Diễn đàn Nguyễn Văn Lục (Bài 3+ 4)

22 Tháng Ba 20167:32 CH(Xem: 2714)

"BÁO VĂN HÓA-CALIFORNIA" THỨ  TƯ  23  MAR  2016

1.000 năm chống Tầu, 100 đô hộ Tây: Thực chất và huyền thoại (4a)

Posted on March 18, 2016 by editor — No Comments ↓

 Nguồn: Bài và chú thích của tác giả. DCVOnline hiệu đính và minh họa.

image076

Nguyễn Văn Lục

Nếu so với cuộc sống ngoài Bắc bữa no bữa đói, lo từng bữa thì đây phải nói là thiên đàng. Những điều gì khác với điều tôi viết thường là do cộng sản lúc bấy giờ tuyên truyền. Không có sốt rét, ngã nước cái con mẹ gì hết!

 Trước 1975, có một bài hát của Trịnh Công Sơn (TCS), Gia tài của mẹ, do Khánh Ly hát thấm đẫm tình tự dân tộc, nói lên tâm trạng tủi nhục của người dân trong một nước nhược tiểu.

Bài hát với nội dung như sau:

“Một ngàn năm nô lệ giặcTầu
Một trăm năm đô hộ giặc Tây
Hai mươi năm nội chiến từng ngăy
Gia tài của mẹ để lại cho con
Gia tài của mẹ một nước Việt buồn…”


Tuy nhiên, bên cạnh tiếng nói thốt lên từ bom đạn của một người nghệ sĩ, còn có tiếng nói của lịch sử, và lịch sử có tiếng nói riêng của nó, và đó là trọng tâm của bài viết này.

Bởi vậy, cũng cần nhắc lại ở đây, về phía người cộng sản, sau 1975, họ cũng nhắc lại quá khứ lịch sử Việt Nam, cũng 1000 năm chống Tầu, cũng 100 năm chống Tây.

Dĩ nhiên, tiếng hát của TCS và quan điểm trình bày của người cộng sản không cùng tần số: một bên tình tự dân tộc, một bên là tham vọng chính trị.

Vậy thì đâu là sự thật lịch sử? Sự thật lịch sử có thể không nằm ở cả hai phía! Một bên coi là nô lệ, bên kia coi là chiến đấu!

Người ta còn nhớ Tổng Bí thư đảng CSVN Đỗ Mười, một trong những nhân vật Việt Nam quan trọng hàng đầu của cộng sản, ngay cả khi ông ta đã về hưu, đã có dịp ghé Singapore vào tháng 10-1993. Ông đã than thở với ông Lý Quang Diệu như sau:

image078
Đỗ Mười. Nguồn: OntheNet

“He spoke with sorrow about Vietnam’s unhappy past – 1.000 years spent fighting China, another 100 years fighting French colonialism and imperialism, then fighting for independence after world war II. They have had to fight the Japanese, the French, the Americans, and later the Pol Pot clique. He did not mention China’s attack in 1979. For 140 years, the Vietnamese had successfully waged wars to liberate their country. Their war wounds were deep, their industries weak, their technology backward, their infrastructure deplorable.”(1)

“Ông ta [Đỗ Mười] buồn rầu phàn nàn với tôi về số phận không may của Việt Nam trong quá khứ. 1.000 năm phải lo chống Tầu, còn lại 100 năm nữa lo chống thực dân và đế quốc Pháp, rồi tranh đấu dành độc lập sau thế chiến thứ hai. Họ phải lo chống Nhật, chống Pháp, chống Mỹ và sau này chống tập đoàn Pol Pot. Ông ta đã không đả động gì đến cuộc tấn công của Trung Quốc năm 1979. Trong suốt 140 năm, người Việt Nam đã thành công tiến hành một cuộc chiến tranh giải phóng xứ sở của họ. Vết thương chiến tranh còn lâu mới lành được, kỹ nghệ của họ còn yếu kém, kỹ thuật còn lạc hậu, cơ cấu hạ tầng thật đáng tội.”

Đây là một luận điệu quá quen thuộc của người cộng sản.

Một mặt đổ vấy cho chiến tranh mọi hậu quả tai hại của nó, một mặt tránh né mọi trách nhiệm mà họ là kẻ chủ chốt gây ra. Mặt khác, họ lại tự hào đến lố bịch về khả năng chiến thắng mọi thế lực thù địch trên thế giới, ngay cả Trung Hoa nếu Trung Quốc xâm phạm đến chủ quyền của Việt Nam.

Ông Lý Quang Diệu, trong lần gặp gỡ lần đầu tiên với thủ tướng Phạm văn Đồng đã đưa ra một vài nhận xét vắn gọn, cho thấy sự kiêu căng đến vô lý cũng như lý luận cứng nhắc cù nhầy của người cộng sản như sau:

image080
Phạm Văn Đồng đến Singapore gặp Lý Quang Diệu (1978). Nguồn: kinhnghiemsingapore.wordpress.com

“He came on 16 October 1978. I found him arrogant and objectionable. […] Now, Pham Van Dong, an old man of 72, showed that he was tough as nails. (…) Singapore had benefited from the Vietnam war, selling the Americans war material, hence it ours duty to help them. I was dumbfounded by their arrogant and belligerent attitude.”(2)

Ông ấy đến thăm Tân Gia Ba vào ngày 16-10-1978. Tôi nhận thấy ở ông một thái độ trịch thượng đến chướng mắt. […] Phạm Văn Đồng lúc ấy là một ông già đã 72 tuổi mà vẫn còn tỏ ra cứng như đinh. (…) Ông cho rằng Tân Gia Ba đã được thừa hưởng những lợi nhuận từ chiến tranh Việt Nam, như bán các vật liệu chiến tranh cho Mỹ, nay thì đến lượt Tân Gia Ba có bổn phận phải giúp đỡ họ. Tôi thật điếng người đi trước thái độ trịch thượng và hiếu thắng của họ.

Bài này viết nhằm nhìn lại, bạch hóa những ngộ nhận nhằm xóa trắng lịch sử, che đậy những ý đồ đen tối về lịch sử dân tộc Việt.

Về 1000 năm nô lệ giặc Tầu

Nước ta và nước Tầu trong 2000 lịch sử, ta ở phương Nam, Tầu ở phương Bắc. Thật sự cái biên giới nó không phân định đơn giản và cố định như thế. Không có cái kiểu phân định rõ rệt:Nam Quốc sơn hà Nam đế cư. Nói như thế, ta nói lấy được mà thôi!

Ngược lại, lịch sử cho thấy các vùng địa lý hai bên Bắc-Nam thay đổi từng thời kỳ, thay đổi liên tục.

Nếu may ra có được một cái gọi là biên giới thì đó là một thứ biên giới không phân định (amorphous boundary) giữa Nam Bắc.

Nhưng nói chung hai bên đã có những liên hệ sống còn-vital region- liên ngành không tránh được về mặt địa lý, về xã hội, về văn hóa và nhất là về chủng tộc.

Người Tầu có cách phân định dòng giống Tầu -Hán tộc – Sinitic chính gốc và vùng biên địa – thuộc dòng man di, mọi rợ (non-Sinitic).

Nước ta thuộc vùng biên địa được kể là giống dân còn man di, mọi rợ!

Hãy khoan bàn đến đúng sai về nhận định của người Tầu!

Mới đây, tôi được đọc một tài liệu nhan đề Imperial China and Its Southern Neighbours(3) Cuốn sách có sự cộng tác của nhiều nhà sử học trên thế giới. Nhờ cuốn sách này đã giúp người đọc như tôi có những điểm nhìn trung thực hơn về sử học và về mối quan hệ Việt-Trung.

Và cũng hy vọng những người viết sử Việt Nam có cái nhìn khiêm tốn và khách quan hơn về sử Việt – tránh lối viết khống, khoác lác, không tài liệu dẫn chứng – viết cái gì ta cũng nhất, ta “đứng vững ngàn năm” như kiểu tác giả Ngô Nhân Dụng.

Trong lời đề tựa của cuốn sách, người chủ biên tập sách – ông Victor H. Mair, giáo sư đại học Pennsylvania đưa ra một vài nhận xét chủ chốt giúp người đọc hiểu được mối liên hệ Bắc-Nam như sau:

Thứ nhất, có một sự lấn lướt tiệm tiến của phía Bắc dần xuóng phía Nam vì có sự tranh chấp nội bộ mà có xu hướng chuyển dịch xuông phía Nam tìm một sự ổn định hơn. Dựa trên tài liệu của Harold J. Wiens trong cuốn: China’s March toward the Tropics – xuất bản 1954 và một tài liệu khác: C.P. Fitzgerald với cuốn The Southern Expansion of the Chinese People (1972).

Tác giả Victor H. Mair giải thích lý do tại sao có sự bành trướng của người Tầu xuống phía Nam. Đó là lý do vì có sự thay đổi quyền lực từ sự sụp đổ của nhà Tây Tấn (265-316, Western Jin, 西晉) sang nhà Đông Tấn (317-420, Eastern Jin, 東晉). Sự khủng hoảng quyền lực ở trung nguyên, đưa đến việc điều chỉnh địa-chính trị khiến một một thiểu số dân phương Bắc cũng nhân dịp đó xuôi Nam trong mưu cầu bành trướng và đồng hóa..

Thứ hai, nhìn lại nhu cầu bành trướng xuống phia Nam về mọi mặt, từ địa lý chính trị đến văn chương, nghệ thuật, thương mại đến văn hóa vật thể (material culture) cho thấy nó không nhất thiết tác động một chiều – từ Bắc xuống Nam – mà có tác động nhiều mặt khác nhau – từ Nam tác động đến Nam – xuyên qua các vùng Đông Á và Đông Nam Á và xa hơn nữa.

Tác giả dưa ra hai bằng chứng là đạo Lão và thuật uống trà tưởng rằng đó là sản phẩm từ phía Bắc – nhưng thật sự là sản phẩm của người phương Nam – thường bị người Tầu coi là dân mọi rợ – nhập vào phía Bắc.

Công việc của các nhà nghiên cứu sử là đi tìm hiểu tại sao người phương Nam đã nhìn nhận văn hóa phương Bắc và đồng hóa nó, đòng thời nhìn nhận có một dòng chảy của văn hóa phương Nam đã sát nhập vào dòng chảy chính từ phía Bắc.

Nói tóm lại, sự bành trướng xuống phía Nam của nước Tầu là điều hiển nhiên được nhiều tác giả xác nhận.

Charles Patrick Fitzgerald trong cuốn The Southern Expansion of the Chinese People trong lời mở đầu viết, “Chinese influence, Chinese Culture and Chinese power have alwways moved southwward since the first age of which we have reliable historical evidence.”(4)4

“Ảnh hưởng của Trung Hoa, Văn hóa của Trung Hoa và quyền lực của Trung Hoa luôn luôn đi về phía Nam ngay từ thời kỳ đầu của niên đại khi mà chúng ta có được các bằng cớ lịch sử hiển nhiên đáng tin cậy.”

Ở một chỗ khác, ông viết:

“Vietnam is the country most open to Chinese expansion and occupation by land. The frontier, although passing along a mountains chain, afford more than one accessible pass, and the sea coast is but an extension the sea coast of the southern Chinese province of Kuangtung. The red river delta, the heart of northern Vietnam, is also the best and largest fertile plain south of the Yangtze estuary. Every circumstance seem to dictate that this adjacent country would become, and remain, a part of the Chinese world, and an integral part of the Chinese state.”(5)

“Việt Nam là nước mở rộng nhất cho sự bành trướng và xâm chiếm của Trung Quốc trên đất liền. Biên giới mặc dầu phải vượt qua dọc theo những rặng núi vẫn có nhiều đường đèo có thể qua được, và đường biển chỉ là đường nối dài của bờ biển phía Nam nước Tầu của tỉnh Quảng Đông. Đồng bằng sông Hồng – trái tim của miền Bắc Việt Nam – cũng là đồng bằng phì nhiêu và lớn nhất ở phía nam Trường Giang (sông Dương Tử). Cứ mỗi trường hợp được nêu ra thì hình như lại chỉ ra rằng cái xứ sở sát nách với nước Tầu sẽ trở thành một phần và sẽ mãi của Thế giới Trung Hoa, và một một thành tố không thể cách ly ra khỏi nước Tầu..).

Tuy nhiên, khi tìm đọc lại sử Việt, chúng ta gặp một khó khăn khó có thể vượt qua là tính tổng quát hóa sự kiện mà thiếu bằng chứng sử liệu. Hầu như người ta khó có thể tìm ra bất cứ sự thật nào trong các tài liệu sử Việt.

Việc truy tìm ra sự thật không phải dễ dàng gì.

Theo sử gia K.W. Taylor viết trong cuốn A History of the Vietnamese, ông cũng nhìn nhận như vậy:

“The Vietnamese past is full of personalities and events both obscure and famous, and often the obscure have had greater effect upon the direction of culture, society, and politics than have the famous. I have tried to move beyond the propaganda of memory and memorializing to display a thicker layer of information that has accumulated about people and events. My purpose in doing so is to evoke a sense of the past as alive in its old time.”

“Quá khứ của người Việt Nam thì đầy những nhân vật và những sự kiện rất lu mờ và nổi danh, và thường thì những sự kiện còn chưa rõ ràng thì lại có ảnh hưởng lớn đến lãnh vực văn hóa, xã hội và chính trị hơn là thứ nổi danh. Tôi đã phải cố gắng vượt lên trên các loại tuyên truyền ấy và trình bày bằng những dữ kiện có bề dày khả tín đã được thu tập về người và các dữ kiện. Mục đích của tôi khi làm như vậy là để khơi dậy một ý thức về quá khứ một cách sống động như thể nó đã là như thế ở trong quá khứ.”

Sau đây là những bằng chứng về việc chống lại sự xâm lược của Tầu trong suốt nhiều thế kỷ. Nó vừa chứng tỏ sức đề kháng kiên trì, sụ vận dụng được quần chúng tin tưởng và noi theo. Nhưng nó cũng cho thấy ngay sau đó lại có sự tranh chấp, các cuộc nổi dậy tranh dành quyền lực xảy ra liên tục giữa các triều đại.

Thật vậy, ba triều đại nhà Ngô (939-965), rồi nhà Đinh (968-980) rồi nhà Tiền Lê (980-009) được coi là độc lập sau cả ngàn năm Bắc thuộc mà cộng lại chỉ được hơn 70 năm.

Trong 70 năm ấy xảy ra nhiều loạn lạc nhiễu nhương mà theo tôi vì nước ta chưa thành hình một nhà nước có kỷ cương – một état đúng nghĩa có luật pháp, có uy quyền.

Ngô Quyền chức danh chỉ là một Tiết Độ Sứ do nhà Đường bên Tầu ban cho. Ông không bằng lòng rồi tụ xưng vương. Xưng vương rồi chưa kịp chỉnh trang, triển khai luật lệ của triều đại mới thì lại bị Đinh Tiên Hoàng xưng Đế vương.

12 năm sau, quyền bính lại rơi vào tay nhà Tiền Lê!

Tiếng là đã độc lập, đã tự chủ. Nước Tầu hầu như không can thiệp gì vào những biến động chính trị của Việt Nam. Nhưng liệu trong thời gian 70 năm với sự thay đổi ba triều đại, liệu người dân có được yên ổn làm ăn không?

Một điều nhận xét nữa là không chỉ nước ta mới có loạn, mà nước Tầu cũng vậy. Hết nạn Tam Quốc thì lại đến Ngũ Đại Thập Quốc (Hậu Lương, Hậu Đường, Hậu Tấn, Hậu Hán, Hậu Chu và Ngô, Nam Đường, Ngô Việt, Mân, Bắc Hán, Tiền Thục, Hậu Thục, Kinh Nam, Sở, Nam Hán) nên cho dù họ có muốn can thiệp vào nước ta cũng không được. Điều nay cắt nghĩa tại sao ta được yên?

Tiền đề thứ nhất: Nước ta được yên vì bên Tầu có loạn

image082
Bản đồ Trung Hoa và láng giềng thời Hậu Đường. NguồnBy 玖巧仔 – Tác phẩm do chính người tải lên tạo ra, CC BY-SA 3.0, https://commons.wikimedia.org/w/index.php?curid=18168309

Tĩnh Hải Quân Tiết Độ Sứ là  Khúc Thừa Dụ của Giao Chỉ

Sự kiện vắn vỏi của ba triều đại trên đã giúp chúng ta nhìn lại Sử Việt một cách khác hơn. Căn cứ vào cuốn sách của giáo sư Nguyễn Phương – giáo sư sử của đại học Huế – cuốn Việt Nam thời khai sinh giúp triển khai chi tiết hơn.

Nói chung, hướng đi của lịch sử Việt Nam giống như nhiều nước khác: Một mặt chống ngoại xâm, bảo vệ bờ cõi trước mọi cuộc xâm nhập. Mặt kia tìm cách bành trướng mở rộng biên cuong xuống phía Nam.

Tuy nhiên, Việt Nam xem ra bận tâm hơn với việc chống xâm lăng hơn là bành trướng xuống phía Nam.

Cuộc xâm lăng của đời nhà Tống sang Việt Nam là năm 981

Kể từ khi nhà Ngô dấy nghiệp, thời gian cũng đã trên nửa thế kỷ.

Đây là lần đầu nhà Tống sang quấy nhiễu nước ta vào năm 981. Họ mang theo hai đại quân, đường bộ vào Lạng Sơn, đường thủy vào Bạch Đằng. Và cả hai đạo quân đã bị quân ta đánh tan.

Lần thứ Hai, dưới thời nhà Nguyên. Năm 1285-1288

Khoảng cách giữa cuộc xâm lăng giữa đời nhà Tống sang đời Nhà Nguyên là gần ba thế kỷ – một khoảng thời gian khá dài so với đời người. Sở dĩ có một thời gian dài như vậy vì vua nhà Tống có biệt lệ không muốn kéo quân sang Việt Nam. Họ chỉ phủ dụ và khuyên răn vua quan Việt Nam mà thôi.

Tiếp đến nhà Lý lên ngôi – do Lý Công Uẩn cướp ngôi của vua ngọa triều. Triều Lý sau đó kéo dài được 9 đời từ 1010 đên 1224. Đây cũng đánh dấu thời đại thịnh trị của vua quan nhà Lý với sự phát triển mạnh của đạo Phật.

Tiền Đề thứ hai: Cái lý do chính yếu để cho người Tầu kéo quân sang chinh phạt Việt Nam, bởi vì phía Việt Nam có nội loạn, xâu xé lẫn nhau, tranh quyền đoạt vị. Trừ trường hợp nhà Nguyên ra, tất cả các lần họ kéo quân sang đều do hoàn cảnh chính trị Việt Nam đã mở đường cho nạn Bắc phạt.

Cái tấm gương thượng bất chính gây nên sự chia rẽ, hận thù giữa dòng tộc hay ngoài dòng tộc là cái cớ sự cho người Tầu dòm ngó vào Việt Nam. Đó là trường hộp Lê Hoàn thoán đoạt ngôi vị của nhà Đinh, thời Lê Quý Ly tiêu diệt nhà Trần, thời Tây Sơn hoành hành mỗi lần ra Bắc.

Nếu ta không cử người qua cầu viện, năn nỉ thì không có vấn đề quân Tầu sang nước ta.

Cái điều ấy xảy ra nhiều lần cho một tiểu quốc và trở thành như số phận nhược tiểu rồi sau đó lại than vãn oán trách. Cộng sản Việt Nam huênh hoang 1000 năm chống Tầu mà họ quên rằng chính Hồ Chí Minh đã một mình lặn lội sang Moscou, rồi sang Tầu để năn nỉ họ giúp chống Pháp. Chống Pháp hay chống Mỹ sau này cũng là nhờ Tầu. Bài học lịch sử rõ ràng và rành rành ra đấy thế mà họ quên được sao?

Và lịch sử đã chứng minh là trong những tinh huống hỗn độn như thế thì người Tầu bất kể là nhà Tống hay nhà Minh hay nhà Thanh hay Mao Trạch Đông đều lợi dụng tình thế cất quân sang đánh.

Gánh nặng lịch sử trước sự đe dọa của Tầu Cộng bây giờ là bọn lãnh đạo cộng sản Việt Nam chứ không phải nhân dân Việt Nam.

Hồ Quý Ly đã lừa đảo Trần Nghệ Tông, đã giết Trần Thuận Tông, đã cướp ngôi Trần Thiếu Đế. Tất cả những việc làm vô đạo – lừa đảo ấy đều ứng vào Hồ Chí Minh cả.

Lịch sử đất nước ta có hai họ Hồ thì đều là loại xây đắp quyền lực bằng sự lừa đảo chứ không phải thực tài.

Làm sao có thể có một Lê Lợi thứ hai trong hoàn cảnh đất nước sôi sục này? Dân chúng đã mất niềm tin vào lãnh đạo. Trong khi đó, Tầu cộng chỉ cần không mở vòi nước đập thượng nguồn đủ biến đồng bằng sông Cửu Long khô cạn.

Và nay, nếu ta ngồi làm một con tính cộng sẽ cho thấy thời gian dành để chống Tầu và thời gian để chống nhau, thời gian chống nhau gần như chiếm phần lớn.

Thật không mấy khó khăn để làm con tinh cộng xem Trịnh-Nguyễn phân tranh là bao nhiêu năm? Tây Sơn-Nguyễn Ánh đối đầu với nhau là bao nhiêu năm, giữa bọn cộng sản với người Quốc Gia là bao nhiêu năm?

Cho nên cái chuyện 1.000 năm hay 100 năm vẫn là chuyện nhỏ.

Chuyện chính không phải giữa Địch với Ta mà là Ta với Ta. Giữa Người Việt với người Việt.

Về lịch sử 100 năm chống thực dân Pháp

Để có một khái niệm tương đối chính xác về sự có mặt của người Pháp ở Việt Nam, thử làm một bảng tổng kết 100 năm triều đình nhà Nguyễn và 100 năm người Pháp sang cai trị nước ta như thế nào?

Khi viết những dòng này, tôi có được đọc cuốn sách của cụ Nguyễn Xuân Thọ, Bước mở đầu của sự thiết lập hệ thống thuộc địa Pháp tại Việt Nam, xuất bản năm 2002, Paris và mới đây nhất của tác giả Nguyễn Quốc Trị nhằm biện hộ cho Nguyễn Văn Tường, cuốn sách nhan đề,Nguyễn Văn Tường (1824-1886) – Cuộc chiến chống đô hộ Pháp của nhà Nguyễn. Tôi chỉ mới có cơ hội đọc bản giới thiệu của Thụy Khê.

Xem ra các tác giả vẫn muốn biện hộ cho một tinh thần yêu nước của giới quan lại trong triều đình, đồng thời gián tiếp nói tới một cái gì chưa tiện nói ra.

Như một cớ sự, họ nói xa gần đến một âm mưu muốn đồng hóa các giáo sĩ với các thế lực của thực dân nhờ thế hóa giải được trách nhiệm cũng như sự bất lực và yếu kêm của vua quan triều Nguyễn. Đồng thời muốn phủ nhận những đóng góp của Bá Đa Lộc đối với Nguyễn Ánh.

Tại sao phải làm như vậy thì tôi không được rõ.

Nhưng triều đình nhà Nguyễn, thay vì trực diện với người Pháp thì lại đi tìm một giải pháp dễ dãi là giết hại giáo dân và giáo sĩ.

Tôi có thể nói thẳng là giáo dân lúc bấy giờ phần đông đều là dân vạn chài, dốt nát, nghèo mạt rệp.

Họ không đủ tư cách để bán nước.

Theo tác giả Nguyễn Duy Chính thì “Quan điểm này còn nhiều điểm cân đánh giá lại.”(6)

Một quan điểm dựa trên một hai vị giáo sĩ mượn tay người Pháp để có cơ hội truyền bá đạo mà những người đi trước như Cao Huy Thuần cũng đã từng nêu ra trong cuốn luận án của ông.

Đã có hằng trăm giáo sĩ đủ quốc tịch đã đến Việt Nam giảng đạo từ thế kỷ 15 trước khi người Pháp có mặt. Nào chỉ có thừa sai người Pháp? Và chế độ thuộc địa đã có mặt trên cả trăm nước trên thé giới! Vậy thì ở những nước ấy, thực dân chẳng lẽ cũng mượn tay các thừa sai để có cớ chính đáng đi chinh phục các nước đó chăng? Xin nghĩ xa thêm một chút!

Bài viết của tôi không có mục đích tranh luận về sử học, về chính sách của người Pháp tại Việt Nam. Mà chỉ nhằm đưa ra một sô sự kiện mà tự nó nói lên giúp người đọc tự mình chọn lựa một thái độ thích hợp.

Đối với tôi, thế là đủ.

image085
Nguồn: Université du Quebec

Chúng ta đều biết rằng Gia Long lên ngôi năm 1802 đã có một số liên lạc tốt đẹp với người Pháp – nhất là với giáo sĩ Bá Đa Lộc. Sau đó mối liên hệ càng ngày càng trở nên xấu đi. Nhưng ít nhất, cho đến năm 1862 (hòa ước Nhâm Tuất) và Hòa ước Giáp Tuất (1874) người Pháp mới thật sự có mặt.


Triều đình nhà Nguyễn – trong hơn nửa thế kỷ – từ 1802-1862 đã xây dựng được gì cho xứ Bắc Kỳ, Nam Kỳ và cả Trung Kỳ?

Đó là điều chúng ta phải cố mà tìm hiểu.

Người Pháp chỉ thực sự chủ động từ 1862.

Và từ thời gian này cho đến khoảng 1905 nghĩa là 43 năm.

Họ đã đem lại một bộ mặt hoàn toàn mới cho ít nhất xứ Bắc Kỳ và Nam Kỳ.

Tôi đã có dịp đọc cuốn La colonisation agricole au Viet Nam của Steve Déry (7). Trong đó tác giả trình bày bao quát về việc phá rừng, xử dụng nhân công người thiểu số sát nhập vào dân bản địa, hoặc đưa một số di dân từ Bắc vào Nam làm đân cạo mủ cao su.

image087
Khu đồn điền cao-su của Pháp phía bắc Saigon (màu xanh, 1931). Nguồn: http://www.quanloi.org/

Đây là một chương trình kinh tế đồng thời để xóa đói, giảm nghèo.

Nếu ai đã có dịp sống ở nông thôn miền Bắc mới hiểu được sự nghèo đói nó như thế nào. Cơm không có mà ăn, áo không có mà mặc. Người nông đân đôi khi chỉ có cái khố. Làm lụng vất vả, thay trâu cầy bừa. Chết không có đất chôn. Khổ sở trăm chiều!

Xin đừng có tự ái dân tộc. Xin nhìn vào hoàn cảnh thực tế lúc bấy giờ.

Dưới mắt tôi thì đây chỉ là một chinh sách kinh tế, giải quyết nạn nghèo đói. Chỉ có vậy.

Vua quan nhà Nguyễn có kế hoạch, có một chủ trương xóa đói giảm nghèo như thế không? Đầu óc vua quan nhà Nguyễn còn tối tăm, ngu đần – một chữ cũng Tầu – làm sao có những kế hoạch kinh tế như vậy?

Tôi đã có kinh nghiệm sống ở đồn điền cao su. Tôi nói có bằng chứng. Cảnh đánh đập công nhân trước đó có thể có, sau này tôi không thấy nữa. Thỉnh thoảng có các đoàn hát cải lương lưu động ở Saigon lên, ai có tiền thì đi coi hát. Nhà thờ cũng có. Thỉnh thoảng cũng có cha cố về. Cuộc sống về mọi mặt không phải lo. Cộng sản chẳng thể nào xâm nhập dụ đỗ được ai cả.

Mỗi công nhân cạo mủ được cấp một căn nhà gạch gồm hai gian, để ngủ, để ăn và tiếp khách. Đằng sau có bếp, có cầu tiêu. Bếp đun dầu hôi sạch sẽ gọn ghẽ. Gạo và các nhu yếu phẩm như nước mắm, cá khô, v.v. được sở đòn điền cung cấp với giá rẻ. Trẻ con có trường học, y tế miễn phí, lương phát mỗi kỳ dư ăn. Thịt cá, rau hoa quả có chợ, ai có tiền thì mua không thiếu. Chiều chiều, dân cạo mủ, các thày cô chú đi dạo trên những con đường quanh làng. Trẻ con, người lớn có sân đá banh và thường tổ chức thi đấu với các đội bạn. Có nghĩa địa dành cho người chết.

Nếu so với cuộc sống ngoài Bắc bữa no bữa đói, lo từng bữa thì đây phải nói là thiên đàng. Những điều gì khác với điều tôi viết thường là do cộng sản lúc bấy giờ tuyên truyền. Không có sốt rét, ngã nước cái con mẹ gì hết!

image089
Làng của thợ mủ cao su (người miền Bắc) ở đồn điền Quản Lợi. (1931). Nguồn: http://www.quanloi.org/

image091
Nhà của công nhân đồn điền Lộc Ninh (Circa 1930s). Nguồn: http://belleindochine.free.fr/

(Còn phần 4b)

© 2016 DCVOnline

trích đăng lại bài từ DCVOnline.net



 Nguồn: Bài và chú thích của tác giả. DCVOnline hiệu đính và minh họa.

(1) Lee Kuan Yew, “From Third World to First”, trang 316

(2) Lee Kuan Yew, Ibid., trang 310-311

(3) Victor H. Mair và Liam C. Kelley, Ed., “Imperial China and Its Southern Neibourghs”, với sự cộng tác của nhiều sử gia khác, do Institute of Southeast Asian Studies, Singapore xuất bản 2015

(4) C.P. Fitzgerald, “The Southern Expansion of the Chinese People”, trang mở đầu.

(5) C.P. Fitzgerald, Ibid., trang 19.

(6) Nguyễn Duy Chinh, “Sự đóng góp của giám mục Pigneau de Beshaine vào công cuộc cải cách ở Gia Định”, trang 2

(7) Steve Déry, “La colonistion agricole au Việt Nam”, NXB Presses de l’Université du Québec, 2004.


1.000 năm chống Tầu, 100 đô hộ Tây: Thực chất và huyền thoại (4b)

Posted on March 19, 2016 by editor — No Comments ↓

Nguyễn Văn Lục

image092

Người Quốc gia phải hợp tác với Tây là chuyện nhất thời vì thấy rằng còn có một thứ kẻ thù nguy hiểm, độc ác, tàn bạo, gian manh gấp bội phần chế độ thực dân Pháp.

(Tiếp theo phần 4a)

Và chắc chắn cuộc sống ở nơi đây không phải là bị đầy đọa như đi kinh tế mới thời cộng sản.

Triều đình nhà Nguyễn đã xây dựng được bao nhiêu cơ sở hạ tầng như đường xá, giao thông trên sông ngòi, bao nhiêu cầu cống, xây dựng được bao nhiêu tỉnh thành, bao nhiêu trường học, bao nhiêu cơ sở y tế, bao nhiêu cơ sở xã hội, bao nhiêu nhà máy, bao nhiêu cơ sở kỹ nghệ, bao nhiêu công ty, bao nhiêu đồn điền, bao nhiêu chương trình dẫn thủy nhập điền?

Các con kênh được người Pháp cho đào dài đến hàng ngàn cây số, dẫn nước vào ruộng vườn.

Chưa kể lần đầu tiên tại lục tỉnh mọc lên các nhà máy xay lúa, nhà máy cưa, nhà máy nước đá, nhà máy đường. Ngoai Bắc thì có các kỹ nghệ nặng hơn như nhà máy xi măng Hải Phòng, nhà máy dệt Nam Định.

Triều đình Huế đã làm được gì?

image094
Nội điện Thái Hòa, 1907. Nguồn Delcamp.net

Sau 1954, chính phủ Đệ Nhất Cộng Hòa tiếp tục các chương trình ấy, nhưng so với người Pháp thì không bằng.

Tác giả Steve Déry viết:

“En 1954, on estimait à un million d’hectares la superficie des rizières qui avaient été abandonnés; et en 1956, deux ans après les accords de Genève consacrant la fin de l’empire colonial d’Indochine, seulement 40% d’entre elles avaient pu être remises en culture.”(8)

“Vào năm 1954, người ta ước lượng có đến một triệu mẫu ruộng diện tích canh tác bị bỏ hoang, và vào năm 1956, hai năm sau khi Hiêp định Genève đã chấm dứt chế độ thuộc địa ở Đông Dương, lúc đó chỉ còn 40% các mẫu ruộng trước đây có thể được canh tác lại.”

Phần vua chúa nhà Nguyễn, các công trình nổi bật nhất còn để lại là xây dựng lăng miếu, cung điện nhà vua. Tổ chức được các kỳ thi cử nhân, tiến sĩ, kén chọn hiền tài thuộc lầu kinh sử xem ra rất là nghiêm nhặt và chỉ chấm dứt kỳ thi Hương vào năm 1905?

Việc thứ hai thấy rõ là dẹp giặc giã nổi lên khắp nơi. Sắp xếp cai đội, huấn luyện binh sĩ, lập đồn lũy, đóng thuyền bè, lập kho trạm để thu thuế ruộng khắp nơi.

Đọc Đại Nam Thực Lục của nhà Nguyễn là cứ hoa cả mắt lên vì sắp xếp chức tước cho các quan lại, binh đội các nơi, mộ quân, mộ linh. Ai mộ được 10 người lính thì cho làm đội trưởng.

Việc quân binh, giữ gìn an ninh bờ cõi xem ra chiếm hết thời giờ cũng như tâm tư của vua quan nhà Nguyễn!

Việc kinh tế duy nhất là sai các bọn thổ mục địa phương khai thác các mỏ vàng, mỏ bạc, mỏ đồng, mỏ kẽm, mỏ chì ở vùng Tuyên Quang, Hưng Hóa(9). Rồi cứ thế, mỗi năm định lệ thu thuế.

Tuy nhiên, vua quan nhà Nguyễn thiếu cái nhìn về cải tiến xã hội, cải tiến dân sinh, phát triển đất nước. Việc kén dụng nhân tài đều chưa có tầm nhìn xa, trông rộng… chỉ trông vào kết quả thi cử để tuyển chọn.

Kỳ thi tuyển chỉ cần biết làm dăm ba câu thơ, thuộc dăm ba kinh sách có thể đã được coi là hiền tài, hữu dụng. Vua chúa, quan quyền trăm sự đều học và bắt chước theo Tầu. Bắt chước từng chi tiết, từng cái tên gọi, từ việc nhỏ đến việc lớn, từ lễ nghi đến cách ăn cách ở, từ tổ chức hành chánh, lệ thuế khóa, ngạch trật thăng thưởng, tổ chức binh đội nhất nhất đều rập theo Tâu.

Nhất là chính sách cai trị, đường lối giao tiếp với các nước Tây Phương, sự đố kỵ quan ngại đối với họ, với đạo Thiên Chúa đều lấy nước Tầu ra làm kim chỉ Nam.

Sự thiếu sáng suốt, sự bất lực trước một tình thế nan giải trong cách hành xử của vua quan nhà Nguyễn là điều không chối cãi được!

Những đại thần như Phan Thanh Giản, Trần Tiến Thành mỗi lần đi thương thuyết bất thành về bị vua giáng ba bốn cấp đọc mà không khỏi buồn cười. Bao nhiêu bản tấu của Trần Tiến Thành, Phạm Phú Thứ đều bị vứt vào thùng rác. Giữa Nguyễn Trường Tộ, Trần Tiến Thành, Phạm Phú Thứ thì nên nghe họ hay nghe theo Nguyễn Văn Tường? Chỉ mình Nguyễn Trường Tộ, cái hiểu biết thức thời của ông bằng 10 Nguyễn văn Tường!

Nguyễn Trường Tộ được vua Tự Đức ủy thác cùng với Giám mục Gauthier đi Pháp thuê thầy và mua sắm dụng cụ mở trường kỹ thuật, khi về do sự can ngăn của sĩ phu sợ ảnh hưởng Tây Phương, sợ ảnh hưởng công giáo, vua chùn lại và công việc đành bỏ dở.(10)

Đây là mấy tài liệu mua từ Pháp về, có khoảng vài chục tên sách. Sách nói về quặng sắt, về mỏ than, quặng đồng, thiên văn, quang học, địa chất, hàng hải, bách nghệ và vô số dụng cụ, các mẫu đất đá.(11)

Chưa kể cộng thêm tình trạng không đém xỉa gì đến những bản tấu chương của ông.

Trong bấy nhiêu ông vua nhà Nguyễn, trừ Gia Long làm nên sự nghiệp, những người kế tiếp đã làm được gì? Hay tình trạng mỗi ngày một xấu đi, tồi tệ thêm?

Hoàn cảnh này của triều đình Huế cho thấy chẳng khác gì trường hợp Viên Thế Khải bên Tầu, cậy thế triều đình nhà Thanh, tạo vây cánh ức hiếp nhà vua trẻ Phổ Nghi mới hai tuổi.

Sau đây, xin trích Hồi ký của vị vua hai tuổi:

image096
Phổ Nghi, Hoàng Đế sau cùng của Trung Hoa. Nguồn: telegraph.co.uk

“le 2 décembre 1908, à l’âge de deux ans et dix mois, Je fus hisse sur le trône du Dragon sous le nom officiel de Siuan Tong. Ce fur une ceremonie solennelle – bien que mes hurlements, qui n’avaient rien d’imperial, lui avaient enleve une bonne partie de sa dignite.”(12)

“Ngày 2 thàng 12 năm 1908, ở vào hai tuổi, 10 tháng, tôi được đưa lên làm vua với tên hiệu chính thức là Xuantong [宣統帝, Tuyên Thống Đế]. Đây là một buổi lễ long trọng – nếu không có tiềng la hét của tôi – xem ra chả có gì là hoàng gia cả, thì tôi là người đã được tôn vinh theo đúng chức tước của tôi.”

Sụ bất lực ấy của các vị vua trẻ – như Dục Đức (làm vua ba ngày), Hiệp Hòa (làm vua 5 tháng), Kiến Phúc (8 tháng), Hàm Nghi (một năm), tạo ra tình trạng chuyên quyền, phế lập tùy tiện, đem một đứa trẻ con hỉ mũi chưa sạch lên làm vua, rồi nhân danh lòng yêu nước, ý thức chống ngoại xâm để bào chữa, chống chế cho việc làm của mình.

Tất cả đều là giải pháp vá víu, báo hiệu một nguy cơ sụp đổ, mất nước.

Rồi thử xem các hàng hậu duệ, các hàng công chúa, hoàng tử trong bấy nhiêu đời, có được một hai người đủ tài đức ra gánh vác việc nước?

Người viết bài này có một bài viết liên quan đến các công chúa triều Nguyễn cho thấy độ tuổi trung bình sống của các công chúa là 12 tuổi.

Nhiều lý do để cắt nghĩa có sinh mà không có dưỡng. Vua cha mê sắc dục quá độ – cả vài chục vợ đến cả trăm, làm sao bảo đảm một dòng con mạnh khỏe được? Chế độ dinh dưỡng yếu kém. Không vận động thể dục, cành vàng lá ngọc, 14-15 tuổi đầu đã lo dựng vợ gả chồng, cơ thể chưa phát triển, sinh con sài đẹn, yểu tử là chuyện không tránh được. Nhiều công chúa sinh ra chưa kịp đặt tên thì đã chết.

Còn chính bản thân một vua cha, chỉ cần có vài bà vợ cũng đủ bất lực chuyện triều chính. Đến 50, 100 thì phỏng làm được gì?

Xin mượn lời kết luận của tác giả Nguyễn Duy Chính trong tập “Sự đóng góp của Giám Mục Pigneau de Béhaine vào công cuộc cải cách ở Gia Định”, trang 25:

“Phải nói rằng đầu thế kỷ 19, đất nước chúng ta có một cơ hội rất tốt để canh tân và đất Gia Định là một thí điểm tốt nêu được tiếp tục tiến hành những cải cách mà giám mục Pigneau de Béhaine đưa ra. Tuy nhiên, sau khi lên ngôi, vua Gia Long không còn quan tâm đến việc đưa đất nước tiến lên mà ngược lại ông lại sợ người dân không còn phục tòng ông nữa.

Tất cả tài nguyên sức lực của đất nước nay trở thành một phương tiện để ông củng cố quyền hành và vị thế của Vương triều Nguyễn. Trong suốt hai mươi năm tại vị, vua Gia Long chỉ tập trung vào một việc: xây dựng kinh thành Huế thành một pháo đài vĩ đại theo dạng thức Strasburg của Đức với 24 tháp súng, mỗi nơi đặt 36 khẩu thần công. Số nhân công thường trực là mười vạn người và có bốn vạn quân trú đóng.

Thế nhưng công việc canh tân chỉ đến thế, các vua kế tiếp sau Gia Long lại theo đuổi một chính sách bài Tây phương và ngả theo Trung Hoa, hầu như loại trừ mọi tiến bộ mà họ có được trong thời gian phục quốc để quay về mô hình nhà Thanh, một mô hình quân chủ lỗi thời và hủ bại.

Dẫu thế, cái ước mơ của vua Gia Long, của con ông chỉ là ảo ảnh vì ở ngai vàng chưa hết được câu đầu trong bài Đế Hệ Thi thì vương triều Nguyễn đã cáo chung.”

“100 năm đô hộ giặc Tây!”

Gần 100 năm người Pháp hiện diện ở nước ta. Điều chắc chắn là họ đã làm thay đổi diện mạo một đất nước lạc hậu và chậm tiến.

Nếu vua quan sáng suốt biết nương theo cái đà ấy thì dân trí được mở mang, đất nước được tiến bộ.

Người Pháp để lại cả một di sản mà nay cần được nhắc lại. Dư luận xấu thì không thiếu, dư luận tốt thì tương đối hiếm.

Những điều tốt như hệ thống cầu đường, đường xe lửa xuyên Việt Hà Nội-Sài Gòn cho đến nay vẫn còn phải xử dụng – đường sắt do Pháp để lại đã trăm năm! Xe điện Bờ Hồ-Hà Đông, rất lạc hậu, vậy mà 14 năm sau ‘ngày giải phóng’ vẫn nhếch nhác bẩn thỉu chậm rãi bò từng thước một với tiếng chuông điện leng keng thuở nào?

Tôi nhìn lại Hà Nội những năm xưa để thấy Hà Nội với dấu vết thuộc địa thuở nào!

Ở đây, xin mở một dấu ngoặc là Sài Gòn vốn là đất thuộc địa của Pháp với đội quân viễn chinh đông đảo cộng với giới chức hành chánh đủ loại. Nhưng Saigon lại không có những nét đặc trưng cho văn hóa Pháp xuyên qua những nhân vật điển hình như chị bếp, thằng ở, anh kéo xe tay, anh loong toong, me tây, Bồi săm, v.v. Rồi những cơ quan quen thuộc như: sở Mật thám, nhà dây thép, nhà săm, Sở Cẩm, Nhà Hát Tây, v.v.

Với những nhà văn hiện thực xã hội như Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng, v.v., tôi đọc Nguyễn Công Hoan để nhớ lại cái cảnh tượng bắt dân các xã phải đi coi đá banh mà buồn cười. Bây giờ môn bóng đá trở thành môn thể thao như một thứ tín ngưỡng của nhiều nước trên thế giới. Rồi các cuộc tranh tài đua xe đạp từ Nam ra Bắc với tay đua Lê Thành Các. Nhớ đến Xuân Tóc Đỏ của Vũ Trọng Phụng với cây vợt ten nít Xuân Tóc Đỏ.

Vào đến trong Nam, tất cả cái nếp sống văn hóa ấy như biến mất.

Về cơ sở, chỉ trong một thời gian không lâu, Người Pháp đã dựng nên các dinh thự nhà cửa, trường học, các viện bảo tàng, nhà hát lớn, các nhà thương, các bệnh xá đều là di sản thời Pháp để lại.

image098
Thảo cầm viên ở Sài Gòn. Nguồn: Delcamp.net

Đặc biệt sở thú Sài Gòn được xây dựng vào năm 1863, trên một mảnh đất rộng 20 mẫu tây. Ngày nay nhìn lại, tôi không nghĩ rằng có một người Việt Nam nào đủ thông minh để nghĩ tới một điều như vậy. Nghĩa là một năm sau khi ký hòa ước!

Cũng vậy, việc khám phá ra Đà Lạt và từ đó nghĩ ra một khu du lịch nghỉ mát cách Sài gon 300 km ở độ cao 1500 mét cũng kỳ diệu lắm.

Các hệ thống đường ống cống như ở Saigon do người Pháp xây dựng nay đã quá hạn, gây ra ngập lụt mỗi khi có mưa lớn đành bất lực tìm những giải pháp vá víu như trang bị máy bơm nước!

Trong khi các đường cống rãnh ở các khu phố cổ Hà Nội như Hàng Ngang, Hàng Đào, Hàng Than đều là đường cống nổi dọc theo lề đường rất mất vệ sinh và hôi thối.

Saigon so với Hà Nội thật khác xa về mức sống và nếp sống văn minh. Đường phố Sai Gòn phân lô chỉnh trang của một nếp sống đô thị, có vỉa hè rộng cho người đi bộ, có đèn hiệu tại các ngã tư.

Xe cộ đi lại tấp nập và hằng ngày có nhiều chuyến Tầu thủy chạy khắp các tỉnh thành phía Nam. Chợ Lớn được coi là ngã tư thương mại trong việc buôn bán lúa gạo, nằm trong tay người Tầu.

Điều đó cho thấy người Pháp quan tâm nhiều đến sự chỉnh trang thành phố Sài Gòn.

Đó cũng là điều tôi ghi nhận được khi lần đầu tiên đến bến cảng Saigon trên một chiếc Tầu chở hàng – tầu tên là Phong Châu – từ Đà Nẵng vào Saigon. Và cũng là dịp tôi nhận ra Saigon hơn hẳn Hà Nội. Nhộn nhịp hơn, năng động hơn. Tiếng còi xe hơi, tiêng nổ phành phạch của xe xích lô ba bánh, tiếng rao hàng, tiếng ca vọng cổ từ một radio của một ai đó.

Kể từ giây phút này, tôi biết tôi sẽ chọn nơi này làm quê hương.

Còn một điều phải nói ra đây ngay sợ quên mất. Dĩ nhiên, chẳng ai để ý tới, chẳng ai hay.

Đó là người Pháp qua những chiến dịch chủng ngừa các bệnh như dịch tả, bệnh thời khí đã cứu sống không biết bao nhiêu sinh mạng. Sơ sinh vẫn tăng đều, nhưng số trẻ tử vong giảm đi nhiều.

Xin trích dẫn đoạn sau đây với một niềm vui về một thành quả quá khứ đã cứu sống hàng vạn đứa trẻ sơ sinh,

image100
Nguồn: vi.wikipedia.org/Diane Selwyn

“The production of vaccines and serums started with foundation, in 1891 of the Pasteur Institute in Saigon by Dr. Albert Calmette, and another in Nhatrang in 1895 by Dr. Alexandre Yersin 1863-1943. The latter, a brilliant, a typical scientist, had isolated the Plague bacillus in Hong Kong the previous year and discovered the vaccin with which to fight it. The spread of vaccination and the establishment of a fundamental medical ỉnfrastructure contributed to stopping pandemics and permitted the undertaking of the struggle against malaria. This infrastructure comprised the Ha noi School of medecine, opened in 1902, about ten thousand free hospital beds and several hundred rural clinics, in place in 1930, 367 physicians working in 1939, with 151 doctors of medecine, and 216 Indochinese physicians, along with 3,623 male nurses and midwives and 760 rural midwives, with 9.100 childbirths to their credit.”(13)

“Việc sản xuất ra thuốc chích ngừa và huyết thanh khởi đầu với việc bác sĩ Calmette thành lập Viện Pasteur vào năm 1891 tại Sài gòn, và bác sĩ Yersin, 1863-1943, thành lập một viện Pasteur nữa ở ngoài Nha Trang vào năm 1895. Bác sĩ Yersin là một nhà khoa học điển hình, ông đã có thể cách ly vi khuẩn bacillus ở Hồng Kồng vào năm ngoái và ông cũng là người khám phá ra được thuốc chủng ngừa. Sự phân phối rộng rãi khắp nơi thuốc chủng ngừa và sự xây dựng được hệ thống hạ tầng cơ sở đã góp phần làm ngưng hẳn các dịch bệnh và đồng thời cũng giúp cho việc phòng chống bệnh sốt rét. Cơ cấu hạ tầng này gồm trường Đại Học Y Khoa Hà Nội, thành lập năm 1902 với 10 ngàn giường bệnh miễn phí và hàng ngàn bệnh xá ở nông thôn vào năm 1930. Đã có 367 bác sĩ hành nghề vào năm 1939, với 151 bác sĩ y khoa, và 216 y sĩ ngườiĐông Dương, cùng với 3623 nam y tá và bà đỡ và 760 cô mụ ở nông thôn đã giúp 9100 trẻ sơ sinh chào đời.”

Xin nhắc lại ở đây vài con số. Cho đến năm 1929 thì các đồn điền cao su đã thu dụng 81,188 thợ và 86, 624 công nhân làm trong các hãng kỹ nghệ hay cơ sở thương mại. Cộng chung số thợ là 221. 052 người.

Nhưng cho đến năm 1940-1941, số thợ mỏ đã gia tăng lên đáng kể là 88,724 người. Số thợ làm trong ngành tiểu công nghệ là 219.234 và cộng chung lại là 307, 958.(14)

Tuy nhiên, lợi nhuận đem về cho người Pháp nhiều nhất vẫn chính là cao su.

Trong một bài viết mới đây, số đặc biệt “L’Indochine”, trên tập san Géo Histoire (15) có nói đến việc khai thác cao su như là phong trào đổ xô đi tìm vàng vậy. Sở dĩ như vậy, vì kỹ nghệ ô tô đang phát triển rộ lên, v.v. Hãng Michelin cũng như các hãng Goodyear, Dunlop đổ xô đi tìm cao su trên thế giới.

Bác sĩ Yersin – một ân nhân của Việt Nam – cũng là người đầu tiên đem cây cao su vào Việt Nam năm 1897. Người ta gọi đùa cây cao su là cây gỗ biết khó c (Bois qui pleure). Cho đến năm 1913, Việt Nam xuất cảng sang Pháp 9627 tấn cao su với khoảng 80.000 công nhân làm việc.

Kỹ nghệ cây cao su, theo Pierre Brocheux là thành công lớn nhất của chế độ thuộc địa ở Việt Nam(16).

image102
Ích lợi kinh tế cho Pháp qua việc khai thác cao su ở Đông Dương. Nguồn: http://belleindochine.free.fr/

“Rubber trees played the biggest role in the expansion of the Indochinese plantation economy and stood out as ít greatest success.”

“Cây cao su giữ vai trò quan trọng nhất trong sự khai thác đồn điền về mặt kinh tế và được coi là sự thành công nổi bật nhất.”

Đến đây thì chúng ta cần có sự công bằng với chế độ thuộc địa Pháp ở Việt Nam. Tác giả Pierre Brocheux (17 và Daniel Hémery, trong “Indochina, An Ambiguous Colonization, 1858-1954” đã dành khoảng 60 trang để nói về việc đầu tư vốn của Pháp vào Việt Nam. Mà những số tiền đầu tư lớn lao nhất là xây cầu Paul Doumer (Long Biên)- cầu dài 1680 thước và khánh thành năm 1902 – gọi là Doumer Program – dự án dự định từ 1891 đến 1898 theo dự án kiểu mẫu Frecinet năm 1878-86 ở bên Pháp. Dự án với việc xây dựng đường sắt Bắc Nam – với nhiều cây cầu – đường sắt dài 1700 cây số.

image104
Bản vẽ đồ án cầu Long Biên, do nhà thiết kế và hãng thầu thi công Daydé & Pillé đóng dâu và ký tên ngày 6 novembre 1897, hiện lưu tại Trung tâm LTQG I. Nguồn: Flickr.com

Đây là một công trình xây dựng táo bạo với kế hoạch 15 năm vào tháng năm, 1902. (Tốn khoảng 200.000 francs/km). Đường sắt này sẽ được nối sang Vân Nam trong tương lai. Khâm sứ Maurice đã hãnh diện tuyên bố vào năm 1921 như sau:

“Our Indochina will soon be the first among the industrial countries of Asia.” (18)

“Xứ Đông Dương của chúng ta chẳng bao lâu nữa sẽ trở thành một trong những xứ đầu tiên về kỹ nghệ của Á Châu.”

Và để kết luận một cách công bằng cho thấy công của người Pháp giúp Đông Dương phát triển quả là không nhỏ:

“The considerable figures give us a partial indication of the value of the net transfers of capital from Indochina to France, but they demonstrate the truth of the following judgment on the part of the Dépêche coloniale in 1934: Indochina ís an essential part of France’s equilibrium.” (19)

“Những con số đáng kể ở trên giúp cho chúng ta một phần chỉ dấu về giá trị chuyển giao tư bản thực từ Đông Dương về Pháp, Nhưng chúng còn cho thấy sự thật đã được tờ Dépêche coloniale viết vào năm 1934: Đông Dương là phần cốt yếu cho sự quân bình ngân sách của Pháp.”

Vài dòng kết luận

Tuy nhiên, tôi vẫn nghĩ rằng sự đóng góp bất ngờ nhất và ra ngoài cả dự tính của người Pháp cũng như người Việt là việc sáng chế ra chữ Quốc Ngữ do một số linh mục dòng Tên gốc Bồ Đào Nha nghĩ ra.

Cho đến nay, vẫn có ít ỏi những kẻ cố chấp cho rằng đó là công việc của mấy cố đạo mà mà mục đích là để truyền giáo!

Nhưng thực sự không phải là một công việc dễ dàng! Nước Nhật văn minh và tiến bộ như thế mà vẫn cam chịu duy trị mẫu tự kiểu chữ Hán!

Không lạ gì, người Pháp ra đi khỏi Việt Nam về lại mẫu quốc vẫn để lại dư vị nơi họ một hoài niệm khó quên. Những bữa ăn hợp khẩu vị, linh đình chỉ dành cho bậc vua chúa (repas pantagruéliques) có rượu ngon có nhiều bồi bếp ăn mặc lịch sự phục vụ, có những cô gái bản xứ xinh đẹp sẵn sàng hiến dâng, những thứ mà ở ngay tại xứ sở họ cũng chưa chắc được hưởng.

Phải chăng đó là những phần thưởng mà họ đinh ninh rằng họ xứng đáng được hưởng?

Tôi từng được coi hình một người dân bản địa nhỏ bé, gầy còm so với vóc dáng kềnh càng của một người Tây to béo. Người dân bản địa tội nghiệp đả phải cõng thằng Tây to béo qua một con suối.

Cảnh ấy quả là quá chướng – không thể chấp nhận được – sẽ mở đường cho các cuộc nổi dậy sau này.

Bên cạnh đó, đa số người bản xứ thấp hèn, nghèo túng chờ một cơ hội để lật ngược lại thế cờ! Ta gọi đó là cuộc cách mạng..

Tôi là người có cơ hội sống một thời gian ngắn trên 10 năm dưới chế độ thuộc địa của Pháp và 4 năm dưới chế độ cộng sản Hà Nội sau 1975.

Sự chọn lựa của tôi và nhiều người khác, hãy khoan nói đến lý tưởng này nọ, mà trước hết là một chọn lựa sống còn. Không có chọn lựa nào khác – chọn lựa của một triệu người di cư vào miền Nam cùng với chính phủ Quốc Gia trong đó có quân đội Pháp. Quân đội Quốc Gia đã cùng với quân đội Pháp đã chiến đấu chống lại quân cộng sản do Hồ Chí Minh lãnh đạo.

Thời thực dân Pháp đã qua rồi. Vĩnh viễn không còn nữa và không có lý do chính đáng nào đẻ than vãn 100 năm đô hộ giặc Tây.

Cho nên thật mâu thuẫn nếu chúng ta vẫn tiếp tục ca cẩm 100 năm đô hộ giặc Tây.

Người Quốc gia phải hợp tác với Tây là chuyện nhất thời vì thấy rằng còn có một thứ kẻ thù nguy hiểm, độc ác, tàn bạo, gian manh gấp bội phần chế độ thực dân Pháp.

Có một số điều chắc chắn mà tôi thấy chỉ xẩy trong chế độ cộng sản mà thôi:

image106
Báo chí Việt Nam thời thuộc địa. Nguồn: OntheNet

Đốt toàn bộ sách vở miền Nam mà ngay thời Pháp thuộc cũng không hề làm.

Về mặt kiểm duyệt, báo chí của Việt Nam thời thuộc địa hơn hẳn 600 báo đài của đảng và nhà nước CSVN hiện nay.

Tịch thu, cướp bóc nhà cửa, đồ đạc, tiền của bằng chính sách đổi tiền, bằng đi kinh tế mới mà thực dân Pháp cũng không hề bao giờ dám làm.

Bắt đi tù tất cả quân dân cán chính miền Nam từ một vài năm đến 5-10 năm trong đó có nhiều người đã phải chết trong tù.

Xua đuổi người dân miền Nam ra biển để thu vàng bạc mà nhiều người kém may mắn đã bỏ mình ngoài biển khơi. Hàng triệu người đã liều mạng ra đi như thế. Cái cảnh tượng hãi hùng ấy có khác gì những người dân Syria vô tội đã và đang liều mình trốn khỏi nước họ hiện nay?

Đất nước hiện nay vẫn là một đất nước độc tài đảng trị do 3 triệu rưởi đảng viên bắt người dân cúi đầu như một bọn nô lệ.

Người Pháp sang cai trị nước ta mục đích chính là khai thác tài nguyên như Cao su, trà cà phê, than đá và quặng mỏ.

Nhưng người cộng sản độc hại và bất nhân hơn, nó nhằm triệt hạ con người. Nó cướp cả xác lẫn hồn, kiểm soát toàn diện con người- cả đến vợ con, bạn bè và tương lai một người.

Từ nay, thay vì ta thán 100 năm nô lệ giặc Tây, phải đổi ra gần 100 năm nô lệ cộng sản!

Để kết luận bài này thì tôi có thể tuyên bố là có thể chẳng có lý do gì để thích người Pháp cả, nhưng tôi có nhiều lý do để phải chọn người Pháp thay vì người cộng sản. Và tôi đã không ngần ngại chọn người Pháp làm bạn.

© 2016 DCVOnline

trích đăng lại bài từ DCVOnline.net



Nguồn: Bài và chú thích của tác giả. DCVOnline hiệu đính và minh họa.

(8) Steve Déry, Ibid., trang 79.

(9) Đại Nam Thực Lục, Tập một, trang 531

(10) Trương Bá Cần, “Nguyễn Trường Tộ, Con người và di thảo”, trang 99 nxb tp HCM

(11) Trương Bá Cần Ibid., “Tất cả bỏ xó rồi vứt đi hết”. Trang 469

(12) Pu-Yi, “J’estais Empereur de Chine”, trang 25, nxb Flammarion

(13) Pierre Brocheux & Daniel Hémery, “Indochina, An Ambiguous Colonization, 1858-1954”, NXB University of California Press, trang 257-258. Ly Lan Dill-Klein (Translator), Eric T. Jennings (Contributor), Nora Taylor (Contributor), Noémi Tousignant (Contributor), Christopher Goscha (Editor).

(14) Pierre Brocheux & Daniel Hémery, Ibid., trang 207

(15) Géo Histoire, “L’Indochine, Un siecle den presencece Francaise au Viet Nam, Au Lao et au Cambodge”, trang 63

(16) Pierre Brocheux & Daniel Hémery, Ibid., trang, 126

(17) Pierre Brocheux từng dạy học ở Sài Gòn những năm 1960-1968. Vì thế không lấy gì làm lạ tác giả hiểu biết và thấm nhuần văn hóa
Việt. Ông cũng còn là tác giả cuốn “Histoire du Viet Nam contemporain, la nationn resiliente”, Editions Fayard

(18) Pierre Brocheux & Daniel Hémery, Ibid., trang 135

(19) Pierre Brocheux & Daniel Hémery, Ibid., trang 189


08 Tháng Tư 2016(Xem: 5543)
19 Tháng Giêng 2016(Xem: 4623)
14 Tháng Giêng 2016(Xem: 2456)