo đùa Quang:

- Sao ông không đánh thức cô ta dậy để cùng vào rừng chơi... Nhưng mà cô ta còn mải tắm, chúng mình đi thôi.

Chữ "chúng mình" Quang thấy cô Thổ nói một cách thân mật, âu yếm. Lúc đó chàng cũng bắt đầu coi cô Thổ như một người tình nhân quen biết đã từ lâu. Chàng nắm lấy tay cô Thổ, nói:

- Chúng mình cùng nhẩy qua suối nào.

Lúc qua bên kia bờ suối, Quang hỏi cô bạn:

- Sao tay em lạnh thế em?

- Lúc nãy em vừa rửa tay ở nước suối.

Quang không để ý nên không biết là cô Thổ vừa nói dối chàng.

Hai người đi qua một bãi cỏ, rồi vào một cái rừng thưa. Bóng cành cây in trên đất, trên áo hai người lại càng tăng vẻ sáng của đêm trăng. Cô Thổ nói:

- Qua một cái rừng nữa thì đến chỗ lan nở.

Hai người đi vào bóng tối đen của rừng già. Quang có cảm tưởng như người vừa ở ngoài nắng vào trong rợp, chàng hơi sợ, nắm chặt lấy tay cô Thổ.

Đi khỏi một cái dốc, chàng thấy hiện ra ở trước mặt một mảng trắng xóa dưới bóng trăng.

- Rừng lan.

Cô Sao mừng rỡ vừa nói vừa kéo tay Quang chạy vào trong đám hoa. Hương thơm ngát, Quang thấy đầu óc choáng váng; chàng mơ màng thấy cô Thổ kéo mình ngồi xuống giữa rừng lan. Chàng lắc đầu dụi mắt để cố nhìn cho rõ, nhưng không thể được. Trong lúc bàng hoàng, chàng thấy hình như tất cả những bông hoa trong rừng đều ngả cả về phía chàng, những bông hoa mềm và mát rung rinh bên má chàng như mơn man, ve vuốt...

... Lúc chàng mở mắt ra chàng thấy mình nằm ở trên cỏ, chung quanh chỗ nằm, những bông lan đều ngả dẹp xuống đất. Chàng thấy có bóng đen che khuất ánh trăng, liền quay đầu nhìn lại: cô Thổ đứng bên cạnh chàng, tay cầm bó lá to, mỉm cười:

- Sao ông ngủ say thế. Em đánh thức mãi, ông mới tỉnh.

Quang ngạc nhiên:

- Tôi vừa ngủ? Thế mà tôi không biết đấy.

Ngẫm nghĩ một lát, chàng nói tiếp:

- Có lẽ không phải tôi ngủ đâu, vì say hương lan, nên thiếp đi một lúc đấy.

Quang nhìn cô Thổ một lúc rồi trong lòng sinh ra một mối nghi: hay cô con gái này không phải là người. Chàng vừa sợ vừa hỏi:

- Sao đầu tóc cô rối bời thế?

- Vì em phải chui qua bụi rậm để bẻ trộm ngô.

Cô Thổ vứt xuống bên cạnh Quang một bó ngô.

- Ông có diêm không để nướng ngô ăn?

- Không, tôi không mang diêm theo.

- Thế thì đi về đi, ông đi. Về nhà ăn ngô, em đói lắm.

Nghe tiếng cô Thổ nói, và trông điệu bộ, Quang lại thấy hết cả nghi ngờ.

Lạ nhất là đêm khuya ở giữa rừng có mỗi một mình mình với một cô con gái yếu ớt mà chàng không thấy có cái ham muốn của một người con trai khi gần người con gái. Chàng lại có cảm tưởng mà chàng cho là vô lý là người con gái ấy đã thuộc về chàng rồi.

Cô Thổ bảo Quang:

- Bây giờ ông muốn hái hoa thì tha hồ hái. Em không cấm nữa đâu.

Quang đứng dậy thấy trong người mỏi mệt lạ thường. Chàng không thiết hái hoa nữa; chàng chỉ muốn về ngay vì không chịu nổi hương lan thơm một cách hắc quá.

- Về đi, cô Sao.

Sáng hôm sau thức dậy, Quang nhìn phong cảnh chung quanh không thấy có vẻ huyền ảo như đêm qua nữa. Cô Thổ bưng ra một bát cháo nóng mời chàng một cách thân mật:

- Ông xơi cháo.

Quang đăm đăm nhìn cô Thổ. Dưới ánh sáng mặt trời, chàng thấy cô Thổ có cái vẻ đẹp hồng hào của một người con gái khỏe mạnh.

Ăn cháo xong Quang xin đi một cách vội vàng. Chàng chỉ mong đến nhà ông Vi Văn Hoài thu xếp cho chóng xong công việc, khi về chàng sẽ rẽ qua đây.

Quang nhìn cô Thổ:

- Đến mai xong công việc, đi qua đây tôi sẽ rẽ vào thăm cô.

Cô Thổ gật:

- Để em tiễn ông ra khỏi rừng, sợ ông lạc đường.

Quang dắt ngựa đi theo cô Thổ. Đi qua một cái suối, Quang hỏi:

- Hòn đá trắng đêm qua đâu mất rồi.

Cô Thổ đáp:

- ở về phía sau nhà em cơ. Rừng lan cũng ở về phía ấy.

Bỗng Quang thấy trước mặt sương dày đặc như khói. Cô Thổ bảo:

- Đây là khe núi, sáng nào cũng có sương. Phải quen đường mới đi qua được... Vì thế em mới phải tiễn ông ra tận đây.

Ra khỏi chỗ sương, Quang nhẩy lên ngựa từ biệt cô Thổ.

Ngựa đi được mươi bước, Quang quay đầu nhìn lại vẫn thấy cô Thổ đứng trong sương mù nhìn theo. Quang giơ tay nói to.

- Đến mai...

Lúc lên tới đường cái, Quang để ý đến hai cây chò lên cao vút như hai cái cột quét vôi trắng.

*

Hôm trước, Quang đã lầm đường vì người cho thuê ngựa quên không nói rõ cho chàng biết rằng: dọc đường, trước khi đến cái chùa đổ, có một cái miếu cũng đổ nát.

Quang mới đến cái miếu đã rẽ về bên tay phải. Chàng không trách gì người cho thuê ngựa, vì sự lầm đường ấy đã cho chàng được biết một cảnh thú vị.

Chiều hôm sau ở nhà ông Hoài ra, chàng cho ngựa phóng hết sức mau, vì chàng nóng lòng được gặp mặt cô Thổ. Đến cái miếu đổ nát, chàng rẽ về tay trái, rồi cứ đi mãi vào trong. Gặp hai cây chò, chàng cho ngựa đi rẽ xuống. Chàng lần theo vết cũ, rẽ cỏ đi được ít lâu thì đến cái thung lũng có nhà cô Thổ. Chàng cho ngựa nhẩy qua cái suối hôm nọ, nhưng lúc ngửng lên nhìn thì, bỗng chàng biến sắc mặt, nắm chặt lấy dây cương, mắt mở to nhìn thẳng về phía trước: ở chỗ đất mà chàng chắc là có cái nhà của cô Thổ, thì không có cái nhà nào cả. Đấy chỉ là một bãi cỏ.

Chàng nghĩ mình lầm đường và cho rằng tại cảnh đường rừng phần nhiều hay giống nhau. Chàng tiến ngựa lên trên bãi cỏ không thấy một dấu vết gì có thể chứng rằng ở chỗ ấy mới hôm qua đây còn có người ở, còn có nhà cửa.

Chàng lắng tai nghe: xa xa có tiếng thác chảy. Chàng lẩm bẩm:

- Rõ tiếng thác Linh Hai!

Chàng cho ngựa xuống và đi men theo dòng suối. Bỗng chàng ghì cương ngựa lại: sau đám cỏ chàng trông thoáng thấy một vật trăng trắng. Chàng nhẩy xuống ngựa đến gần xem thì đó là một hòn đá trắng; chàng kinh ngạc thấy hòn đá đó trông phảng phất giống hòn đá gần nhà cô Thổ, nghĩa là cũng giống hình như một cái vai của một người con gái trắng trẻo nằm dưới làn nước.

Quang lúc đó tưởng mình đang mê ngủ. Chàng muốn định thần trí lại để cố nghĩ cho hiểu sự lạ lùng ấy, nhưng không thể được. Hòn đá chàng thấy như có vẻ sống và dưới ánh sáng mặt trời chàng trông rõ một tia đỏ chạy ngang hòn đá như một tia máu.

Chàng cúi xuống giơ hai tay múc nước để rửa mặt cho tỉnh. Nước suối lạnh làm chàng rùng cả mình mẩy. Bỗng chàng thấy - rõ ràng chàng thấy - bên cạnh bóng mặt chàng in xuống đáy nước có bóng mặt một người khác nữa, mặt một người con gái Thổ chàng trông phảng phất giống cô Sao.

Chàng rợn người, đứng thẳng lên, nhìn quay lại thì không có ai cả. Chỉ có con ngựa của chàng đứng sau đang rứt cỏ ăn. Thoảng thấy hương lan, chàng nhìn quanh quẩn. Lúc ngửng lên, chàng thấy ở ngay trên đầu có một bông lan, hoa trắng nuột, cành điểm hai chấm đen... Bông lan rừng.

Quang toan giơ tay hái bông hoa, nhưng có một nỗi sợ vô cớ làm ngừng tay chàng lại. Văng vẳng bên tai chàng tưởng như nghe thấy tiếng cô Sao nói với chàng đêm hôm trước:

- Em xin ông, chỉ có mỗi một cây này gần nhà, em quý lắm.

Lúc ra đến ngoài đường cái, Quang đợi mãi mới gặp được một người Thổ kiếm củi đi qua. Chàng gọi lại hỏi:

- ở trong kia có nhà ai ở không?

Người Thổ đáp:

- Quanh đây không có nhà ai cả. Ai dám ở đây. Nhiều hổ lắm.

Quang bảo người Thổ lắng tai nghe tiếng thác rồi hỏi:

- Có phải thác Linh Hai đó không?

Người Thổ ngạc nhiên không hiểu:

- Thác Linh Hai? Linh Hai?... Không phải, đấy là thác Na Panh. ở khắp châu nầy không có thác Linh Hai.

Mấy hôm sau, người cho thuê ngựa thấy Quang sáng nào cũng đến thuê ngựa rồi cứ chiều tối mới đem ngựa về trả.

Bẵng đi mấy tháng, người cho thuê ngựa lại thấy Quang đến, nhưng lần này chiều không thấy đem ngựa về. Ngày hôm sau cũng không thấy bóng ông khách thuê ngựa đâu. Nửa đêm nghe tiếng động ở cửa, người cho thuê ngựa đem đèn ra soi thì thấy con ngựa của mình đứng bên giậu, hục hặc tìm lối vào.

Trên lưng ngựa, yên còn đóng nguyên, mà người thuê không thấy đâu cả.

Rút từ tập truyện ngắn Hai buổi chiều vàng,

Nxb. Đời nay, Hà Nội, 1937

 

++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++

 

Giật mình giữa mùa xuân

Truyện ngắn của Phan Ý Yên

 

Ngày 23 tháng 4 năm 2004. Năm đó cô vừa tròn hai mươi tuổi. Trong lúc đang ngồi cặm cụi ghi chép ở sảnh đường đại học thì cảnh sát đến tìm gặp. Họ bảo T đã cắt cổ tay tự vẫn. Ngoài di thư bảo là gửi cho cô. Thời điểm ấy, châu u bắt đầu vào xuân, hoa anh đào rộn ràng nở đầy các lối đi bộ thành phố. Cô chưa từng khóc một lần nào, chưa từng muốn kể lại hay nhắc về T với bất kỳ ai. Bởi vì, suốt mười năm qua, cô luôn tin rằng lựa chọn cái chết là sự lựa chọn ích kỷ nhất của một con người…

Cô gọi cô ấy là T, lúc đọc theo tiếng Anh sẽ đồng âm với từ “tea”, có nghĩa là trà, do mối quan hệ của hai người có nhiều kỷ niệm đẹp liên quan đến thứ nước âm ấm và thơm dịu dàng ấy. Lúc quen T, cô chỉ vừa mười tám, chân ướt chân ráo đặt chân đến nước Pháp với vỏn vẹn một nghìn euro trong tay. Đóng học phí và các thể loại bắt buộc xong thì còn gần hai trăm trong túi. Vậy là chẳng còn cách nào, bắt buộc len lỏi đi xin việc ở khắp nơi. Không phải ai cũng có được cái may mắn để được nhận làm ở những nơi mà các văn phòng tư vấn du học hay quảng cáo như McDonald’s hay KFC, những công việc mang lại thu nhập 8 euro/giờ, mà đa phần tập trung tranh đấu lấy một chỗ ở các nhà hàng châu Á nằm san sát nhau trên phố Tàu. Ở Paris, thỉnh thoảng bạn vẫn tìm được một nhà hàng Á trả lương tử tế, còn ở các thành phố nhỏ, 20 euro làm việc từ 5 giờ chiều đến 1 giờ đêm, bạn còn phải năn nỉ để có. Như cô chẳng hạn. Cô cần tiền. Nên sẵn sàng đứng kỳ kèo suốt ba mươi phút với mụ chủ người Hoa biết nói tiếng Việt cho đến khi mụ gật đầu với cái bĩu môi khinh miệt. Mười tám tuổi. Cô đã nung nấu trong đầu mình. Dù có thế nào, cũng nhất định phải sống và không thể thua.

 

Nhưng T thì không vậy. T là người Việt sinh ra ở Pháp. Luôn có cái nhìn trìu mến với mọi điều, cho dù là bé nhỏ nhất. Cô gặp T vào ngày 23 tháng 4 năm 2003, ở một tiệm hoa có bán trà và bánh ngọt trên gác xép. Không khí thật thanh an và khiết lành. Hôm ấy, lần đầu tiên trong đời mình, cô nhìn thấy hoa camellia (hoa trà) ở ngoài đời thực, muốn mua một bông cho mình nhưng tiếc tiền nên cứ chần chừ mãi trước cửa. T làm việc ở đó, đã quan sát cô hồi lâu rồi bất ngờ tiến đến nói: “Những bông hoa này, chỉ nên ngắm nhìn thôi, chúng không còn đẹp nữa khi mua về”. Ngay vào khoảnh khắc đầu tiên kia, cô đã hiểu, cho dù cuộc đời sẽ đi qua những vùng đất nào, gặp gỡ, yêu thương rồi sai lầm với những người nào, cũng chưa chắc tìm được một người có thể đồng cảm và trân trọng mình từ những vụn vặt ý nhị như thế. Sau này, họ gặp gỡ nhau thường xuyên hơn, sự thân thiết giống như một điều hiển nhiên lớn dần theo mỗi phút. T không có nhiều tiền. Còn cô là một sinh viên nghèo không gì chối cãi, phải làm việc tất cả các buổi tối cho đến 1 giờ đêm nếu muốn có đủ tiền sinh sống. Nhưng cô bớt hoảng sợ hơn, bớt bất an và đơn độc hơn vì có một người bạn bên mình.

T không có bố. Giống cô. Gia đình không còn lại nhiều người nhưng chẳng ai có thể nói với ai câu nào. T ra ngoài sống riêng từ khi mười sáu và thường xuyên khóc một mình. Có lần cô hỏi: “Tại sao người ta khóc mãi mà chẳng thấy mệt nhỉ?”. T mỉm cười: “Vì có những điều khác còn nặng nề hơn cả nước mắt”. Cô không để tâm. Cô muốn làm việc thật nhiều, học hành cật lực để thoát ra khỏi những tháng ngày chật vật. Mười tám tuổi, cô không khóc vì mình đơn độc. Cô khóc vì mình không thể nghĩ ra cách nào khác tốt hơn để lại có thể sống những ngày tháng thảnh thơi như người này người khác. Có đôi lần, cô đã giận mẹ mình. Vì đã sắt thép với đứa con gái duy nhất như thế. Nhưng càng lớn lên rồi mới hiểu, để rèn giũa ý chí của một con người luôn cần có ai đó nhẫn tâm và lạnh lùng với họ. Nhưng mà, hình như cô cũng đã quá thờ ơ với T. Lần này, không thể khiến T đứng dậy mà trái lại rời bỏ cô đi mãi mãi.

Đột nhiên, cô không muốn kể tiếp câu chuyện nữa. Vì những ngày này, cô thường xuyên nghĩ về T, đến nỗi, sau ngần ấy năm mới đủ can đảm đọc di thư mà T để lại cho mình. Nó không giống một bức thư tuyệt mệnh gì cả. T kể chuyện hồi xưa họ đã gặp gỡ nhau ra sao, nói với nhau những lời thế nào. Trong thư, T vẽ những cái icon hình gấu cười nhăn nhở thật đáng yêu. T bảo rất thích nhìn thấy cô cười. T biết cô thực ra rất chơi vơi và cô độc, chỉ cố thể hiện mình mạnh mẽ mà thôi. T lúc nào cũng muốn cuộc sống giữa hai người trôi qua bình yên và lặng lẽ. Cô từ chối tình cảm của T cũng được, nhưng đừng ruồng rẫy, lúc nhọc tâm hãy cứ tìm T mà nằm gối đầu lên chân cho nước mắt chảy ngang. Nhưng khi ấy, cô là đứa trẻ con hèn nhát, vì sự bối rối và hoang mang của cá nhân mình mà sẵn sàng trốn chạy, rời bỏ T. Một con người nếu không có tình cảm này thì rồi từ từ cũng sẽ đón nhận được tình cảm khác. Một mối thương đau dù u uẩn cũng có cách mà dần dần phai nhạt theo thời gian. Đấy là người ta nghĩ thế. Người ta quy định thế. Người ta hy vọng thế. Còn T thì không…

Mà bây giờ cô cũng không. Vì nếu người ta buộc phải sống tốt, sống trách nhiệm và tuân thủ mọi luân thường đạo lý, thì người ta cũng nên được có quyền chọn cách kết thúc cho mình khi trái tim kiệt sức.

***

Cô viết. Em chưa từng đi tìm anh. Ngay cả trong những giấc mơ trước đây cũng chưa từng. Bản thân là một trái tim thất bại. Không thể nắm giữ được tình cảm của bất cứ người đàn ông nào. Nhưng gặp anh rồi. Cứ liều mạng thêm một lần mà hy vọng được yêu anh. Thế nên, đừng ruồng bỏ em! Đừng rời xa em! Vì bây giờ. Lúc này. Dẫu có thế nào. Em cũng sẽ đi tìm anh. Không phải vì em sợ đơn độc. Không phải vì em không có anh em sẽ không sống được. Mà vì những khoảnh khắc đã từng nhìn thấy anh trong thế giới của mình khiến em tin rằng: đôi khi không được thương, được quan tâm một người còn tệ hơn cả cái chết, tệ hơn cả việc phải khóc hàng đêm dài đằng đẵng.

Sự cố chấp đó. Nghe thật phi lý. Nhưng tình yêu. Vốn dĩ nó là điều phi lý ngu muội rồi. Người ta ai cũng sẽ hết yêu. Đó là người ta tưởng vậy. Vì đến một thời điểm cần thiết, bạn nhất định sẽ lại phi lý ngu muội nhiều lần với cùng một người mà thôi. Nếu yêu.

Cô viết xong rồi. Gấp mảnh giấy làm tư cho vào một cái phong bao nhỏ. Bên ngoài ghi nắn nót. Gửi M. Rồi khẽ khàng để nó xuống cạnh đầu giường mình. Hôm qua bác sĩ bảo trong đầu cô có một thứ gì đó. Nghe đến đó thôi là cô bỏ chạy. Bây giờ mới là tháng tư, mùa xuân chỉ vừa đặt chân qua cửa. Người ta nhất định không nên biết những chuyện đáng sợ đến như vậy khi thời tiết đang đẹp thế này. Cô đi tìm M. Nhìn thấy anh đang ngồi đánh máy. Nắng xiên xiên qua khe cửa. Nước mắt chỉ chực rơi xuống. Vì sợ. Cuộc đời vốn dĩ không hoàn mỹ và trải đầy thảm hoa. Nhưng vào lúc này đây, cô không hề muốn mất nó một chút nào. Cô bảo M hãy ôm cô đi. Anh lắc đầu. Rồi quay lưng đi thẳng. Đó không phải là một giấc mơ. Đó là hiện thực. Lúc nhỏ mẹ cô thường bảo. Đừng bao giờ cố định nghĩa sự ràng buộc. Một người ở cạnh một người thực ra đều do tự nguyện. Nếu không mọi cố gắng cũng đều vô nghĩa. Chỉ còn mình ở lại với một vết nứt ở trong lòng. Mà nỗi đau nào cũng dễ khiến người ta trở nên hằn học và giận dữ. Phản xạ bình thường và nhân bản nhất là trách giận cái người đã phủ nhận sự tồn tại của mình. Như thể ngày hôm trước và hôm trước nữa chỉ là một khoảnh khắc nhắm mắt sai lầm. Nhưng rồi vĩnh viễn sẽ không bao giờ có hồi đáp. Cô thấy thật buồn cười. Vì ai cũng cặm cụi yêu đương, dốc hết cả tâm tư sức lực, chưa một lần vụ lợi gì cho bản thân. Xong rồi vào khoảnh khắc cuối, khi đối phương đã nguội lạnh thì mới quyết định vì mình mà ích kỷ. Những câu hỏi tự vấn đại loại kiểu: “Tại sao anh lại nhẫn tâm như vậy khi tôi luôn luôn chân thành?”, “Tại sao lại có loại người bạc bẽo như anh?”, “Tôi đã vì anh thế này thế kia mà sao anh hất đi ráo hoảnh?”… xuất hiện đồng loạt. Phải hỏi như vậy, phải cố chấp như vậy, phải trút mọi sự uất ức như vậy lên đối phương để mong bản thân được thanh thản. Cơ mà rốt cuộc có được đâu. Đến cả chuyện cố ích kỷ một lần cũng lại chỉ tự tổn thương mình thêm cú chót.

Đấy là khi tỉnh ngộ rồi cô mới nghĩ được sáng suốt. Còn lúc M bỏ đi. Cô cũng như bất kỳ đứa con gái nhẹ dạ nào trên địa cầu này. Nghĩ rằng M là một thằng tồi không hơn. Cô giấu mình trong nhà, dằn vặt hiện tại bằng đủ loại câu hỏi và câu trả lời. Từng khắc trôi qua chỉ càng thấy ghét thêm chính mình. Thái độ lạnh lùng của M như nhát dao cứa sâu vào nỗi hoang hoải vì bị bỏ rơi của cô, nhất là khi vào lúc này, lúc mà cô nghĩ người cô cần nhất lại chính là anh. Hóa ra cần một người nào đó khi hoảng sợ hay lạc lối cũng giống như phát hiện ra mình đang mắc phải một cơn nghiện. Vì bấy lâu luôn được “cung cấp” đầy đủ nên không hề nhận ra. Cho đến khi nguồn cung dừng lại mới thực sự thấm thía. Mới giật mình hẫng hụt. Là vì trông chờ nhiều quá nên lại càng thất vọng. Là vì ngỡ tưởng quá nhiều điều nên khi không còn nữa sự bất an lại càng tăng lên gấp vạn. Cô giận M lắm. Quên mất cả chuyện bác sĩ đã nói gì. Quên mất rằng sinh mệnh của mình phải luôn luôn là quan trọng nhất. Quên rằng T đã từng bảo cho dù có chuyện gì cũng phải giữ gìn bản thân mình được khỏe mạnh.

Có một ngày mùa đông, bên ngoài trời phủ tuyết trắng xóa mặc dù đã cuối tháng hai. Hôm ấy là sinh nhật cô. T nhắn tin bảo “Đi làm về muộn cũng được, hãy ghé qua nhà!”. Hơn hai giờ sáng cô mới đi bộ về đến nhà T vì xe bus không chạy nữa. Trên phố ẩm ướt phủ một màu vàng buồn bã. Một con mèo hoang co ro trên nóc thùng rác, đôi mắt sáng quắc nhìn chằm chằm về phía cô. Đột nhiên cô nghĩ về con mèo buổi tối hôm ấy. Vì nó cô quạnh, đôi chút bất hạnh nữa cũng nên nếu là số kiếp của một con mèo, nhưng nó không hề buồn bã mà trái lại, vô cùng ngạo nghễ, bất cần. Nó làm cô nhớ đến thứ khí chất ngoan cường mà cô đã luôn có trong suốt quãng thời gian dài tuổi trẻ. Không than vãn, không khóc, không bi lụy. Nước mắt có rơi cũng khô nhanh để còn bận tâm làm nhiều việc khác. Cô mở cửa bước vào nhà. T đang ngồi ở cái bàn nhỏ giữa phòng, vẻ mặt rạng rỡ. T hỏi có lạnh không rồi chạy ùa đến ôm chặt lấy cô. T phủi tuyết bám trên tóc trên áo, ấn cô ngồi xuống ghế. Vài phút sau mang ra một cái bánh táo cỡ nhỏ và một cốc trà. Là trà táo tàu và long nhãn. Bánh vẫn còn âm ấm mùi quế. Cô chăm chú nhìn T đang vụng về thắp nến, nụ cười vẫn còn lấp lánh sáng ngời. Khoảnh khắc ấy thật kỳ lạ. Cô thấy mình buồn quá đỗi. Niềm hạnh phúc đang cháy lên trong mắt T khiến cô ái ngại và lúng túng. Cô đẩy nhẹ T ra, khoác lại áo. “Mình về đây. Mệt rồi. Hôm khác gặp nhé! Cảm ơn”. Trên suốt đoạn đường dài lạnh buốt, cô đã khóc. Cô hoàn toàn không có ai. Chỉ mỗi mình T. Thế mà lại chẳng biết làm cách nào để yêu thương người đó cho trọn vẹn. Không phải vấn đề nào cũng có chung đáp án là “sự cố gắng”. Có những mối quan hệ vốn dĩ ngay từ lúc bắt đầu đã biết kết cục. Nhưng cả đôi bên đều không nỡ vì ai cũng nuôi dưỡng những hy vọng tốt đẹp. Chỉ có điều chúng không giống nhau vì hoàn cảnh và trái tim vẫn là của hai cá thể hoàn toàn riêng biệt. Mà càng nhiều mong đợi thì lại càng đẩy nhau ra xa khi nỗi thất vọng dần dần len lỏi vào. Cô thường nghĩ một ngày nào đó T sẽ mang tình cảm đang dành cho cô mà trao cho một người nào đó thích hợp hơn. Họ có thể không còn những buổi chiều mùa hè ngồi dọc triền sông yên lặng đọc sách, thỉnh thoảng đến một đoạn hay thì cùng thích thú kể cho nhau nghe. Cũng có thể T không làm bánh cho cô nữa hay lặng lẽ đến căn phòng áp mái nhỏ của cô đặt một khóm cúc trắng bé xíu trên bàn học, gấp lại chăn rồi bình thản ra về. Nhưng mà T sẽ được vui vẻ trọn vẹn, hạnh phúc trọn vẹn. Lúc đối diện với cô, có thể nhẹ nhàng mỉm cười thật tự nhiên như nhìn vào một phần ký ức đã trôi qua dịu dàng. Sự thân thuộc giữa những người có duyên với nhau bằng tình cảm sẽ mãi mãi giản dị cho dù thay đổi là một phần không thể tránh khỏi trong cuộc đời này. Tuy nhiên, đến lúc T chết, cô mới bàng hoàng nhận ra. Họ đã ở bên cạnh nhau trong một quãng thời gian đủ sâu sắc, chia sẻ với nhau nhiều xúc cảm mà không cần phải dùng đến quá nhiều ngôn ngữ. Nhưng mong ước của T chỉ duy nhất có một chữ. Là “Cô”. Cái gánh nặng đó, cô vốn không hề biết rõ, cô vốn chưa từng hình dung, chưa từng huyễn hoặc. Để rồi khi mọi thứ sáng tỏ, cô lần đầu tiên cảm thấy tình yêu giữa người này và người kia có thể trở nên quá nặng nề và ngạt thở.

Là như vậy. Cô tưởng mình hiểu. Mà vẫn không hiểu. Vì lúc yêu M đã vô tình mặc định M là tất cả những gì mình có. Cô không chấp nhận sự thật là mình yếu đuối. Ở tuổi hai mươi bảy, công việc, trải nghiệm, quan hệ, tài sản… cô đã chăm chỉ xây dựng tất cả như lời hứa với bản thân từ năm mười tám tuổi. Cô bắt đầu cho phép mình được khóc, được mưu cầu những điều hết sức phụ nữ và thật lòng với người đàn ông nào đó. Rồi M xuất hiện. M ngọt ngào. M có giọng nói ấm. Ánh mắt M nhìn cô khiến trái tim cô bối rối. Bàn tay M nắm lấy tay cô khiến cô thấy mình được an toàn. Cơ mà nếu M buông ra, hoặc không ở bên cạnh nữa, cô sẽ sợ hãi và hoang mang vô cùng. Anh đang làm gì, với ai, có nghĩ đến cô không. Hôm nay anh mặc áo màu gì, có cười không, hút bao nhiêu điếu thuốc, nghe nhạc gì, ăn gì lúc trưa, tại sao không nhắn tin cho cô buổi sáng. Mỗi một ngày trôi qua, sự hiện diện của M càng trở thành một phần bất di bất dịch trong cuộc sống của cô. Cô hạnh phúc nhưng bất an. Cô có những ngày rộn rã nhưng càng lúc càng tự vấn quá nhiều. Và khi không nhận được câu trả lời cho mọi lo lắng (có thật hoặc không) của mình, cô vỡ òa.

“Nếu không có mình nữa, bạn có buồn không chouquette?”

“Bạn đừng hỏi những câu vớ vẩn như thế!”

“Mình đang sợ hãi lắm!”

“Tại sao?”

“Mình có linh cảm rằng bạn sắp thuộc về người khác rồi!”

“Mình chẳng thuộc về ai cả. Cậu hãy thôi đi!”

Hôm ấy, cô thấy T khóc. Rất lâu, một mình bên cửa sổ. Hoa anh đào bắt đầu he hé phía bên ngoài bầu trời đang tỏa nắng dìu dịu. Cô thấy phiền quá, cái bầu không khí u ám này. Tại sao không thể yên ổn bình thường ở cạnh nhau đi qua những ngày khó nhọc? Tuổi trẻ đã không suôn sẻ rồi, đã đau đầu lắm rồi, sao lại còn tìm cách bi lụy nó thêm nữa? Cô xốc ba lô lên vai, mở cửa ra khỏi nhà, bỏ lại phía sau một khoảng u uất nghẹn ngào.

Một tuần sau T đã ở phía bên kia thế giới. Cô oán giận T vô cùng. Cắn chặt môi mình đến khi ứa máu, nước mắt nhòe hết cả quãng đường trước mặt. Cảnh sát hỏi gì cô cũng không thể nào nghe rõ, đều trả lời “không biết”. Tang lễ của T thưa thớt người. Cô lầm lũi đứng từ xa nhìn lại. Trời mưa một chút. Giữa mùa xuân. Lòng hun hút những mất mát vô hình. T đã chọn một kết cục cho mình. Cái ngày T nói với cô rằng T sợ hãi, hôm trước mẹ T nhảy từ tầng hai mươi bảy xuống. Cô không biết gì. Hoặc giả đã quá thờ ơ để biết. Cô bận rộn vun đắp cho tuổi trẻ của mình, cho thanh xuân của mình. Cô cần gì phải quan tâm xem hôm nay ai đã khóc vì ai, ai đã nhảy từ nơi nào xuống đất, ai không còn niềm tin hay hy vọng nữa. Cô đã luôn nghĩ cuộc đời đâu chỉ toàn những chuyện tồi tệ, có u ám hay không cũng đều do con người nhìn nhận hết cả. Cô ghét T. Ghét lựa chọn của T. Ghét cách hành xử của T. Ích kỷ và nông cạn. Bồng bột và độc ác.

Nhưng nhiều năm đã qua, cô vẫn luôn nhớ đến T. Nước mắt vẫn hoang hoải rơi vào mỗi ngày 23 tháng tư, giữa mùa xuân ở bất kỳ thành phố nào trên thế giới. Thỉnh thoảng cô vẫn mong, có ai đó nắm lấy tay mình mà bảo “Đi từ từ thôi, Yên à!”. Lớp vỏ bọc phía xung quanh mình, cô trang hoàng cho nó thật lộng lẫy, nhưng khi M bước lại gần, không cần vũ khí nào, anh cũng đã chạm được đến tận bên trong và cô bất an đến run rẩy. M nhìn cô thở dài. “Em làm anh sợ quá!”. Lời nói ấy nghe thật buồn. Như thể giữa cô và M là những khoảng trống không bao giờ có thể lấp đầy nổi. Cô dần dần đã hiểu được cho T những giây phút của mùa xuân năm ấy khi đối diện với người mình yêu thương hơn hết thảy lại hoàn toàn bất lực. Rất mong mỏi đối phương hiểu, rất hy vọng đối phương cảm nhận được nhưng suy nghĩ ấy thực ra quá vô lý. Vì rốt cuộc, một người khác vẫn chỉ là một người khác mà thôi!

Và M dứt khoát bỏ đi, dứt khoát buông tay cô vào lúc cô chưa kịp nói rằng “anh ơi, em không còn ở cạnh anh được lâu nữa!”. Rõ ràng nó không phải là một kết cục tươi sáng có hậu chút nào. Cô mặc chiếc váy xinh nhất, chải tóc thành từng lọn nhỏ buông dài sau lưng. Cô đi gặp M. Cô thản nhiên cười, thản nhiên nói chuyện như giữa họ chưa từng có khoảng cách nào. M vẫn điềm nhiên im lặng. Vết nứt trong lòng cô toác ra từng chút từng chút một. Bất giác cô hét lên.

“Em chết rồi anh có còn nhẫn tâm được thế này không?”

Cô thật dại dột. Vì quên mất rằng với đàn ông, chỉ có thể mong chờ người ta chìa tay ra với mình, lau khô nước mắt cho mình lúc người ta còn chút tình cảm. Chứ một khi đã hanh hao rồi, nước mắt có lấp đầy địa cầu cũng không tài nào lung lay được lòng dạ sắt đá ấy. Trong chiếc hộp nhỏ mà T để lại có một tấm bưu thiếp bằng giấy cũ. T viết.

“Bạn luôn là cái bánh su ngọt ngào nhất với mình ngay cả khi bạn thích làm một cái bánh cháy đắng ngắt. Nhiều lúc bạn thật xấu tính nhưng mình chưa bao giờ giận bạn cả. Bạn chắc chắn không thể nào hiểu hết được mình và cũng không thể đoán mò mà an ủi mình được. Thế nên sau này, cho dù quyết định của mình là gì, mình chỉ mong bạn có thể hứa với mình một điều duy nhất mà thôi. Bạn đừng giận mình nhé, chouquette!” .

Chẳng hiểu tại sao con người ta cứ phải lớn lên rồi những câu hỏi của bản thân cũng từ đó mà trở nên pha tạp đủ mùi hỉ nộ sân si. Nếu mà hỏi “chúng ta lâu rồi chưa nắm tay nhau nhỉ” sao không đủ tự tin nhìn vào mắt đối phương để bảo “hãy nắm tay em đi”? Giống như cô, cứ muốn M phải tự động ôm lấy mình mà chưa một lần vứt bỏ sự kiêu ngạo để thẳng thắn “em đau, em sợ, em không có ai và em cần anh lắm!”. Vì mãi cứ e ngại những điều mình nói ra sẽ bị từ chối mà quên mất rằng đôi khi bộc bạch là để bản thân được thanh thản chứ không phải duy nhất chuyện mưu cầu được đáp trả. Người ta mệt rồi. Là tại mình cũng được. Là tại người ta cũng được. Hay tại ông trời cũng thế. Mọi thứ đều chỉ mang trong mình một điểm dừng nhất định bất kể ai muốn gì đi nữa. Khi câu chuyện của bạn được kể xong, luôn có người đứng lên bỏ đi, có người ngồi lại đôi chút nhìn bạn, hoặc người khác nữa sẽ ôm bạn. Nhưng chẳng phải vì như vậy mà thay đổi được mọi việc đã xảy ra. Chỉ duy nhất thứ mà bạn có thể lựa chọn. Chính là vào ngày mai, mình sẽ đứng lên hay vẫn ở mãi tại chỗ buồn bã này? Rốt cuộc, đời sống này gói gọn đơn giản vậy thôi!

Bạn đừng thắc mắc về kết thúc. Rằng cô ấy có chết đi hay không. Rằng M có quay lại hay không. Hay đến cuối cùng tình yêu ở đâu khi nỗi buồn thì dài vương đến vậy. Giữa mùa xuân, mọi điều đều đẹp. Kể cả giọt nước mắt trong veo của ai đó vào ngày cuối cùng nhìn thấy ánh nắng vàng len qua tấm rèm thêu hoa nhỏ li ti. Cô lôi chiếc phong bao nhỏ ở dưới gối ra, nhẹ nhàng miết nhẹ dọc những cạnh hơi quăn góc. Vào lúc này, đột nhiên cô không còn cảm thấy bản thân mình đơn độc nữa. Ngày mai, khi mở mắt ra, nhất định sẽ là những ngày đầu tiên tươi đẹp của một tuổi thanh xuân hoàn toàn mới…

“Vì tình yêu vốn chẳng phải là do một người quá ưu tú mà bi lụy hay dốc lòng. Là lỡ nhắm mắt rồi nên mãi e ngại không dám mở mắt ra mà thôi…”./

 

++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++

 

Mùa Xuân  trở lại

Đào An  Khanh

 

Nhềnh đi rồi mẹ ạ ! Chị trở về nhà vào lúc nửa đêm. Con bé ngồi bó gối ở bậc cầu thang, như là đợi chị về. Bảo với chị thế

Chị nhìn con bé, không nói được gì cả.

Nhềnh đi ! Chị như không tin vào tai mình. Nhưng thái độ của con bé đã khẳng định điều chị vừa nói. Nó nhìn chị. Rồi lặng lẽ đi về phòng. Chị nhìn theo dáng con, lút cút, nhỏ nhoi đến tội nghiệp. Con gái chị đấy ! Chị định chạy theo con bé, muốn cất lên tiếng gọi con yêu thương, trìu mến... mà không thể. Môi chị tê dại.

Con bé dừng lại, ngập ngừng ở chiếu nghỉ của cầu thang. Nhìn chị. Mắt nó lạ lắm. Lạnh lùng, lại sâu thăm thẳm, lẫn chút trách hờn.

Chị đứng trân nhìn căn phòng. Chỗ nào cũng như có hình dáng của Nhềnh. Người đàn bà ngoài bốn mươi, không phải họ hàng, ruột thịt. Nhưng, Nhềnh chơi với con bé, nâng niu con chị từng bữa ăn, giấc ngủ. Chị nghe tim mình nhói đau. Lâu nay, chị mải mê lao vào kiếm tiền, vì chị nghĩ, phải có thật nhiều tiền, con chị phải được sống trong nhung lụa. Nhưng, chỉ thế thôi chưa đủ. Chị nhận ra mình thiếu sót. Con gái chị, nó cần nhiều thứ khác. Bấy lâu, gần như chị đã rời xa con bé, hoặc làm cho nó tự xa mình.

Trong khi Nhềnh là người lạ. Nhềnh là người dưng ! Chị đã "cứu" Nhềnh trong một đêm mưa gió. Khi đó, Nhềnh đói lả, khuỵu xuống bậc thềm nhà chị, người mềm như chiếc lá hơ trên chảo lửa. Chút sức tàn còn lại, Nhềnh khóc gào gọi con mình.

Chị ra mở cửa, gió thốc vào nhà khiến chị rùng mình. Hôm đó chồng chị đi công tác vắng. Nhà chỉ có hai mẹ con. Nhìn người đàn bà rã rượi dưới mưa, chị không đành lòng. Chị dìu người đàn bà ấy vào nhà, xoa dầu, nấu cháo cho chị ta ăn. Người đàn bà ấy là Nhềnh, sau này chị ta tỉnh lại chị mới biết tên, còn lúc đó thì thiếp đi. trong chập chờn tỉnh thức, Nhềnh lại gọi tên con. Câu chuyện đứt đoạn, đẫm nước mắt nhưng đủ để cho chị hiểu được phần nào. Con Nhềnh chưa tròn tuổi, độ tuổi con gái chị. Ông chồng Nhềnh là một kẻ nát rượu, lại cờ bạc lô đề. Có chồng cũng như không, niềm vui sống của Nhềnh khi ấy là đứa con trai bốn tuổi. Nhưng trong một lần Nhềnh không còn tiền dể đưa cho chồng đi đánh bạc, người đàn ông vũ phu đó,trong cơn giận dữ vô cớ đã cầm cái đòn gánh không may đập trúng đầu con mình. Đứa trẻ bất hạnh bỏ Nhềnh mà đi. Nhềnh khóc hết nước mắt. Như cái bóng vật vờ.

Rồi, Nhềnh có mang trở lại. Những tưởng sau lần đó, chồng Nhềnh sẽ nghĩ lại, sống tử tế với vợ con hơn, mặc dù những thói tật xấu xí anh ta không hề bỏ được.

Dạo ấy, làng Nhềnh có phong trào cho con nuôi người nước ngoài. Có những gia đình, vì đẻ nhiều, phần vì quá túng bấn nên đã cầm lòng cho người ta con mình đi, để nhận về một khoản tiền kha khá. Nhưng với Nhềnh, có nằm mơ cũng không bao giờ nghĩ đến chuyện đó, mặc dù đã có nhiều lời đề nghị khi biết nhà Nhềnh, vì chồng, đang nợ nần chồng chất. Nhưng không bao giờ Nhềnh nghĩ đến chuyện bán con mình-máu thịt của Nhềnh, tách từ cơ thể Nhềnh ra.

Sự đời trớ trêu. Chồng Nhềnh, nghe người ta dỗ ngon dỗ ngọt thế nào, làm giao kèo bán đứa bé từ khi nó còn đang là bào thai nằm trong bụng mẹ, chưa biết là con trai hay gái... cho thằng Ký " thọt ". Khi Nhềnh sinh con gái, bụ bẫm, cứng cáp, Ký " thọt " cho người đến đón, Nhềnh mới biết điều đó. Nhềnh không tin ! Nhềnh như điên dại. Con Nhềnh đẻ ra, nó là của Nhềnh chứ. Nó phải là của Nhềnh !

Thằng Ký " thọt " đưa ra bản giao kèo. Giời ơi ! Nhềnh không tin vào mắt mình. Có chữ ký của chồng Nhềnh biên vào giấy hẳn hoi. Số tiền đó chồng Nhềnh cũng đã lại nướng vào cờ bạc. Ký " thọt " lại còn gằn giọng như hăm dọa, nếu không muốn bán con thì " chồng " đủ số tiền mà chồng Nhềnh đã thua bạc, lãi mẹ lãi con của nó nữa. Nhềnh căm phẫn nhìn chồng. Mắt đỏ sọc lên, rồi dịu xuống, vô hồn. Lấy đâu ra số tiền lớn như thế ?

Ký " thọt " lại ngon ngọt dỗ dành. Nó nói, đằng nào chồng Nhềnh cũng nhận tiền rồi, cũng cờ bạc hết rồi. Con mình về nhà người ta, biết đâu nó sẽ sung sướng hơn khi ở với mình, nó sẽ được nuôi nấng, dạy dỗ nên người ? Còn Nhềnh, không có đứa này thì đẻ đứa khác...

Nhềnh đổ gục xuống khi Ký " thọt " cho người đem đứa bé đi, sau khi để lại một ít tiền gọi là cho Nhềnh bồi dưỡng thêm. Nhềnh không thèm đếm xỉa. Nhưng chồng Nhềnh thì vồ lấy. Ký " thọt " cười khẩy, quay lưng...

... Chị dìu Nhềnh vào trong nhà. Nhềnh đang lên cơn sốt. Hai bầu vú cương cứng, vạt áo ướt sũng. Nhềnh ú ớ như dỗ con trong cơn mê ngủ. Chị quay đi, con Nhềnh, giờ này, chắc cũng đang đòi mẹ.

Mấy hôm sau Nhềnh hồi dần rồi tỉnh lại. Nhưng lúc nào cũng thơ thẩn như cái bóng. Chị bảo :

- Chị hãy coi đây là nhà của mình, ở lại trông cháu cho em ! - Chị giữ Nhềnh ở lại.

Con bé nhà chị cũng trạc tuổi con Nhềnh. Chị đi nhiều, rạc cẳng, hai bầu vú cứ lép dần đi, thiếu sữa. Trong khi đó, càng nhớ con thì sữa Nhềnh càng nhiều, hai bầu vú lúc nào cũng lên thây lẩy. vạt áo không khi nào khô. Thế là, Nhềnh cho con bé bú, nâng niu nó.

Lúc đó, chị nghĩ, có Nhềnh rồi, chị càng rảnh tay. Con mình, vẫn là của mình. Đơn giản thế ! Có người chăm cho, sữa nào cũng là dòng sữa mẹ.

Cứ thế, chị đi từ sáng đến tối, những cuộc gặp gỡ, tiếp xúc, hợp đồng bán mua... lúc nào trong đầu chị cũng vo ve hai chữ công việc, công việc. Con bé có Nhềnh trông, chị nhàn nhã dành thời gian cho may sắm, trang điểm xinh đẹp như hồi con gái, chưa hề vướng bận gì...

... Chị thấy cô đơn trong chính ngôi nhà của mình. con bé, giờ này, không biết đã ngủ hay còn thức ? Nhưng, chị có cảm giác như chị đang đánh ^mất nó, nếu cứ như thế này, con bé quen sống với Nhềnh của nó hơn. Những vui, những buồn, chuyện ở lớp, chuyện ở trường, chuyện bạn bè, thậm chí cả những chuyện riêng tư thầm kín...nó cũng không chọn chị để mà chia sẻ. Mà chị, là một người mẹ, lẽ ra phải biết và được quyền biết điều đấy. Nhưng tại chị. Chị không thể trách con bé, không thể trách Nhềnh.

Chị lại nhớ đến anh. chồng chị, trong một lần giữa hai người xảy ra xung đột, anh đã ra đi. Anh thuê nhà ở gần cơ quan anh, chấp nhận sống một mình. Chị biết, anh không phiền trách chị, nhưng không nói gì. Lặng lẽ. Lúc chị không có ở nhà, anh về thăm con bé, trò chuyện với nó, han hỏi Nhềnh. Anh mua sắm cho con, thỉnh thoảng lại còn cho tiền nó. Chị biết, anh thương con lắm.

Con bé cũng vậy ! Nó yêu anh. Những ngày đầu, khi lớn lên và ý thức được mọi chuyện trong nhà, nó gần như hoảng loạn. Trong câu chuyện giữa chị và nó, nếu thỉnh thoảng có diễn ra, không bao giờ nhắc đến anh trước mặt chị. Chị thở dài. Không biết, trong câu chuyện giữa con bé và anh, chị...

Chị thấy mình có lỗi. Khi ấy, chị đã cả giận mất khôn. Chuyện đơn giản, tuồng như không có gì, nhưng là đàn bà, chị lại làm toáng lên, chị đay nghiến, dằn hắt anh. Chưa đủ, nhiều khi chị còn tỏ thái độ cho anh biết, coi thường và khinh bỉ... Điều rất tối kỵ đối với đàn ông, lại rơi vào đúng anh - một công chức nhà nước mẫn cán, ta làm gì có chân ngoài chân trong để kiếm được nhiều tiền ?

Sau này, nhiều đêm trằn trọc một mình, chị thấy ân hận, day dứt. Giá như...

Chị không có người đàn ông nào khác. Và anh, chị biết chắc chắn cũng thế. Anh vẫn sáng đi tối về, ngày hai bữa cơm bụi. cách đây mấy năm, anh đi học thêm cao học và mấy tháng nữa cũng bảo vệ rồi...

Chị nghĩ đến anh. Chị thèm con bé ! Như thế có nghĩa là thèm một mái ấm thực sự. Chị đã thấy mỏi mệt. Chị đã bỏ cái hiện thực đi tìm bắt cái hư vô. Hạnh phúc ở quanh đây, ở ngay trong nhà chị mà chị không biết...

Con bé bảo với chị là bố về. Chị nhìn con, thở dài. Chị lại bên con :

- Bố đã biết Nhềnh đi chưa ?

- Rồi ! - Con bé gật đầu nhìn ra cửa.

Chị mấp máy môi, định nói một câu gì đó. Nhưng cuối cùng chị lại im lặng. Con bé quay vào nhà, mở tủ, hí hoáy lục lọi một lúc. Nó đưa cho chị lá thư. Thư của Nhềnh ! Vỏn vẹn có mấy dòng, dọc ngang vấp váp lỗi chính tả:

" Tạ ơn mẹ con cô nhiều nắm đã cho tôi ở, luôi lấng tôi. Tôi biết chỗ ở của cháu rồi, tôi phải đi đón cháu. Tôi không kịp đợi cô và cháu về, kẻo người ta không đợi. Cháu rất yêu cô và yêu bố cháu. Xin anh chị hãy quay về với nhau, luôi dạy cháu lên người. Tôi biết giằng anh Thăng cũng rất yêu cô... Ký tên - Nhềnh ".

Chị cầm lá thư trên tay, ngước lên nhìn con bé.

Nhềnh kẹp vào quyển sách văn học của con, con vừa tìm thấy được...

- May... - Chị ôm con bé vào lòng.

Con bé vòng tay ôm lấy chị. Cả hai cùng lặng im. Thật lâu, thật lâu con bé ngước lên, chị thấy mắt nó long lanh nước :

- Bố muốn về ở với mẹ con mình !

Chị vuốt tóc con, đôi môi chị mấp máy cười, lập bà lập bập. Chị khẽ gật đầu.

- Bố yêu mẹ lắm !

Chị gật đầu

_ Mẹ còn yêu bố không ?

Chị khẽ gật đầu.

- Con yêu con, con yêu Nhềnh và yêu bố mẹ !

Chị lặng lẽ gật đầu.

...

- Mẹ kìa ! - Con bé chỉ tay về phía sau, nãy giờ chị ngồi quay lưng ra cửa. Chị ngoảnh lại.

Anh ! - Bố con bé đứng đó, nheo mắt như cười.

Con bé trườn khỏi chị, chạy ra cửa đón anh. Chị nhao người, đứng lên nhưng không đứng nổi. Chân chị run lắm. Tim chị đập mạnh. Má chị nóng ran. Nhưng mà anh đã vào nhà. Anh đưa tay ra. Chờ đợi...

Chị đã đợi giây phút này từ lâu lắm. Như chỉ chờ có thế, chị nhào vào vòng tay của anh. Vòng tay yêu thương, mà có thời gian chị đã để tuột mất.

Anh giụi mũi vào tóc chị, âu yếm. Chị gục đầu vào ngực anh. Anh ôm cả chị và con bé vào lòng. Con bé trườn ra, leo lên xép, thò cổ xuống :

- Con yêu con ! Con yêu Nhềnh !... Con yêu bố mẹ.

Chị nhìn anh, anh nhìn chị. Hai anh chị cùng nhìn con bé. Chị khóc.../

 

++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++

 

Mưa Xuân

Lương Minh Giang

 

Bữa ấy mưa xuân phơi phới bay Hoa xoan lớp lớp rụng vơi đầy Hội chèo làng Đặng đi ngang ngõ Mẹ bảo: thôn Đoài hát tối nay…”

Đó là cả một câu chuyện ngày xuân và bắt đầu bằng: Cổ tích. Mưa xuân phơi phới rải mình trong không gian, lên những nụ xoan trắng trong, biêng biếc, lên xóm làng, đồng ruộng và thả mình vào mớ tóc của lũ gái xuân dậy thì, má đào chín đỏ.

Trong cái đám chúng nó, có Lụa là xinh đẹp nhất. Làn da cô căng mịn như nước mặt sông. Môi cô hồng nhẹ phớt đào. Đôi mắt sáng trong tựa hồ soi thấy vài nụ xoan đang lung linh trong ấy. Và mái tóc, mái tóc ấy nồng nàn như mưa xuân, nhẹ nhàng như mưa xuân, dịu dàng hơn mưa xuân. Từ nhỏ Lụa thường hát chèo cho u nghe. Cũng được cái trời phú, giọng Lụa ngọt như nước giếng Đường Lâm. Các cụ trong làng đều bảo: Lụa có dáng con đào. Và Lụa thì luôn mơ ước được mang nghiệp cầm ca. Nó cứ nhức nhối mãi trong cô…

Sáng nay, Lụa ra sông đãi đỗ, rửa lá với lũ con gái cùng xóm. Chúng nó í a í ới gọi nhau từ lúc tờ mờ làm u không ngủ được. Thế là, bà bèn dậy sớm lên thoi dệt lụa. Chộn rộn mái mới kéo nhau ra được bến. Đãi đỗ, rửa là thì ít hát hò trêu trọc nhau thì nhiều. Con Mận được ông nó dạy cho một điệu Chèo mới bèn ỉ eo hát. Lụa học lỏm được ngay. Rồi hát ngay còn hay hơn cả con Mận. Mãi tới lúc mặt trời lên cao gần ngọn sào chúng nó mới kéo nhau về. Lụa muốn hát cho u nghe điệu mới ngay lập tức bèn chạy về trước. Chạy về đến cổng vấp phải hòn gạch ngã sóng soài, đổ sạch cả đỗ. U vừa xót vừa giận, chẳng nói năng gì. Lụa lại tự nhặt lá, vét đỗ mang ra sông kì cụi, đãi rửa. Lụa nấu cơm trong bếp, khóc dấm dứt. U hỏi: Sao? Lại nói là tại khói gio. Rồi lại càng thổi tợn chọ bụi cứ bốc mù cả lên. Có mỗi niêu cá với niêu cơm mà nhá nhem tối u con mới được xới. Bữa cơm mặn mặn là. Lụa cứ len lén nhìn u và miếng cơm rồi nước mắt lã chã.

- Nào tao đã chửi mẳng gì mày? Rõ thật…

- Thì con…

Vừa nói vừa khóc nấc lên Lụa lại thôi chả buồn thưa nữa. Gần xong bữa mới rành rọt nói một lèo thật chóng:

- Là con muốn về nhanh hát cho u nghe điệu chèo mới học được… thế thôi…

Rồi chạy ù ra sân, ôm gốc cau lại khóc dấm dứt. Một lúc khóc hết mới vào. Đã thấy u xếp mâm bát lại để qua một bên, ngồi ăn trầu. Lụa đằng hắng, bê mâm ra đi, ra chiều dỗi. U với theo:

- Con cái Lụa mai thổi sớm, ăn cho khỏi tốn dầu đèn.

- Lụa khe khẽ cười. Cô chẳng biết sau lưng cô u cũng đang mủm mỉm. Việc nhà xong, Lụa tựa cửa trông bốn bên hàng xóm, đưa tay hứng giọt mưa bay.

- … Đào liễu có một…mình… em đi đâu hỡi cô nàng ơi… Đào liễu có một mình…

- Phải điệu chị định hát u nghe không? Hay đáo để! Thôi đi trông nồi bánh cho nục mai u cho đi xem chèo nhá…

- Thật U… mai ạ… con đi ngay đây. Rồi u xem bánh sắp chín rồi.

- Cha chị… vừa bắc bếp mà đã chín với sống.

Ngọn lửa cháy giòn làm mặt Lụa đỏ ửng như đĩa xôi gấc u thổi. Lụa chìm vào cơn buồn ngủ lúc nào không hay… không gian đầy khói sương, Lụa thấy mình đang đi trên thôi để sang thồn Đoài. Không phải cô đang đi mà đang lướt, bước chân nhẹ nhàng cứ quấn quýt vào nhau. Lụa cảm thấy cỏ đẫm sương đang cù nhẹ vào gan bàn chân man mát. Chỉ còn dăm thước nữa là tới nơi, Lụa thấy lòng xốn xang. Mà lạ lắm cơ! sao chỉ thấy mình Lụa đi trên đê đầy khói. Cô như đang đi sâu vào cơn mê. Vừa thích vừa sợ… Trống, phách chộn rộn làm cho mái trong người Lụa chạy xuôi, chạy ngược. Lụa đang hoà mình vào dòng người đi đi lại lại trong bãi.

Họ chả nói, chả rằng. Ai ai cũng hững hờ vô cảm, đi vài bước rồi quay lại nhìn nhau chằm chằm. Họ xô đẩy chen vai thích cách làm bẹp cả nón của Lụa. Họ dẫm vào chân Lụa: Đau quá! Lụa thụp xuống rồi ngã. Áo xống lại bị giẫm bẩn, rách tả tơi. Chợt Lụa lại nghe tiếng sáo dặt dìu. Như có sức mạnh, Lụa đứng phắt dậy xô mấy người ngã, chen vào giữa mấy đám đông đang đi vòng quanh một chiếc chiếu. Cô trân trân dán mắt vào đôi Đào – Kép đang sắm vai. Cô nuốt từng câu hát, nuốt từng điệu nhạc, say đừ ra với ngón tay, bước xuyến. Rồi một bà trông nhợt nhạt, bơ phờ kéo cô lại, cài lên đầu cô vài cái lá lẩu, hoa cỏ, rồi đủn cô vào chiếu. Đôi Đào Kép sợ hãi dạt ra. Cô nhìn bà ta, bà ta nhìn cô. Rồi chả biết có cái gì điều khiển Lụa hát, Lụa diễn. Bây giờ, giữa chiếu là một cô Xuý Vân giả dại đang say sưa hát múa. Hết lớp diễn, Lụa kiệt sức ngã vật. Lúc ấy, mọi người vây quanh chợt giật mình, nom tinh khôn lạ. Họ vỗ tay, họ la ó rồi dần dần tan ra như khói. Chỉ còn lại mình Lụa và bà mặt nhợt.

Mai, tôi với gánh đi vài làng khác. Lúc trở về sẽ đón cô đi theo. Thế nhá. Tôi đi. à! Cô tài lắm. Lụa thất thểu ra về. Đi mãi mà chả tới nhà, mưa rơi ướt hết áo. Sau đêm đó Lụa ốm nặng. U già thương con than thở.

- Hồng nhan bạc mệnh, Lụa ơi!

Lụa thở dài quay mặt vào vách. Vài ngày sau cô đỡ hơn, cô thường ra sông sớm ngồi trên bến sông trông đợi gánh hát về qua. Ngày trôi qua. Tháng trôi qua. Mùa trôi qua. Lụa sợ hãi mỗi khi thấy con đò chở khách qua sông.

- Bớ đò, bớ đò cho tôi sang với!

Cô tưởng rằng con đò đang trở đi khát vọng của mình. Đêm trăng, Lụa ra bến sông múa hát, gọi khát vọng trở về. Mệt thì nằm vật ra, rồi ngồi dậy lấy cỏ quệt ngang mày, lấy ngón tay di di xuống đất ẩm sương rồi vẽ lên môi. Chạy ào xuống mét nước, chạm gan bàn tay vào mặt nước rồi xoa xoa lên má. Sao mà Lụa thấy chúng thơm tho kỳ lạ. Y như phần son đoà kép vậy. Người làng nói Lụa điên.

Cô không điên và cô vẫn tiếp tục đợi chờ. Hàng đêm Lụa lại ra sông đóng vai Xuý Vân và gào gọi tên mình.

- Lụa…Lụa…Lụa…Chờ đợi…Khát vọng…

- Lụa…Lụa…Dậy con. Dậy Lụa. Nát hết bánh rồi. Dậy…

- Dạ! U à… Con ngủ quên mất. Bánh nát rồi ạ!

- Là tôi nói thế chị mới dậy cho. Thôi để u trông.

Lụa vào nhà, bàng hoàng cho tới sáng. Sáng sớm hôm sau cô ra bến từ tờ mờ giặt vuông đũi u dệt đêm qua. Giặt xong ngồi bó gối trên bờ cỏ nhìn con đò trôi xa. Lụa bước trên đê và nghĩ sẽ biến cơn mê thành sự thật xem sao? Nhưng nếu thế, Lụa sẽ sắm vai Thị Mầu. Sức sống hơn và bay bổng hơn. Nghĩ thế Lụa chạy ù về nhà dụi đầu vào lòng u.

- U ơi! Đã có Đào nào, Kép nào sống thật với mình đâu. Chẳng qua là chôn tuổi xuân, chôn cuộc sống thật trong nấm mồ phần son giả tạo mà thôi.

- Rõ dớ dẩn… Đi chợ âm phủ với u không?

Lương Minh Giang

 

++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++

 

Truyện ngắn

Xuất hành năm mới

Võ Hồng  

 

Từ ngày vợ chàng mất đi, Giang đã gián tiếp giải quyết được một thắc mắc: việc xuất hành năm mới. Bảo mất tính nay đã được bốn mùa xuân rồi, và cứ sáng tinh sương ngày mồng một đầu năm, Giang lên xe ra nghĩa trang thăm mộ Bảo. Việc đó đã thành ra một bổn phận có thể gọi là thiêng liêng, chữ "thiêng liêng" mà ít khi chàng dùng đến.

Dù không phải là một người có óc dị đoan, - chứng cớ là bàn tay chàng chưa hề bị một ông thầy tướng nào cầm lấy để xem xét, đo và đoán - nhưng chàng vẫn ngại khi xuất hành trong cái buổi mai trang trọng bắt đầu cả một chuỗi ba trăm sáu mươi lăm ngày của một năm. Lòng tin của những người xung quanh đã ảnh hưởng đến chàng khá mạnh, thâm nhiễm vào chàng như một chứng bệnh ngoại cảm. Sự lo nghĩ vẩn vơ về những điềm, những triệu, những rủi may mà trước đây chàng dửng dưng không lưu tâm, từ ngày Bảo mất đi, đã đến ám ảnh chàng thường xuyên hơn những cơn ác mộng. Bảo mất đi, cái tai họa lớn giáng xuống đời chàng, giáng xuống gia đình chàng khiến tâm hồn chàng xao xuyến mất tin tưởng. Và như một cơ thể yếu không đủ sức kháng cự với bệnh, tâm hồn bị lung lạc hoang mang đã dễ dàng lây phải chứng bệnh sợ sệt lo âu kia.

Xuất hành đầu năm! Quả thật trước đây chàng không hề băn khoăn nghĩ đến điều đó. Giả thử mà có một lần nào nghĩ đến và tìm một hướng để xuất hành thì chắc chắn cũng không ngoài ý định tinh nghịch. Chẳng hạn xuất hành sang phương Đông để gặp núi, sang phương Tây để gặp sông, sang phương Nam để gặp giếng và sang phương Bắc thì mắc phải hàng rào. Nhưng nay tâm trí đã phải băn khoăn vì nỗi lo mới đó thì may thay hoàn cảnh lại tự đưa ra cách giải quyết: xuất hành đi thăm mộ là phải. Ở nơi đất khách quê người này, gia đình nhỏ của chàng chỉ có năm người, thế mà nay Bảo mất đi, vĩnh viễn ra nằm một mình lẻ loi ở nơi đầu núi, bỏ bốn cha con chàng hiu quạnh trong một căn nhà nhỏ mà mặc dù đã bốn năm qua, vẫn chưa cởi bỏ màu tang tóc. Nhưng tuy hiu quạnh, bốn cha con vẫn hủ hỉ bên cạnh nhau. Chỉ tội nghiệp cho Bảo. Suốt năm chàng ít có dịp ra thăm mộ. Công việc làm ăn bận rộn, việc nhà rối rắm một mình, chàng không mấy lúc thấy mình thảnh thơi thong thả. Đến ngày đầu năm mọi việc xếp lại, mọi người yên vui trong gia đình, vậy đi thăm viếng vợ vào lúc này là một việc rất hợp lý. Từ xế chiều ngày mồng một trở về sau, chắc chắn là chàng sẽ bị quay cuồng vào nhịp sống của năm mới. Sự quay cuồng bắt đầu bằng những sự viếng thăm xã giao để được nối theo bằng những ngày đi làm liên tiếp, những nỗi lo lắng không ngừng.

- Ba phải chở thằng Hào đó, -tiếng con Hằng, con lớn của chàng bảo.

- Ừ, để ba chở.

Thủy, con bé nhất phụng phịu:

- Không, ba chở con. Để chị Hằng chở anh Hào.

- Ai chở cũng được, miễn đi tới nơi thì thôi. Ba phải chở anh vì anh nặng hơn con. Chị Hằng chở, đạp không nổi.

- Nhưng anh Hào gầy...

Nói xong Thủy phá ra cười. Hào liếc nhanh Thủy mà đôi mày nhíu lại, vẻ nghiêm trang. Ý nó không vui vì bị phê bình là gầy, một sự thực mà nó không phản đối nhưng nó không muốn ai nhắc tới. Giang trải khăn ra bàn và đặt bình hoa ở giữa. Những hộp đựng mứt, kẹo bánh... xếp làm bốn hàng. Nửa bàn còn lại bị chiếm bởi những ly tách đủ loại. Chàng vừa xếp đặt vừa đợi ba đứa con sửa soạn ăn mặc. Xếp đặt đâu đó cho đầy đủ là cốt để khi thăm mộ về có khách tới ngay thì chàng cũng đã có đủ quà ở tiện tay để tiếp khách. Này là gói thuốc lá đặt vào đĩa trên có hộp diêm. Còn cái gạt tàn thuốc. Chàng gọi con Bốn, con nhỏ ở, chạy đi rửa cái gạt tàn thuốc đầy ứ những tro và mẩu thuốc lưu lại từ năm cũ. Ở xa lông cũng phải một lọ hoa nhỏ và thêm một đĩa hạt dưa. Mấy chai rượu đặt ở đầu tủ buffet như thế kia trông cũng được. Nhưng còn... Chàng vứa chợt nhớ vừa chạy vào phòng riêng mở toang mấy hộc bàn tìm cái mở nút chai. Trong khi đó, mấy đứa con lần lượt chạm phải vấn đề:

- Ba ơi, trời nực thế này mà con Thủy khoác cả áo len vào. Con cởi ra nó không chịu.

Chàng vừa lục lọi ngăn kéo vừa nói lại:

- Kệ nó.

Tiếng Hằng cãi:

- Nhưng một lát nữa, nắng lên phải cởi áo len ra rồi bỏ đâu?

- Ừ, thôi cũng được.

Cái lối giải quyết ba phải này, lâu nay đã là lối giải quyết quen thuộc của chàng. Thật ra, khó có ai bình tâm để vừa nghĩ, vừa giải quyết đến ba, bốn việc một lượt, giải quyết minh bạch, gẫy gọn. Mà nào có ra việc cho cam. Biết thế nào Thủy cũng bất bình vì dự trù của Thủy bị bác đi, trông mong ba bào chữa cho thế mà cuối cùng ba lại "y án" với chị, chàng bước xuống phòng các con để tìm cách vỗ về Thủy. Nhưng tiếng giày chàng vừa đến cửa thì Hào đã nhảy ra:

- Ba chải giùm tóc cho con đi.

Chàng chỉ xuống chân:

- Sao lại mang xăng đan thế kiả Mang giày vào.

Hào cau mặt:

- Nhưng đâu mất một chiếc tất.

- Hỏi con Bốn xem. Bốn ơi, tất của em để đâu?

Con Bốn đang thắt nơ cho Thủy, nghe hỏi đến bít tất bít tất, vội bỏ Thủy chạy lại mở va lị Trong khi đó, Hằng ra bấm bánh xe đạp rồi la lên:

- Bốn ơi, đêm qua mày lấy xe của tao đi chơi bị gai hay sao mà xẹp cả bánh trước thế này?

Thấy có chàng ở đó, Bốn sợ bị rầy nên vừa nhìn Hằng nháy mắt ra hiệu vừa lí nhí nói:

- Đâu có. Đêm qua tôi đâu có đi chơi. Xuống tiệm chị Minh Châu mua cái dây dừa cột gàu mà.

"Lúc nào cũng Minh Châu" chàng cười thầm. Con bé này có một đặc tính là mê những cô bán hàng đẹp. Dù họ có bán đắt hơn những bà già xấu xí, nó vẫn nhào vào muạ Chẳng những đến mua mà thôi mà lúc ở nhà, trong mọi câu chuyện nó đều không quên nhắc đến những cô ấy. Chẳng hạn có đứa nào than rằng "năm nay trời mưa to" thì nó bảo "Cô Mỹ Lộc mới mua cái áo mưa ni lông màu hoa cà". Hỏi: "Sao mua thịt bò dai vậy?" thì nó nói: "Chị Thu Tâm bán hàng xén cũng la với con rằng sao độ rày người ta chỉ bán toàn những thịt bò dai". Và mỗi lần nói đến tên những cô đẹp mà nó ngưỡng mộ, giọng nói của nó không còn tự nhiên nữa. Không còn là cái giọng quê mùa của chính nó mà có pha một chút gì nũng nịu của giọng Huế, một chút gì ngọt ngào của giọng Sài gòn, đài các của Hà nội. Chàng nói:

- Đồ đạc của em mỗi đứa mỗi ngăn sao còn để lộn xộn để mất công đi tìm?

Và chàng nói tiếp luôn vì lời lẽ dặn vừa rồi không có gì lạ đáng để nó phải suy gẫm và phát biểu ý kiến trở lại. Đó là một câu chàng đã nhiều lần lặp lại, cũ và vô hại như một lời cám ơn.

- Dắt giùm cái xe ra cho tao. Tám giờ rồi.

Chàng cung tay nhìn đồng hồ và ngạc nhiên thấy rằng mình nói đúng. Tuy vậy, phải đến tám giờ mười phút mọi người mới sẵn sàng để lên xe. Chàng soát lại các cửa tủ, bỏ ví cẩn thận vào túi quần, khóa cửa phòng riêng, khóa cửa phòng khách. Nắn lại các túi để biết chắc chắn là không bỏ quên, không bỏ sót, chàng lên xe. Hằng chở Thủy đứng đợi ở cách xa chàng gần ba mươi thước. Hào ngồi sau lưng chàng. Khi hai xe khởi hành thì kim dài của chiếc đồng hồ tay đâm ngang giữa con số bốn.

Các phố hầu hết đóng cửa, thường chỉ mở hé một cánh cửa để ra vào. Nếu có nhà nào mở rộng cánh thì y như mắt chàng chạm phải một cành mai hoa vàng đứng trong một cái lọ độc bình sứ. Những cành mai rẻ tiền chỉ lác đác ít hoa và nhiều lá ở chót cành, trông khổ như cái đầu uốn tóc lâu ngày, chân tóc dài ra suôn đuột, đẩy lui phần uốn éo ra mãi tận chót cùng.

Thường, những cành mai như thế này phải nhờ những cành thiếp chúc Tết che lấp sự trống trải. Tiếp theo là những hộp mứt, hộp kẹo nằm đầy bàn, những cốc pha lê, tách sứ men bóng lộn. Chủ nhân thì chững chạc, nghiêm trang. Những cái vẻ hấp tấp hàng ngày bị đẩy lui vào bóng tối của đêm ba mươi. Ánh sáng của ngày mồng một như có năng lực mầu nhiệm làm hưỡn đãi mọi cử chỉ vội vã, làm chững chạc mọi vẻ người lau nhau.

Xe chàng đi rất chậm, một phần vì phải đợi con, một phần vì những xe khác cứ từ những con đường ngang đâm bổ ra. Chàng đi kèm sát bên con vừa nhắc chừng, vừa ra lệnh:

- Con đi sát vào bờ lề một chút.

- Hễ có ô tô thì con đạp chậm lại để ba thêm "ga" chạy vọt lên.

- Coi chừng, con Thủy ngồi thẳng. Đừng ngó nghiêng mà trẹo xe, mất thăng bằng.

Sự cởi mở của chàng mở đường cho con bi bô theo. Thủy nói:

- Ngồi ở đằng sau mỏi lắm nên con phải trở mình đó chớ.

- Thế mày tưởng phải đạp như tao là sướng chắc?

Hào đề nghị:

- Thôi Thủy qua đây ngồi với ba, tao qua ngồi với chị Hằng cho.

Câu nói vô tình mà phù hợp với ý nghĩ của Thủy. Nhưng Thủy vẫn giữ một giọng hờn dỗi:

- Anh Hào ngồi bên ba sướng hơn con.

Vừa lúc ấy có tiếng còi ô tô thét lên quá gần khiến xe mấy cha con loạng choạng. Hai tay lái lại bám sát vào lề đường. Những cô bé cậu bé cứ mê mải nhìn xuống đôi giày đôi guốc mới của mình mà đi lọt ra giữa đường hồi nào không biết. Nhiều cô cậu khác cứ dán mắt vào quần áo mới của người qua đường mà rốt cuộc đi lộn hàng ngũ phải gọi nhau, chạy tìm nhau, va cả vào xe. Các anh thanh niên, chị thiếu nữ đi từng đoàn, lây cái sức mạnh của sự đoàn kết và say sưa vì ý xuân, men xuân nên đi nghênh ngang một cách có ý thức, bất chấp mọi người.

Xe chàng đến cầu xóm Bống gặp đèn đỏ phải dừng lại. Thật rắc rối. Sống mãi ở Nha Trang, quen với sự đi lại tự do, nay gặp phải một ánh đèn đỏ khiến cơn giận vụt đến, mau như sự nhức nhối gây ra do một miếng đồ ăn cứng chạm phải cái răng sâu. Trước kia, hồi còn ở Sài Gòn, đèn xanh đèn đỏ đã thành một điển lệ khiến mỗi lần đi đến ngả tư là chàng cũng như mọi người phải chuẩn bị để nhẫn nại. Thời gian ở Nha Trang quả đã làm chàng hư nết đi. Mọi năm cứ sáng tinh sương chàng đi thăm mộ thật sớm rồi về thật sớm nên sự đi lại qua cầu tự dọ Năm nay vì muốn cho con đi cùng mà thành phải đi trưa, phải bị ánh đèn xanh đỏ hạn chế tự dọ Chàng dừng xe, cúi nhìn xuống đường nhựa để giận.

Những chiếc xe du lịch, xe đạp, xe ngựa, xe lôi, xe gắn máy nối đuôi nhau chạy ngược lại chàng. Chàng trả thù, không nhìn vào những chiếc xe du lịch. Chắc chắn ở trong đó có những bộ mặt hãnh diện nhìn ra -nhất là những bộ mặt đàn bà- làm bộ ngây thơ, nghiêm trang hay nhí nhảnh, nhưng tất cả đều cốt để người khác nhìn vào mà thèm muốn, mà thán phục, mà say mệ Muốn chọc giận họ hơn, mỗi lần nghe tiếng còi, chàng nhìn thẳng lên mui xe rồi lơ đãng nhìn ra bể. Để họ sung sướng hụt. Những ý nghĩ vẩ vơ nầy làm rơi cơn giận, khiến chàng hơi hơi vui nữa. Chàng quay sang nói chuyện với con:

- Cầu nầy gọi là cầu xóm Bống đây. Bống là tên của cái xóm chài lưới kia. Doi đất có nhiều nhà mà các con thấy đó là xóm Cồn. Còn phía nầy là cái đầm. Chợ Nha Trang còn gọi chợ Đầm là vì vậy.

Thế còn dãy nhà nào cao ở chót núi kia bả Thủy hỏi.

- Đó là dãy nhà của mấy ông cha dòng Phan-xi-cô.

Hào vội vàng hỏi tranh:

- Người ta leo núi đi đâu mà nhiều thế kia hở ba?

- Người ta đi Tháp Bà đấy. Lên Tháp Bà để lễ.

- Lễ là cái gì?

- Là thắp hương rồi vái ông thần để xin cho được sức khỏe, mua may bán đắt.

Lời giải thích tuy có vẻ giản dị nhưng chắc Hào và Thủy không hiểu nổi. Nhất là nghĩa của chữ "vái". Hình như ở nhà chưa có lần nào chàng nói tiếng "vái" ấy mà cũng chưa hề có lần nào chàng làm cái việc vái. Nhưng sở dĩ chúng không hỏi thêm vì có nhiều người đứng ở bên cạnh. Và cũng chính vì lẽ đó chàng cũng thôi không giải thích nữa. Vừa lúc ấy đèn đổi màu, dãy xe cộ chuyển mình chảy như một dòng sông, bò tới đều đặn như một con cuốn chiếu. Bên kia đầu cầu, một dãy xe cộ và người nối đuôi chờ. Dãy này ngắn hơn: người ta đang bận đi, chưa về. Đường lên Tháp Bà ở liền chân cầu. Bên những cái sạp mới dựng bán hương, đèn, những anh thợ ảnh chạy lăng xăng, những chú nhỏ lãnh giữ xe đạp mời khách ồn ào. Đi quá Tháp Bà, con đường quốc lộ trải nhựa láng và hẹp lại. Những căn nhà lợp lá, vách đất và nền đất vàng nằm dưới những tàng mít lá xanh mướt. Người đi cũng khá tấp nập. Thanh niên chỉ có sơ mi trắng. Nếu đeo ca vát thì hoặc quá ngắn hoặc quá dài, hoặc úp cong như một cái lá. Thiếu nữ thì áo thường một màu chứ không hoa hè như ở phía bên đầu cầu. Bàn chân đen và to nong vào những đôi guốc quá nhỏ. Những cái áo dài đen đập cũn cỡn trên đầu gối của mấy ông già. Hình như ở phía bên này có nhiều ông già hơn.

Lúc xe đi gần tới nghĩa địa, tự dưng tâm hồn chàng u tối lại như một áng mây dài che kín bóng mặt trời đang le lói khiến bóng râm sa sầm xuống. Con đường này mới năm nào lần đầu tiên chàng bước đến là lúc đưa vợ chàng ra nằm vĩnh viễn nơi đây. Chàng mường tượng như còn thấy cái xe tang đứng dừng nơi này, thấy đoàn người đi đưa kéo dài như không muốn dứt. Ba đứa con, ba đứa con của chàng...

Tiếng Hằng hỏi:

- Dựng xe ở ngoài cổng hở ba?

- Ừ.

Chàng nghe tiếng mình như có hơi lạc đi.

Nghĩa trang nằm thoai thoải theo triền chân núi. Những ngôi mộ nằm xếp thành hàng ngay ngắn. Kiểu mộ gần giống nhau: một bờ thành đá tráng xi măng vuông vức, trước tô thành tấm bia. Lòng mộ đắp đất. Thỉnh thoảng mới có một ngôi mộ kiến trúc phức tạp hơn, có làm mái che, có đắp hình lân hình phụng, có bàn thờ, có câu đối. Giả đặt nằm thảnh thơi giữa một cảnh trí riêng biệt thì những ngôi mộ xa hoa này sẽ có đầy đủ giá trị mỹ thuật. Đặt vào đây không hợp vì mỗi phần đất dành cho người quá cố không hơn hai thước bề ngang và nhất là bên cạnh đó có những ngôi mộ chỉ đắp sơ sài bằng sỏi. Rải rác có nhiều người xì xụp trước những ngôi mộ. Từng vòng khói hương bay cuộn trong nắng.

Hào tiến lên nhanh nhất đi về phía mộ má để tỏ ra là mình thạo. Bé Thủy lật đật chạy theo. Sự hăng hái của con khiến chàng đau xót. Con chàng nhỏ quá chưa biết ý nghĩa của sự chết, chưa cảm thấm thía cái buồn của việc đi thăm mộ, cúi xuống đọc tấm bia rồi vẫy tay gọi chàng:

- Ba ơi! Đây mộ của má đây rồi.

Hằng đi bên chàng, nhẹ nhàng. Lúc đứng trước mộ, chàng im lặng nhìn những phiến đá lạnh. Lúc sống vợ chồng nào gặp nhau sau chừng một năm cách biệt cũng bắt đầu bằng cái nhìn im lặng như thế mà biết bao nhiêu đầm ấm hẹn sau. Với chàng hôm nay thì lạnh lùng là thái độ vĩnh viễn. Chàng đặt tay lên phiến đá, tưởng tượng như đưa tay cầm bàn tay ấm áp của vợ xưa. Hằng rút trong một cái túi nhỏ cầm tay lấy ra một bó hương và bao diêm đưa cho chàng. Chàng lặng lẽ cầm lấy châm đốt. Ánh lửa bùng lên, khói hương tỏa ra, bị gió thổi bạt đi, không kịp trắng.

Chàng cúi đầu vùa thổi tắt ngọn lửa, vừ nghĩ thầm: "Em ơi, hôm nay anh đưa con đến mộ thăm em. Ba đứa con em giao lại cho anh đã lớn từng ấy đó". Nghĩ đến đây, chàng dừng lại lén đưa mắt nhìn sang ba con để chắc chắn độ lớn của mỗi đứa, như để ghi chặt vào tâm tư rằng ba đứa con đã lớn như thế. Và chàng nghĩ tiếp "Một năm qua, anh không năng ghé lại đây thăm em, nhưng chắc em đã tha thứ vì em hiểu tính anh hơn ai hết ở trên đời này. Lòng anh và cử chỉ của anh thường mâu thuẫn nhau nhất là khi những cử chỉ ấy có tính chất hình thức, xã giao. Anh chưa quên em".

Đó là một sự thật. Cả ngay trong sự suy nghĩ, chàng cũng cân nhắc cẩn thận chữ dùng. Chàng không muốn nghĩ rằng "anh không thể quên được em". Chữ "không thể" hời hợt nếu không nỡ nói là giả dối. Khi cúi xuống cắm hương vào bát hương, chàng thấy có nhiều chân hương mới cắm màu đỏ tươi và có cả tàn hương vung vãi. Chắc những người quen đi thăm mộ sớm ghé lại thắp hương dùm. Trong cái thành phố nhỏ này, người ta không lạ nhau mấy. Chàng nhìn vào nét khắc của bia. Màu vàng của nét chữ đôi chỗ bị phai. Thằng Hào lấy ra cây nến cắm hai bên lư hương. Chàng châm nến. Ánh lửa hắt hiu ánh lên mặt bốn cha con quây quần trước bia mộ. Mới chín giờ hơn nhưng ánh nắng gắt. Ngọn lửa trong ánh nắng có một vẻ gì vừa thảm đạm vừa tàn nhẫn. Chợt Thủy hỏi:

- Bây giờ má ở đâu ba,

- Má ở trên trời.

Đó là cách trả lời tiện lợi nhất trong các cách trả lời mà phải một năm góa bụa chàng mới tìm ra.

- Má có ăn Tết không ba?

Hào "xi" ngay:

- Mày cứ nói bậy. Đã ở trên trời mà còn ăn Tết cái gì?

Rồi như để khinh bỉ sự dại dột, sự ngớ ngẩn của em, Hào bỉu môi nhắc lại vừa dằn mạnh giọng:

- Ba đã nói má ở trên trời mà còn hỏi có ăn Tết không!

Chàng cầm lấy tay Hào nói:

- Thủy nó bảo vậy là ý nó thương má nó. Chúng ta ăn Tết, nào bánh mứt, nào rượu trà, thế mà thiếu má chung hưởng. Thủy nghĩ đến má không biết má có được ăn Tết ở đâu không.

- Nhưng mà đã ở trên trời rồi thì đâu còn ăn Tết nữa?

- Con lớn con biết thế chứ em còn nhỏ, em đâu biết được Nhưng mà thôi, các con cúi đầu lạy má đi rồi thưa với má...

Nói tới tiếng "cúi đầu lạy má", khóe mắt chàng đã thấy nóng, nước mắt như sắp chảy ra, do đó tiếng nói nghẹn ngào. Chàng dừng lại không nói tiếp thì Hằng đã hỏi:

- Ý ba muốn con thưa cái gì?

- Thưa cái gì mà con muốn nói cho má nghe đó. Chẳng hạn thưa rằng năm nay con đã học đến lớp mấy rồi, con học khá hay dở. Con cũng có thể nói cho má con nghe trong nhà có chuyện gì xảy ra, ví dụ cây dừa ở bờ giếng đã nứt bẹ trỗ bông, con chó Tô bây giờ đâm ra sủa láo và hay cắn lộn với chó hàng xóm nhưng lúc nào cũng thuạ. vân vân. Chắc chắn những điều đó má con muốn biết vì chúng đều dính dáng đến những người những vật mà má con yêu mến.

- Nhưng má ở trên Trời chắc má đã thấy hết biết hết.

- Có thể như thế. Nhưng nói thủ thỉ với má là một cách biểu lộ lòng thương yêu. Lú má còn sống con thường thủ thỉ nói chuyện với má. Dễ thường những điều con nói đều lạ đối với má con sao?

Hằng còn đang ngần ngừ chưa biết trả lời sao thì Thủy hỏi:

- Con thưa với má rằng tháng này con đứng thứ nhì. Chắc má khen con lắm.

- Phải đó.

Hào nói;

- Để con mét với má rằng chị Bốn ở nhà coi nhà rủ con Ngâu vào chơi để nó lấy mất cây bút máy của chị Hằng.

- Ừ.

Chàng vừa trả lời vừa đứng dậy.

- Các con có thể nói lầm thầm, hoặc nghĩ thôi mà không cần nói to.

Chàng đứng thẳng người, đưa mắt nhìn một lượt chu vi của nghĩa trang. Những người viếng mộ khá đông, khác với những năm trước chàng đến quá sớm nên thường không gặp một ai ở đây cả. Một người đàn bà chừng bốn chục tuổi đi giữa một bầy sáu, bảy đứa con từ cổng nghĩa trang bước vào. Chàng biết chắc cái đoàn người ríu rít này sẽ rẽ sang tay trái vì khu tay trái dành cho mộ đàn ông. Nhưng họ đi thẳng lên dốc, dừng lại bàn thờ đặt ở giữa đường chính. Người đàn bà đốt một bó hương lớn, khấn vái một cách thành kính rồi cắm vào cái bát hương tọ Bàn thờ này không thấy ghi tên ai nhưng chàng đoán chắc là để dành thờ vị thần Hậu thổ nào cai quản cuộc đất này. Gia đình nào muốn vào thăm mộ của thân nhân mình hình như trước hết đều phải qua khấn vái và gián tiếp xin phép ở đó. Chàng tự trách mình mấy năm nay đã vô tình mà hóa ra thất kính. Ai lại cứ xăm xăm đi về phía mộ vợ mình, bất chấp cả hệ thống, cả qui chế. Chàng nghĩ thầm: Người đàn bà bao giờ cũng chu đáo. Chắc thế nào cũng có nhiều anh đàn ông thật thà và hấp tấp như mình quên lễ bàn thờ Hậu thổ.

Một người đàn ông ăn mặc tầm thường cúi lom khom cắm một bó hương trước một ngôi mộ đắp đất sỏi. Người ấy đứng thẳng dậy vái vội vã mấy cái rồi sang một cái mộ khác cách đó mươi thước, móc túi lấy một bó hương, xòe diêm châm, cắm xuống đất rồi lại lật đật vái. Công việc xảy ra không quá năm phút, vội vã hấp tấp như một đoạn phim cũ bị cắt, nối, hình ảnh nhảy nhót. Theo cái đà gấp gáp đó và với cái túi còn đầy những bó hương đem theo, chàng biết con người này còn phải lo trả gấp một mớ nợ thăm viếng đầu năm ở cái nghĩa trang này. Một bà cụ đứng xuýt xoa mãi ở một ngôi mộ. Nhìn xa thấy bó hương cháy đã gần tàn mà cụ vẫn đi đi lại lại chẫm rãi quanh đó. Chừng năm, bảy cây hoa vạn thọ được trồng ở trước bia và trên lòng mộ. Sự chăm sóc tỉ mỉ và lòng quấn quít của những cặp vợ chồng già làm chàng cảm động. Nó không có giá trị hơn những tấm lòng thay đổi của những người trẻ, vì già rồi thì còn thay đổi với ai? Nhưng mà cảm động.

Một đôi vợ chồng dễ thường mới cưới đi lượn từ mộ này sang mộ khác. Họ đọc những tên người quá vãng, có lẽ để tìm một tên bà con. Nhưng trên tay người đàn bà chỉ có cái xác nhỏ màu đỏ để cầm đi phố và người đàn ông thì một tay thọc vào túi quần, một tay đưa ngang lưng vợ như vì theo một thói quen. Dù lây cái không khí trang nghiêm tang tóc nơi đây mà họ đi xa xa nhau một chút nhưng không dấu được sự âu yếm nhau.

Giang đi về phía mộ của một người bạn. Những chân hương cũ đã phai màu đứng nghiêng ngã. Cách đây độ bảy tháng, khi đi đưa linh cữu anh bạn đến chôn nơi đây, chàng thương hại thấy người vợ bạn lăn lộn khóc. Phải nhiều người ôm giữ chị lại. Nước mắt vốn dễ lây, chẳng những các người đàn bà đi đưa đám đều ràn rụa nước mắt mà cả chàng đứng cạnh đó cũng bùi ngùi muốn khóc. Chừng năm tháng sau, ngẫu nhiên chàng nghe tin người vợ bạn về quê và lấy chồng. Nhiều người bảo rằng người chồng đó là người tình của chị, chị có khi người chồng trước còn sống. Chàng lặng yên nhìn tấm bia mộ hồi tưởng lại vẻ mặt có duyên, dáng dấp thanh nhã của ngời bạn xưa và tâm hồn nghệ sĩ của bạn. Chàng chưa kịp kết luận thì hai đứa con đã chạy lại đứng cạnh. Thủy nói:

- Ba ơi, con nói với má rồi. Nhưng má ở trên trrời thì làm sao má nghe được?

- Dù má ở đâu đi nữa mà khi mình thắp hương vái thì linh hồn má về ngay với mình.

Hào ngửng mặt lên nghe, miệng há ra và lông mày nhíu lại. Nỗi thắc mắc đọc được trên cái vẻ thẫn thờ suy nghĩ. Chàng nói:

- Hồi ba còn nhỏ, đi học lớp Năm ở một trường làng. Có một anh học sinh lớn đi tắm sông bị chết đuối. Gia đình đem chôn anh ta ở cái trủng, -người ta gọi nghĩa trang của người Tàu là cái trủng- Ở gần trường học. Nhiều anh em khi đi học hay ghé lại thăm mộ anh. Một bữa kia anh em tới thăm mộ như thường lệ thì thấy có một bức thư dán trên thành đá ngang hông ngôi mộ. Đó là một bức thư gới thăm anh Ca (Ca là tên anh bạn bị chết đuối) viết trên một trang giấy học trò, nét gạch xiên xẹo. Bức thư bắt đầu bằng: Thiện đức le (đọc là lơ) 12 tháng 5 năm 1929 và lời lẽ văn hoa theo kiểu thời bấy giờ:

"Nghiên châu bút ngọc, tạm bức thư lan, trước kính thăm quí hữu bình an"... vân vân. Cuối cùng ký tên là Nguyễn Thới. Có cả chữ "nay thơ" nữa.

- Nguyễn Thới là ai vậy ba?

- Là anh học trò lớp tư tác giả bức thư đó.

- Thế anh ta viết để làm chi vậy?

- Anh ta tin rằng dán bức thư vào tường mộ thì tối anh Ca sẽ hiện hồn về đọc thự Nhiều anh em tin theo như vậy. Và người ta còn hẹn nhau sẽ đến xem thư của anh Ca viết trả lời, cũng sẽ dán lên tường mộ, cạnh thư của anh Thới.

- Anh Ca viết hở ba?

- Ừ. Anh em tin rằng anh Ca sẽ viết trả lời và tự dán cho anh em xem.

- Thế ba có xem không?

- Không có, vì anh Ca không viết trả lới mà cũng không dán.

Hằng nói:

- Cái ý kiến đó cũng hay, hở bả Một người nhà quê mới học lớp Tư mà có sáng kiến...

Chàng mỉm cười:

- Mới học lớp Tư mà xác to bằng ông xã rồi. Nhưng thôi, đã trưa lắm. Lại lạy má rồi đi về.

Khi trở lại mộ thì hương đã gần tàn. Có gió phe phẩy thổi, ngọn lửa ở đầu hương cháy ngún thật mau. Ba đứa con lần lượt theo thứ tự lớn nhỏ lại đứng chắp tay trước mộ. Chàng thẫn thờ nhìn ngôi mộ vợ rồi lặng lẽ quay đi, bước chầm chậm theo con. Trên đường về, không còn ai muốn nói chuyện nhiều vì trời nắng đã gắt. Tiếng bánh xe lăn bon bon trên đường. Cầu xóm Bống không bị tắt nghẽn lâu nữa. Những bộ com lê giày da đen còn sót lại trên đường đang vội vã rảo tránh nắng. Các cái cổ thắt ca vát phải ngọ ngoạy liên tiếp.

Vượt quá cầu Bống, về đến công trường Cộng hòa, lòng chàng thấy vui vui, coi như đã về đến nhà rồi vậy. Những vẻ mặt quen thuộc tươi cười chào chàng. Áo mới, dép mới, cái đầu tóc chải công phu khiến những khuôn mặt đàn bà trông như mới lại, gần như lạ đi, chẳng khác những ngôi nhà vừa sơn quét. Những người đàn ông chững chạc và nhu mì hơn trong những bộ áo quần thường màu tối. Có lẽ những người chàng gặp đi vào giờ này đều ở trên đường về nhà họ.

Khi xe dừng trước cổng nhà, con Tô nhảy xồ ra sủa vang lên, bị lóa mắt vì bề ngoài chững chạc của bốn người quen. Lúc cởi áo ngoài và cởi giày, cùng với cái thú được thoải mái tay chân, tâm hồn chàng thấy nhẹ nhàng vui vẻ vì cái bổn phận đối với vợ đã trả xong, trả trọn vẹn hơn mọi năm bởi chàng đã chìu con, nhẫn nại đưa con đi thăm mẹ chúng. Ba đứa con sau khi bỏ mũ, đã lật đật chạy ra nhập bọn chơi với lũ bạn bè. Vừa lúc ấy con Tô lại cất tiếng sủa, đem theo một ông khách đến thăm đầu năm. Ông khách khác tiếp theo ông khách này. Và cứ liên miên như thế, chàng lo tiếp khách, con lo chơi với bạn bè, cái Tết sum vầy của mọi nhà chịu bất lực không sum họp cái gia đình bé nhỏ của chàng. Những bổn phận riêng tư, những nỗi vui chơi cũng riêng tư, chỉ có vào giờ ăn là cha con quây quần cùng nhau.

Nhưng ngày mùng một Tết bạn bè có quyền ngồi nói chuyện la cà bất chấp thời giờ thành ra các con phải tự ý ăn cơm trước. Vừa tiếp khách vừa bị khách rủ đi thăm nơi này nơi khác, rốt cuộc, bộ quần áo mặc hồi sớm tinh sương phải đến mười giờ tối mới hoàn toàn cởi ra được. Tìm hỏi con thì Hằng đang nhập bọn với con Bốn, con Nga, con Anh quây quần ở bàn đánh cá ngựa.

- Còn thằng Hào? Chàng cất tiếng hỏi.

- Thưa thầy thằng Hào coi đánh "tôm cua" ở ngoài trụ sở Phong trào.. Tiếng con Bốn trả lời.

- Còn Thủy?

Bốn cái mặt ngơ ngác nhìn nhau. Hằng nói nhỏ:

- Chết cha! Từ hồi tám giờ đến giờ sao không thấy con Thủy lẩn quẩn ở nhà?

- Hay nó sang bên con Sa?

- Không có đâu - chàng gạt liền. Hôm qua tao đã dặn kỹ, ngày mồng một không được đi sang nhà ai hết, cả nhà của con Sa nữa. Sợ người ta kiêng.

- Thế thì nó ở đâu? - Con Bốn vừa tự hỏi vừa chạy xuống nhà bếp.

Hằng ra đứng ở cửa kêu:

- Thủy ơi.

Không có tiếng trả lời.

Giang mở cửa phòng mình nhìn vào rồi quay ra bảo:

- Thôi đừng tìm em nữa. Em nó ngủ ở trong phòng ba đây.

Chàng bước lại bàn viết. Thủy ngồi ở ghế mà lưng cúi sấp xuống, nghiêng mặt gác lên mặt bàn, mắt nhắm. Tiếng thở đều đặn. Tay trái đè lên một mảnh giấy còn tay phải cầm lỏng lẻo một cây bút. Chàng cúi xuống trang giấy. Những hàng chữ viết ngã nghiêng, chữ to cạnh chữ nhỏ, khoảng cách không đều và bôi xóa, nét mực nhoè nhoẹt. Tuy vậy, chàng cũng có thể đọc được:

Má ơi,

Con đi thăm mộ má mà không có má, má ở trên trời. Con học lớp Năm không có má chải tóc cho con, má con Nguyệt thắt bím cho nó đẹp lắm. Con đi học trời mưa trợt ướt áo đầm anh Hào lấy tờ giấy thấm của con. Má nhớ trả lời cho con rồi dán lên trên mộ.

Võ thị Tri Thủy

++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++

Sài Gòn đẹp lắm Sài Gòn ơi, Sài Gòn ơi!

TTO - Sài Gòn - 150 năm qua những bức ảnh cực quý đăng trên trang Văn hóa giải trí Tuổi Trẻ Online đã góp phần khơi dậy tình cảm của bạn đọc dành cho thành phố Sài Gòn-Gia Định xưa và TP.HCM hôm nay.

image021

Phụ nữ Sài Gòn. Ảnh tư liệu.


Xem những ảnh Sài Gòn – Gia Định xưa, bạn đọc Phạm Phú Nhượng thốt lên câu hát quen thuộc: “Sài Gòn đẹp lắm Sài Gòn ơi, Sài Gòn ơi!”. Một bạn đọc khác gửi bình luận: “Đã là người SG thì những gì thuộc kỉ niệm về SG đều đáng yêu hết. Không nơi đâu đẹp bằng SG”.

Còn bạn đọc Út Sài Gòn thì bồi hồi: “Tui đang tìm các ảnh thời bao cấp ở Saigon mà không biết trong này có không? Hồi đó xếp hàng sáng lãnh bánh mỳ và xếp hàng ở hợp tác xã mua gạo... Bây giờ nhớ quá xá thời đó...”.

Bạn đọc Thất Bạch nhận xét: “Các tấm ảnh Sài Gòn xưa đẹp, hiện đại và yên bình. Tôi sống ở Sài Gòn đã lâu, nhưng không có ý tưởng hay như vậy”.

Bắp non không nướng cũng mềm

Muốn lên đò Thủ phải thêm cau trầu

Lửa lò khó nướng bắp lâu 

Con đò chợ Thủ cũng mau.. chòng chành

(thơ bạn đọc Trương Minh Nhật gửi)

Bạn đọc Phú Nông phân tích: “Bức ảnh Nhà Thờ Đức Bà không hiểu tác giả xếp loại năm nào nhưng theo tôi biết đây là ảnh chụp sau năm 1975 vì trước 1975 không ai di chuyển hàng hóa bằng xe đạp. Cảnh người phụ nữ thản nhiên chạy giữa đường vắng vào buổi trưa, chân mang dép nhựa Hà Nội làm và gạch của Nhà thờ đóng rong rêu.... Những hình ảnh này quá quen thuộc với tôi”.

Hình ảnh những xóm nghèo men theo dòng kênh như khu vực Ông Tạ nhắc nhớ nhiều người bởi họ một thời sống ở đó. “Tôi đã từng sống như trong những bức hình nêu trên nên rất nhớ như in những mái nhà lụp xụp, đi lại trên những chiếc ván gỗ cũ kỹ của mùi sông nước và nghe tiếng xình xịch của những chuyến đò xuôi mái bên dòng kênh. Sao có thể quên được Sài Gòn trên bến dưới thuyền”, bạn datmt cho biết.

Bạn đọc tên Hoàng thì kể: “Nhớ những trưa hè cởi trần đi chân không lang thang khắp hang cùng hẻm cụt khu Vườn Chuối; ra Lê Ngô Cát, Hồ Xuân Hương đá banh mủ, qua trường Bàn Cờ chơi ống thụt…”

image022

Phụ nữ Sài Gòn xưa mặc áo dài đạp xe đạp. Ảnh tư liệu.

image021

Phụ nữ Sài Gòn. Ảnh tư liệu.

 

Sài Gòn tối leo lên giường, nằm nghe cải lương

TTO - Bao thế hệ người Sài Gòn - TP.HCM ở chốn phồn hoa đô hội nhưng rất mê cải lương. Ở thuở ấu thơ nhiều thập niên trước, rất nhiều "con nít Sài Gòn” không có tiền nhưng mê cải lương quá thường "đi xem cọp” các đoàn hát.

image023

Thanh Nga - một trong những nghệ sĩ cải lương nổi tiếng nhất Sài Gòn. Ảnh: NGUYỄN CÔNG THÀNH.


Đoạn trích dưới đây nằm trong truyện dài Chú Chiếu Bóng, Nhà Ảo Thuật, Tay Đánh Bài và tụi con nít xóm nhỏ Sài Gòn năm ấy (NXB Trẻ) của tác giả Lê Văn Nghĩa.

"Thằng Minh siêng học, lại rất mê xem hát cải lương. Nếu có tiền thì mua vé xem đàng hoàng còn nếu không tiền thì đi coi cải lương cọp. Còn không thì đôi khi nó cũng đi xem cải lương “thả giàn” ở rạp Vĩnh Khánh gần Cầu Bột.

Các gánh hát bầu tèo về rạp Vĩnh Khánh cho bà con lao động vùng cầu Bột thưởng thức thường là những gánh hát nghèo, cũ kỹ từ tuồng tích đến gương mặt dù được quảng cáo là “đào tơ, kép đẹp”.

Bà con lao động nghèo mua vé đồng hạng năm đồng, ngồi chen nhau trên những chiếc băng dài có lưng dựa đầy những vết máu rệp, vừa xem cải lương có phụ diễn hoạt kê hài hước vừa bắt rệp và nghe mùi nước tiểu từ bên hông rạp bay thốc vào.

Minh thường xuyên xem cải lương cọp ở rạp Tân Lạc (nay là nơi diễn kịch của “bầu show” Trịnh Kim Chi) nằm trên đường Hậu Giang. Trước cửa rạp là những chân dung của các nghệ sĩ như Thanh Nga, Thành Được, Út Bạch Lan, Bạch Tuyết, Hùng Cường, Hữu Phước, Thanh Sang, Tư Rọm, Hề Minh, Thanh Tú, Trang Bích Liễu, Minh Cảnh, Minh Vương, Minh Phụng… vẽ thật to. Ai được giải huy  chương vàng ThanhTâm thì sẽ được vẽ lồng vào một cái vương miện.

Phía trên là một tấm  bảng quảng cáo giới thiệu tên những vỡ tuồng hấp dẫn như Nửa Đời Hương Phấn, Con Gái Chị Hằng, Áo Vũ Cơ Hàn, Thảm Kịch Tuổi  Xanh vô cùng bắt mắt. Chỉ nhìn hình mấy nghệ sĩ và tuồng tích, tờ chương trình là nó đã muốn xem rồi.

image024

Rạp cải lương Hưng Đạo (136, Trần Hưng Đạo, P. Phạm Ngũ Lão, Quận 1) ra đời ở thập niên 60. Nay được xây dựng hiện đại, trở thành Trung tâm Biểu diễn Nghệ thuật Cải lương TP.HCM.


Cách của Minh coi cọp là đứng chầu rìa chờ xem cặp thanh niên nam nữ nào không dẫn theo trẻ con, tụi nó liền xáp đến nhờ họ dẫn vào. Nhóm của thằng Minh từng giở trò này nhiều lần đến nỗi nhân viên gác cửa nhẵn mặt tụi nó. Nếu đứa nào tìm được người dẫn vào thì nhân viên gác cửa cũng cho qua vì nội quy rạp quy định hai vé người lớn được dẫn kèm một trẻ em.

Có hôm, lớp Minh tập văn nghệ để hát trong lễ Cây Mùa Xuân cho học sinh nghèo của trường. Thằng Minh xung phong làm thầy tuồng vì có lần nó được xem nghệ sĩ của đoàn Dạ Lý Hương tập tuồng Tuyệt tình ca ở rạp Tân Bình.

Trời ơi, nó không ngờ kép Thanh Sang đẹp trai quá cỡ, đào Bạch Tuyết hát hay không chỗ chê vậy mà còn bị ông thầy tuồng ốm nhom, ốm nhách, mặc đồ pi-da-ma (pijama) chỉ chạy tới, chạy lui gần chết.

Kép Việt Hùng đang hát, ổng bảo ngưng là ngưng, rồi ổng hoa chân múa tay, cầm cuốn tuồng giơ lên, giơ xuống nói gì đó. Các nghệ sĩ, đào kép ba quân tướng sĩ nghe lời ổng răm rắp. Ông thầy tuồng nhỏ xíu con mà như có võ nghệ đầy mình.

Nhỏ xíu con mà như ông tướng chỉ huy khắp trận tiền của một vở cải lương. Nhờ nghe lóm được hai anh kéo màn và nhắc tuồng nó mới biết được ông thầy tuồng tên là Hoa Phượng. Tên gì như tên con gái. Ẻo lả như hoa phượng, nhưng lại chì một cây xanh dờn. Từ đó hình ảnh ông thầy tuồng cứ nằm trong tâm trí nó. Làm thầy tuồng chắc phải giỏi lắm.

Có lẽ nhờ uy thầy tuồng nên hôm chuẩn bị nó có ý kiến diễn giống như các nghệ sĩ cải lương hữu danh của các đại ban Dạ Lý Hương, Thanh Minh-ThanhNga, Thủ Đô…Trong lớp, dù không phải là liên toán trưởng (như lớp trưởng bây giờ) nhưng thằng Minh có nhiều ý kiến sinh hoạt học đường cho tụi trong lớp.

- Ê, ai diễn vậy. Nhớ mời kép độc trọc đầu Trường Xuân nghe- thằng Cảnh hù để nghị.

- Rồi có cả Út Trà Ôn, Hữu Phước ,Thanh Nga, Thành Được nữa…

- Tội nghiệp. Tụi nó đang mơ mộng nhiều quá! Thằng Minh phải tốp lại ngay.

- Kép độc Trường Xuân là thằng Cảnh hù đóng...

Thằng Minh cười hăng hắc rồi nó tiếp tục bản phân vai tưởng tượng:

- Thanh Nga, Bạch Tuyết là con Hồng thủ vai, , thằng Út đẹt biểu diễn võ cải lương hồ quảng như Thanh Tòng. 

  Thằng Són lại chen vô: “Còn tao làm kép gì mậy?”

- Mầy hả? Mầy nói nhiều cho mầy làm hoạt náo viên như Ngọc Phu vậy.

Bởi vậy, khi biểu diễn, con Hồng bắt chước ca sĩ bé Hương Lan - con của nghệ sĩ cải lương Hữu Phước ỏng ẹo bước ra. Khỏi nói là tụi khán giả con nít dễ tính vỗ tay quá mạng. Thằng Vân từ dưới góc phòng gọi to:

- Ê, hát bài Lương sơn Bá, Chúc Anh Đài giả trai đi.

- Tuồng đó là tuồng Hồ quảng. Mình phải hát tuồng Việt nam về bà Bùi Thị Xuân dũng tướng…

Nói xong, nó liền cất tiếng hát liền. Lần  đầu tiên, tụi thằng Minh cũng như bọn trong lớp được nghe con Hồng hát. “Trời ơi, con nhỏ này hát ngọt như mía lùi tụi bây ơi”, “Cha, sao cái bộ của nó giống Út Bạch Lan quá”, “Hông, giống Bạch Tuyết hơn”, “Mầy biết gì, Bạch Tuyết chỉ hát tuồng xã hội’’, “Tao thấy giống em bé Bạch Lê đóng với Út Hiền quá”. Mấy đứa nghe con Hồng hát rồi ngồi bình phẩm giọng ca của con này loạn xị xà ngầu.

Nhưng cuối cùng, tụi nhỏ đưa ra một kết luận là: “Con Hồng hát hay một cây xanh dờn” - tức hát hay như Bạch Tuyết vậy đó!

 

+++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++

"EM LÀ NẮNG XUÂN -Thơ Hồng Thúy - Nguyễn Hữu Tân-Lâm Dung -DuyHan"

 

https://www.youtube.com/watch?v=MXCb9-fv12c&feature=em-share_video_user

 image026

https://www.youtube.com/watch?v=MXCb9-fv12c&feature=em-share_video_user

 

 
13 Tháng Ba 2016(Xem: 8025)
"Ngày 10/3, tàu vỏ thép mang hiệu số ĐNa 90777 TS chính thức hạ thủy thành công trong niềm vui của nhiều ngư dân Đà Nẵng… Đây là tàu vỏ thép đóng mới theo Nghị định 67/2014 của Chính phủ đầu tiên ở Đà Nẵng hạ thủy".
10 Tháng Ba 2016(Xem: 7159)
"Theo báo chí Việt Nam, tàu cá mang số hiệu KH 96440 TS của tỉnh Khánh Hòa với 5 ngư dân trên khoang đã bị chìm tại khu vực cách đảo Linh Côn thuộc quần đảo Hoàng Sa 41 hải lý về hướng Đông Nam".
08 Tháng Ba 2016(Xem: 6264)
"Ông Minh nói rằng, Hải Nam có hơn 100 ngàn ngư dân. Chính quyền Hải Nam đã cung cấp hỗ trợ cho lực lượng này trong việc đóng tàu lớn, trợ cấp nhiên liệu cho ngư dân đánh bắt (bất hợp pháp) trên Biển Đông, đồng thời ngư dân được chính phủ Trung Quốc "đào tạo năng lực tự vệ".
06 Tháng Ba 2016(Xem: 6662)
"Cựu ngoại trưởng Australia Bob Carr cho rằng việc triển khai tàu chiến tới biển Đông là "chiến lược mạo hiểm". Ông Conroy nói: “Tôi nghĩ rằng mọi người đang nhìn thấy hành vi rất hiếu chiến từ Trung Quốc – triển khai máy bay quân sự, đội tên lửa, không có sự giải thích, không phù hợp với các tuyên bố trước đây nói rằng họ sẽ không chấp thuận hệ thống luật lệ quốc tế".
06 Tháng Ba 2016(Xem: 6726)
"Vụ tranh chấp này là giữa chính phủ liên bang Nhật và chính quyền địa phương trên đảo Okinawa. Chính phủ của Thủ tướng Abe muốn dời căn cứ không quân Futenma tới một địa điểm ít dân cư hơn của Okinawa, nơi tọa lạc các cơ sở quân sự khác của Mỹ. Các chính quyền địa phương thì muốn căn cứ không quân phải rời hẳn khỏi đảo Okinawa".
06 Tháng Ba 2016(Xem: 6886)
"Emadeldin Elsayed, một sinh viên 23 tuổi tới từ Cairo, đang ra trước một thẩm phán di trú ở Los Angeles sau khi tải lên trang Facebook của anh những dòng chữ nói rằng anh sẵn sàng nhận bản án chung thân vì giết ông Trump. Anh sinh viên nói anh tin rằng thế giới sẽ cảm ơn anh!".
01 Tháng Ba 2016(Xem: 6969)
"Mặc dù cho tới nay chưa tham gia tuần tra chung với hải quân Hoa Kỳ ở vùng Biển Đông, nhưng Úc vẫn ủng hộ quan điểm của Mỹ..."
01 Tháng Ba 2016(Xem: 6464)
"Tổ chức Di dân Quốc tế loan báo họ đang gia tăng những nỗ lực để đưa di dân Châu Phi bị lạm dụng và ngược đãi ở Libya về nước".
01 Tháng Ba 2016(Xem: 7777)
"Các cuộc đụng độ nổ ra khi nhà chức trách tháo dỡ lều trong trại tỵ nạn được gọi là Jungle tại cảng Calais, Pháp".
28 Tháng Hai 2016(Xem: 6644)
Donald Trump : “Những gì tôi đã làm vào ngày 16 tháng 6 là chúng tôi đã lên tiếng nói về thương mại, về việc bị các nước như Trung Quốc, Nhật Bản, Mexico, Việt Nam cũng như Ấn Độ cướp đoạt”.
28 Tháng Hai 2016(Xem: 7315)
"Thượng tướng họ Vương nói sẽ kiên trì yêu sách "đường lưỡi bò", "dám đánh, có thể đánh và đánh thắng" các đối thủ ở Biển Đông". "Vương Giáo Thành là người Hán, sinh tháng 12/1952 ở Hàng Châu, Chiết Giang, theo nghiệp nhà binh và phục vụ trong các đơn vị Lục quân, công tác lâu năm ở Đại quân khu Nam Kinh, lon Thượng tướng".
23 Tháng Hai 2016(Xem: 7110)
"Chính phủ Syrie cho biết sẽ ngừng "các hoạt động chiến đấu" thể theo kế hoạch được Mỹ và Nga công bố".
23 Tháng Hai 2016(Xem: 7012)
"Tuần trước, trong khi các nhà lãnh đạo ASEAN đang họp cùng Tổng thống Hoa Kỳ tại Sunnylands, California, đã xuất hiện những bằng chứng của một sự leo thang mới mà Trung Quốc tiến hành ở Biển Đông, hòng đe dọa, dằn mặt các bên liên quan". Ảnh: Một nhà sư Campuchia băng ngang qua ngã tư "tọa độ nóng" Bob Hope - Gerald Ford dẫn vào Tòa Bạch Ốc Viễn Tây bên trong điền trang Sunnylands. Photo: lkt-VH
21 Tháng Hai 2016(Xem: 7615)
"Đức Đạt Lai Lạt Ma trấn an hàng ngàn tín hữu rằng sức khỏe của ông vẫn tốt, dù đang được điều trị tại một trung tâm y tế hàng đầu tại Mỹ". "Nhà lãnh đạo tinh thần Phật giáo Tây Tạng 80 tuổi phát biểu trước hơn 3.000 tín hữu hôm Chủ nhật tại Trung tâm Hội nghị Minneapolis". Ảnh bên: Nhà báo Lý Kiến Trúc vinh dự có được cơ duyên đại hạnh ngộ với Đức Dalai Lama hai lần tại nam California (1999 & 2009). Trong một buổi họp báo tại Long Beach, Ngài đã trả lời câu hỏi của báo Văn Hóa và ký tặng vào bức ảnh chân dung Ngài do Lý Kiến Trúc chụp ". (XEM THÊM).
21 Tháng Hai 2016(Xem: 7282)
"Vào đầu tuần này, ông Vương Nghị dự định sẽ tiến hành hội đàm, hội kiến với Ngoại trưởng Mỹ John Kerry, Cố vấn an ninh quốc gia Mỹ Susan Rice và các quan chức liên quan khác của chính quyền Tổng thống Barack Obama".
21 Tháng Hai 2016(Xem: 6893)
"Đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam bình luận về tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông, nhân sự Đại hội 12 và nhân quyền Việt Nam".