Diễn đàn Nguyễn Văn Lục (Bài 5+6)

27 Tháng Ba 20167:08 CH(Xem: 3261)

"BÁO VĂN HÓA-CALIFORNIA" THỨ  HAI  28  MAR  2016

Về một thứ chủ nghĩa dân tộc sô vanh (2a)

Posted on February 24, 2016 by editor 


Nguồn DCVOnline.net

Nguyễn Văn Lục

image085
Mới đây, trên DCVOnline.net có cho đăng một bài báo của nhà sử học Lê Minh Khải (bản dịch của Trà Mi), ngày 13/02/2016, nhan đề Hà Văn Thùy và tộc Việt cổ (BBC điên rồi chăng?)


Chauvinisme trong ngành sử học

(Tiếp theo phần 
1a1b)


image087
Nguồn: sortefane.wordpress.com

Nhà sử học Lê Minh Khải ngạc nhiên vì bài tham luận của ông Hà Văn Thùy có thể tóm gọn tất cả mọi người và tất cả mọi thứ ở Châu Á đều có nguồn gốc từ Việt Nam với người Việt Nam.

Nếu tôi được phép có thêm một nhận xét – qua hình chụp ông Hà Văn Thùy – thì ông quả thực là một mẫu hình tiêu biểu của một thứ văn hóa vật thể còn sót lại.

Sau đây xin trích dẫn nguyên văn câu của ông Hà Văn Thùy:

“Tất cả văn hóa vật thể và phi vật thể trên đất Trung Hoa trước 2600 năm TCN đều là sản phẩm của tộc Việt.”

Để đi tới một kết luận táo bạo như trên, người ta phải vận dụng đến nhiều ngành học đủ loại và cần viết cả một vài pho sách, vị tất đã viết xong.

Sự khẳng định chắc nịch như trên của ông Hà Văn Thùy đối với cá nhân tôi không lấy gì làm lạ. Nó xuất phát từ một lối viết ‘lên gân’, lối học từ chương, nhồi sọ, giáo điều, khẩu lệnh của đảng và não trạng đã bị bào mòn.

Lối viết như thế không thiếu nơi các bài tham luận, các tài liệu học tập, ngay trong sách giáo khoa. Trước bàn làm việc của tôi, có một bộ Giáo trình Lịch sử gồm 6 tập cũng viết theo một văn phong chắc nịch mang tính áp đặt như thế!

Tôi thú thật là không có đủ kiên nhẫn để đọc tập sách đó.

Nhưng đối với một người ngoại quốc như tác giả Lê Minh Khải (Liam C. Kelley) – dù ông ăn phở, chấm nước mắm đã quá quen – cũng không tránh khỏi một cú ‘xốc văn hóa’.

Hy vọng trong tương lai, ông sẽ khui trần những kẻ viết sử cả trong nước lẫn hải ngoại viết kiểu lên gân và áp đặt.

++++++++++++++++++++++ (tòa soạn lược bỏ một số đoạn ngắn).

Hiện tượng Hà Văn Thùy là tiêu biểu cao cho một khuynh hướng viết sử mà tôi gọi là “chủ nghĩa dân tộc sô vanh”, muốn áp đặt – muốn kéo dài quá khứ lịch sử dân tộc Việt không phải chỉ hơn 2000 năm – mà tròn số là 4000 năm.

Đối với tôi, cái hãnh tiến lịch sử phải nhường bước trước sự thật lịch sử. Nếu tổ tiên đã có thời ăn lông ở lỗ – cởi truồng đóng khố đi nữa – thì cũng vẫn là tổ tiên. Mà nhiều phần chắc là như thế!

Tho native women in Quang Yen. Nguồn: P. Dieulefils - 833." height="338" border="0" width="531">
image088
Phụ nữ Thổ ở Cao Bằng- Quảng Yên (đàu thế kỷ 20). Nguồn: P. Dieulefils – 833.

 
Nhưng những kẻ theo chủ nghĩa dân tộc sô vanh, cực đoan thì lại cố tình khoác một hào quang lên quá khứ người Việt cổ. Đó là một quá khứ dưới mắt họ phải trọn gói – hoàn tất – đã có ngôn ngữ chính thức, có một nền văn minh, đã trải qua những cuộc tranh đấu kháng chiến, chống phong kiến dành độc lập, qua nhiều thử thách và trải dài trong suốt 4000 năm.

Niềm tự hào không đúng chỗ, đối với tôi, trước sau cũng chỉ là sự lừa bịp. Hoặc một chính sách ngu dân không cần thiết!

Những khẳng định như thế dĩ nhiên đã thỏa mãn niềm tự hào dân tộc của một số đông người, vì đã đòi lại những cái mình không có hay chưa hề có từ tay người Tầu. Chẳng hạn phủ nhận không có cái gọi là từ Hán Việt, Hán mượn Việt chứ không phải Việt mượn Hán.

Nói theo một cách trình bày khác trong bài “Bách Việt và sự vắng mặt của lịch sử hậu thuộc địa ở Việt Nam” của Lê Minh Khải, cũng do Trà Mi dịch(3) thì người dân thuộc địa thường viết ngược lại những gì người thuộc địa nói về họ.

Đây là một nhận định trái chiều mà tôi lần đầu ghi nhận được.

Thông thường, hội chứng hậu thuộc địa thường được hiểu là sự ‘bắt chước’, theo đuôi nếp sống thời thuộc địa như trường hợp người Pháp sang Việt Nam. Khi chấm dứt chế độ thuộc địa “nhiều người Việt gốc quốc tịch Pháp còn khinh văn hóa Việt, lối sống Việt vì họ coi là quê mùa, hủ lậu”(4) vẫn sính nói tiếng Tây, hãnh tiến xuất thân trường Tây, nếp sống tây.

Ở đây, hội chứng hậu thuộc địa lại mang tính chất đối kháng – phủ nhận.

image090
Người hút thuốc phiện. 1908 miền Bắc Việt Nam, Nguồn: OntheNet

Chẳng hạn, người Tầu coi Bách Việt là man di mọi rợ thì phải nói ngược lại ta văn minh, Tầu mới mọi rợ.

Lập luận kiểu đó nên bất chấp các sự kiện, bất chấp đúng sai vượt lêm trên cái lương tri của một con người!

Nhưng thật ra trong giới sử học không phải chỉ có một Hà văn Thùy mà có nhiều Hà Văn Thùy.

Thời 1955–1960, đã có những vị có tiếng tăm như Nguyễn Khắc Viện, Trần Huy Liệu, Văn Tân, Trần Quốc Vượng và nhiều người cầm bút khác cũng vướng mắc phải chứng vĩ cuồng trong sử học.

Trong một bài viết trước đây, chúng tôi cũng có đề cập đến trường hợp tác giả Ngô Nhân Dụng với cuốn Đứng vững ngàn nămnhư một cách mở đầu cho bài viết này và sắp tới.

Bài học Hà Văn Thùy để dành cho người cộng sản trong nước. Bài học Ngô Nhân Dụng thì dành cho người Việt hải ngoại.

Nguyên nhân cá nhân

Trước hết, đi tìm hiểu tại sao lại có lối biên khảo ‘tưởng tượng học thuật lịch sử’ (historiographic fantasy) thì thấy rằng nó có thể có nhiều lý do: Khoe chữ cũng có, háo danh, che đậy cái dốt, lừa phỉnh, tự sướng cũng có.

Nhưng đặc biệt muốn khác người, độc đáo, và hơn người.

Trước hết, xin đưa ra một nhận xét nghiêm chỉnh của nhà sử học K. W. Taylor viết năm 2013:

“Vietnamese scholars have endeavoured to project a sense of national identity back into the past as far as possible. In the modern period, it became common for Vietnamese to affirm a national history going back for thousands years to when archaeologists date artifacts that they have assembled and categorised under the name of Phung Nguyen Culture. Phung Nguyen is defined as a late stone and early bronze culture that represents a level of archaeological uniformity in the Red River Plain that did not previously exist. Many Vietnamese scholars are inclined to draw a line of continuity in cultural, and even ethno–linguistic, development from Phung Nguyen to modern Viet Nam. This inclination, however, makes an exuberant use of evidence.”(5)

image091
Minh họa đồ chạm khắc Thời kỳ đồ đá muộn. Hai đồ vật trên cùng và góc trên bên phải là đồ ném lao. Góc dưới bên phải là tượng thần Venus nổi tiếng của Willendorf. Nguồn: http://www.bachkhoatrithuc.vn/

“Học giả Việt Nam đã cố gắng phóng chiếu một ý thức căn cước dân tộc trở về quá khứ, càng xa càng tốt. Trong thời hiện đại, người Việt khẳng định một lịch sử quốc gia hàng ngàn năm về trước, khi giới khảo cổ xác định thời đại của cổ vật mà họ đã thu tập và phân loại theo Văn hóa Phùng Nguyên đã trở thành chuyện bình thường. Phùng Nguyên được định nghĩa là thời kỳ giữa đồ đá muộn và văn hóa sơ kỳ thời đại đồ đồng, tượng trưng cho một độ khảo cổ học đồng nhất không hiện hữu ở đồng bằng sông Hồng trước đó. Nhiều học giả Việt có khuynh hướng vẽ một đường liên tục về sự phát triển văn hóa, và ngay cả về dân tộc-ngôn ngữ, từ thời Phùng Nguyên đến Việt Nam hiện đại. Tuy nhiên, khuynh hướng này dùng tùm lum chứng cứ.”

Sự lạc quan coi một số chứng liệu khảo cổ học như một bằng chứng hiển nhiên này được mô tả một cách chi tiết, triệt để, khai triển tùy tiện không cần bàn cãi nữa, ngay cả ở các sách giáo trình lịch sử dùng cho sinh viên. Chẳng hạn bộ sách Giáo Trình Lịch sử Việt nam, gồm 7 tập do nhiều người phụ trách biên tập như Đàm Thị Uyên, Nguyễn Cảnh Minh, Trần Đức Cường Đào Tố Uyên, Võ Xuân Đàn, Nguyễn Xuân Minh, Vũ Thị Hòa.(6)

Tôi nhìn ra những tai hại tiềm ẩn trong những khẳng định lịch sử này mà e ngại! Xin trích dẫn hai tài liệu mới đây thôi cho thấy sử học miền Bắc chỉ là sự dối trá, che đậy và lừa bịp.

Một là bài viết, “Sao lại làm ngơ cuộc chiến 1279 trong sách Giáo Khoa?” Tác giả Tuấn Khanh, viết ngày 18 tháng hai 2016 ở Sài Gòn.

Hai là bài “Ai kiểm soát các sử gia Việt Nam viết sách?” Trao đổi với BBC nhân một sử gia Việt Nam, gs Vũ Dương Ninh, mới tiết lộ với truyền thông nước này rằng các nhà viết sách giáo khoa ở Việt Nam về chiến tranh biên giới Việt–Trung (1979) bị buộc phải giảm từ 4 trang xuống 11 dòng, vì lý do ‘quan hệ tế nhị’ vào đầu thập niên 2000, Ông Phạm Viết Đào nói, “Tôi nghĩ rằng giới trí thức, báo chí Việt Nam, nói chung họ yếm thế rất nhiều. Bây giờ trên họ bảo thế nào, thì họ cứ thế họ viết.”

Tôi thật sự không biết khi đọc xong hai trích đoạn trên, người ta còn dám xác quyết sử ký miền Bắc có “bước đi bảy dặm” trước 1954 và sau 1975 không? Không biết phải nhìn nhận định “bảy dặm” bằng con mắt gì cho đúng?

Xin trích dẫn “Lời Nhà Xuất bản”  (Tổ Hợp Xuất Bản Miền Đông) trong cuốn Nhìn lại sử Việt, Từ tiền sử đến Tự chủ,  viết về Tập San Sử Địa miền Nam như sau:
image093
Tập san Sử Địa SỐ ĐẶC BIỆT XUÂN MẬU THÂN – Đặc khảo về QUANG TRUNG (Số 9 & 10 – Tháng 1 đến 6-1968)

“Cũng do không bị một ý thứ hệ đặt vòng kim cô lên đầu nên ngay trong một lãnh vực tưởng độc chiếm của miền Bắc là nhà Tây Sơn, các sử gia miền Nam cũng tỏ ra khách quan cân nhắc hơn sau này ảnh hưởng ngược lại vào sử học Mác Xít.”(7)

Thắc mắc ở đây là không biết quý vị đã đọc kỹ Tập San Sử Địa hay chưa?

Xin đưa ra lời thú nhận của Nguyễn Nhã, người chủ trương Tập san sử địa trả lời phỏng vấn viết:

“Lê Quang Chánh, thành ủy viên, phó chủ tịch Ủy Ban Nhân đân thành Phố tuyên bố ngày 10–10– 1982: Chúng ta còn xử dụng khả năng hoạt động công khai hợp pháp, đưa nội dung tiến bộ và cách mạng vào các tờ báo Tia Sáng, Tiêng Nói dân tộc, Đất tổ và các tạp chí đối diện, TSSĐ.”(8)

Tôi không dám chụp bất cứ thứ mũ gì cho ai cả, vì một lẽ đơn giản là tôi không có tiền triệu đô-la nộp phạt vì tội vu khống!

Còn nói về ba số đặc biệt về tập san Sử địa. Tôi không dám chê trách gì các tác giả đã cộng tác viết bài. Do hoàn cảnh lúc bấy giờ còn khan hiếm tài liêu, chưa có điều kiện tiếp cận với tài liệu gốc của Trung Hoa – nhiều vị không rành tiếng Hán.

Tài liệu tiêng Pháp thì đã có bà Đặng Phương Nghi có thiện chí dịch một số các Thư của Thừa sai Ba Lê nhưng lại không dám dùng, vì các thư đó thường phê phán nặng nề quân Tây Sơn là ăn cướp.

Cái lỗi lầm đáng nói là sau này ở hải ngoại vẫn còn những cuốn sử ký viết theo lối mòn quá khứ.

Nhiều con số đôi bên được thổi phồng thành những con số ảo khó tin được. Số quân Tầu chết chất thành núi mà đến những người như cụ Nguyễn Đăng Thục còn mắc phải.

Tôi cũng không thể nào đồng ý với Lời Nhà Xuất bản giới thiệu một cách hồ đồ trong cuốn sách của tác giả Lê Mạnh Hùng, Nhìn lại sử Việt, Từ tiền sử đến Tự chủ như sau:

“Từ đó (1920), sử học Việt Nam đã có những bước đi bảy dặm, ở cả hai miền (Nam Bắc thời gian 1954–1975 và sau 1975 ở trong và ngoài nước)”(9).

Cũng ngay sau đó, tác giả Lê Mạnh Hùng ghi nhận như một lời cảm tạ nguồn sách của giáo sư Keith Taylor (The Birth of Viet Nam) đã giúp ông hoàn thành cuốn sách.

Cuốn sách mà 30 năm sau, chính Keith Taylor thú nhận những nhận định của ông cần phải được nhìn lại lại trong cuốn A History of the Vietnamese.

Một thiếu sót của tác giả Lê Mạnh Hùng là không cập nhập tài liệu, giống y hệt trường hợp Ngô Nhân Dụng, mà chúng tôi đã có dịp đề cập đến trong phần 1b.

Tôi có một vài nghi ngờ đặt ra với tác giả Nhìn lại sử Việt. Đó là ông có thông thạo chữ Hán và các tài liêu sưu tập được có đọc thẳng bằng chữ Hán hay không. Chúng tôi sẽ đề cập vấn đề này trong một lần khác.

Vấn đề sử Việt thời Tiền sử, xin dành phần chuyên môn này cho giáo sư Lê Minh Khải – Ông sẽ là người có đủ thẩm quyền tinh thần và tính chính danh để nhận định về cuốn I của tác giả Lê Mạnh Hùng.

Chúng ta chỉ việc chờ xem trong một ngày không xa. Chúng tôi hiện cũng chưa có cuốn 4 và 5 nên cũng đành chờ thôi.

Từ chủ nghĩa dân tộc đến chủ nghĩa Sô Vanh (Chauvininisme)

Lý do thứ hai; đây là lý do chính làm phát sinh ra lối “tưởng tượng học thuật lịch sử”. Đó là tự ái chủ nghĩa dân tộc sô vanh, độc đoán, cái tâm lý hậu thuộc địa còn rớt lại. Và đây cũng là chủ đề của bài viết này.

Tình yêu nước, yêu quê hương xứ sở, yêu tiếng nói, yêu con người, yêu mảnh đất, yêu thiên nhiên, v.v. là những tình cảm tự nhiên, đáng quý. Nhưng khi nó dần dần trở thành một hệ tư tưởng, một hình thức văn hóa, một phong trào thì tự nó đã có dấu hiệu báo động về một nguy cơ.

Đi thêm một bước nữa, nó được kết tụ thành một sức mạnh, một ý thức hệ và trở thành một chủ nghĩa dân tộc, một chiêu bài, thì thật đáng lo ngại.

Chủ nghĩa dân tộc trở thành tiếng nói dễ kích động, và khi có điều kiện, trở thành sức mạnh của đám đông, của quần chúng, có thể vận dụng đưa đến những hậu quả tàn khốc như các cuộc tàn sát, hoặc chiến tranh.

Nhân danh thứ chủ nghĩa dân tộc sô vanh, hàng triệu người Việt Nam vô tội đã chết oan uổng mà trước khi chết đã không biết tại sao mình đã chết!


Nhưng ai cũng hiểu rằng không phải chỉ có một thứ chủ nghĩa dân tộc, mà có nhiều dạng thức khác nhau.

Có thứ chủ nghĩa dân tộc xét theo chủ đích: có thứ tích cực như chủ nghĩa yêu nước mà bản chất là tinh thần tự vệ cả về mặt quân sự, chủ quyền đất nước lẫn văn hóa. Tiêu biểu được thể hiện trong các bộ sách sử của ta, như bộ Đại Việt Sử ký và Đại Việt Sử ký Toàn thư. Về loại này, ta có thể gọi là nó tiêu biểu cho sử quan của mỗi thời kỳ hay mỗi triều đại.

Có thứ chủ nghĩa dân tộc bị lợi dụng, nhân danh đảng phái như đảng Phát xít Đức và nhất là trường hợp đảng cộng sản, như chủ nghĩa Trosky, cộng sản đệ tam mà bản chất là thu tóm mọi quyền lực vào tay môt thiểu số người.

Bài viết này xin giới hạn vào hai phạm trù đầu tiên mà thôi.

Có thứ chủ nghĩa dân tộc cực đoan bài ngoại. Chính sách bài Do Thái, bài người Tầu, bài người Nhật.

Có thứ chủ nghĩa dân tộc dựa trên sự kỳ thị tôn giáo, Hồi giáo, Thiên chúa giáo như phục quốc Thiên Chúa giáo, Hồi giáo.(10)

 
1. Giai đoạn viết sử với tinh thần chủ nghĩa dân tộc giáo điều của các bộ sử

Người Việt thường tự hào nói tới lịch sử dân tộc Việt với 4000 ngàn năm văn hiến! Điều đó có đúng không và lấy gì làm bằng chứng? Trong 4000 ngàn năm đó, bộ môn sử thật sự chỉ mới có mặt từ thế kỷ 13 (Lê Văn Hưu, Đại Việt Sử Ký, 1272, lấy nhà Triệu, Triệu Đà, 207 TCN-136 TCN, làm khởi điểm cho việc dựng nước Đại Việt). Sử sách Viêt chỉ được viết bằng chữ Hán. Cách viết sử lại thường vay mượn bộ môn sử ký của Tư Mã Thiên trước công nguyên!

Vì thế, con số 4000 năm là một con số thổi phồng, không kiểm chứng được. Chính cái tham vọng muốn kéo dài sao cho đủ 4000 năm lịch sử đã tạo ra nhiều huyền thoại sử. Chẳng hạn lịch sử 18 đời vua Hùng Vương kéo dài trên 2000 năm. Hay chuyện đẻ trăm trứng, v.v. với rất nhiều huyền thoại, hoang đường. Và chỉ cần làm một con tinh nhỏ cho thấy mỗi đời vua Hùng phải kéo dàì ngót 200 năm!

An-Nam Chí lược – Viện đại Học Huế

Cuốn sử được coi như rất xưa là cuốn An–Nam Chí Lược của Lê Tắc biên soạn năm 1335, thế kỷ 14.(11) Tuy nhiên, cuốn sách của Lê Tắc cũng là cuốn sách gây tranh cãi nhiều. Vì Lê Tắc lưu vong sang Tầu nên viết từ bối cảnh ấy.

Vì thế, khi Đại Học Huế có quyết định cho dịch và in lại cuốn này vào năm 1961, linh mục viện trưởng lúc bấy giờ là Cao Văn Luận – trong Lời nói đầu – đã không tiếc lời thóa mạ Lê Tắc. Ông cho Lê Tắc là một tên phản bội dân tộc, một tên quên mình là người Việt Nam, thường trình bày những đoạn văn giọng điệu kiêu ngạo, tự tôn của vua nhà Nguyên. Nhưng lại tự hạ mình khi trình bày các bản tấu chương dâng lên vua Tầu.

Điều đó khiến cho ai đọc cũng cảm thấy vô cùng uất ức và đau đớn.

Tuy nhiên, ngay sau đó, tự mâu thuẫn, linh mục Viện Trưởng lại nhìn nhận cuốn sách của Lê Tắc là cuốn sách xưa nhất và có nhiều sử liệu đáng quý nhất.

Cái sử liệu đáng quý mà Lm Cao Văn Luận không nói ra, chính là các chiếu biểu trao đổi giữa triều đình Trung Hoa và các vua chúa của ta.

Nếu đọc kỹ nội dung các văn kiện này thì quả thực có thể Việt Nam chưa hề bao giờ thu hồi được độc lập hay tự chủ chăng?

Vì lý do đó, Ủy ban phiên dịch sử liệu quyết định cho dịch, cho in, vì nó là đối tượng cho việc nghiên cứu sử liệu của ta. Huế ngày 22–04–1960. Viện trưởng Viện Đại Học Huế.

Ngày nay đọc lại cho thấy sự chê trách của Lm viện trưởng là không phải. Vì chính linh mục Viện trưởng mới là người chưa thoát khỏi não trạng chủ nghĩa dân tộc cực đoan, mang mặc cảm tự ái dân tộc.

Cuốn sách của Lê Tắc chú trọng vào phần ghi chép, dịch lại các chiếu biểu mà không quan tâm nhiều đến phần biên niên sử.

Cái quan trọng nhất của sử học là biết tôn trọng sự thật. Điều mà Lê Tắc đã làm được mà nhiêu sử gia sau này, do nệ cổ, đã không làm được.

Cụ Trần Trọng Kim cũng có cùng nhận xét khi viết:

“Sử của mình đã không hay, mà người mình lại không mấy người biết sử. Là vì cái cách học tập của mình làm cho người mình không có thể biết được sử nước mình. Bất kỳ lớn nhỏ, hễ ai cắp quyển sách đi học thì chỉ học chữ Tầu, chứ không học sử nước nhà.”(12)

Đại Việt sử lược (khuyết danh, thế kỷ 14)

Cuốn sách sử khuyết danh (1377 – 1388) này đã được giáo sư Nguyễn Gia Tường, nguyên giáo sư trường Sư Phạm dịch năm 1972. Sách dày 112 trang và phần lớn liệt kê niên hiệu các triều đại các vua chúa. Về nội dung nghèo nàn, không đóng góp đáng kể cho dòng sử Việt.

Đại Việt Sử ký của Lê Văn Hưu, sử quan đời Trần và Đại Việt sử ký toàn thư của Ngô Sĩ Liên, Sử quan đời Lê

Lịch sử đời Lý–Trần đánh dấu một trang lịch sử mới trong dòng Sử Việt, giai đoạn tự chủ. Điều ấy được thể hiện trong sử quan của hai nhà viết sử: Lê Văn Hưu và Ngô Sĩ Liên.

Theo Yu Insun, giáo sư ban Sử Á Châu tại Đại Học Quốc Gia Hán Thành (Seoul National University)(13) người ta cần tìm hiểu sử quan của hai nhà viết sử trên để nhận ra thái độ của họ đối với sử học như thế nào?
Sử quan của Lê Văn Hưu


Theo Insun, sử gia Lê Văn Hưu nhận lệnh của vua Trần Thánh Tông, dựa theo phương pháp sử của Tư Mã Quang. Cuốn sử của Lê Văn Hưu gồm 30 cuốn. Ông bắt đầu từ Triệu Đà và chấm dứt vào cuối đời nhà Lý, 1225. Sự không kể đến phần huyền thoại sử đời Hùng Vương cho thấy là một quyết định mới mẻ.

Bộ Toàn thư của Ngô Sĩ Liên tiếp theo sau thì lại dựa theo bộ sử ký của Tư Mã Thiên – một bộ sử biên niên – khởi từ đời Hồng Bàng, khoảng 3000 năm trước công nguyên kéo dài tới cuối nhà Lê, vào năm 1428. Ngô Sĩ Liên theo lệnh nhà vua thu tập tư liệu và dựa trên bộ sử ký của Lê Văn Hưu, đối chiếu với sử liệu Việt Nam và sử liệu Trung Quốc.

Nhưng khác với thái độ viết sử của Lê Văn Hưu, ông chính là người đưa phần sử đời Hùng Vương vào trong cuốn Đại Việt sử ký toàn thư.

Việc gia cố thêm giai đoạn Hùng Vương vào dòng sử Việt tạo thành một tiền lệ tranh cãi, biện minh cho đến hiện nay cũng chưa có một giải đáp nào thỏa đáng.

Tác giả Lê Mạnh Hùng cũng dành gần 100 trang sách loay hoay biện luận về vấn đề này mà cũng không ra khỏi cái vòng kim cô “18 đời Hùng Vương”.

Đến cuốn Việt sử Tiêu Án với Ngô Thời Sỹ cũng đã không thiếu những phản biện về giai đoạn 18 đời Hùng Vương.

Chỉ xin trích dẫn Ngô Thì Sĩ(14) làm chứng liệu [nhấn mạnh của người viết]:

Trong đoạn chép về Kinh Dương Vương, Ngô Thì Sĩ viết
image095
Việt sử Tiêu án. Bản điện tử.

“Xét nước Việt ta lập quốc, tuy ở sau dời vua Hy và Hiệt nuớc Tầu, mà văn tự chưa có, ký tá còn thiếu, về phần thế thứ niên kỷ, chính trị phong tục dáng nghi hay đáng tin đều không có gì đủ làm chứng cứ. Ông Chu Tử nói rằng: “Đọc sách không nên để sử quan dối được mình”; cho nên chữ Quách Công, Hạ Ngu trong sách Xuân Thu cung còn có sự nghi ngờ. Ông Mạnh Tử ở Thiên Vu Thành chỉ trích lấy hai ba đoạn mà thôi, nếu dẫn dùng lời nói mà không xét đến lẽ phải, tác giả dối ta, ta lại tin vào dó dể dối nguời sau, có nên không?

Sử cũ chép: Vua Lạc Long làm vua từ năm Nhâm Tuất, vậy nhà chép sử đã căn cứ vào đâu mà tính khởi đầu từ năm Giáp Tý cho đến năm Nhâm Tuất được? Sử ghi các đời vua Lạc Long, tại sao đến đời Hùng Vương lại chép sơ lược? Xích Quỷ là gì mà lấy làm tên kiến quốc? Một loại hoang đản như thế nên tước hết đi, là vì sử cũ sưu tìm truyện cổ, thêu dệt thành văn, cốt cho đủ số đời vua.

[…] Đến như việc Kinh Dương lấy con gái Động Đình, Lạc Long lấy nàng Âu Cơ, loài ở nước, loài ở cạn lấy nhau, thần với người ở lẫn, lời đó tựa hồ không hợp lẽ thường.”

Rồi trong “Lời thông luận” về Họ Hồng Bàng, Ngô Thì Sĩ viết,

“Đến như Kinh Dương tới An Dương Vương, hơn hai nghìn sáu trăm năm (2600) mấy triều đại, mấy thế, mấy niên, năm giáp Tý này thì lên, đến năm Giáp Tý sau thì không còn. Họ Hồng Bàng khởi từ năm Nhâm Tuất, đến hết năm Qúy Mão, Hùng Vương mất nước, An Dương nổi lên, đích xác thuộc thuộc về năm 57 đời vua Chu noãn. Lại lấy con toán mà kể xem từ khoảng đời Kinh, đời Hùng, 20 đời vua 2622 năm, nhiều ít trừ đi bù lại, mỗi vua được 120 tuổi. Người ta không phải là vàng đá, sao lại sống lâu được như thế? Điều ấy lại càng không không thể hiểu được. Sử và truyện khổ về nỗi văn hiến không đủ, lấy vua khở đầu là Kinh Dương, tất phải có vị vua nào là cuối, nhân tiện lấy số năm thừa, kể từ đồng thời với Đế Nghi đến năm nhà Tần đặt quân mà tính, mang số năm trở về trước cho vào đời Hùng Vương, trở về sau cho về đời An Duơng, cho đủ số hai kỷ.”

Tôi cũng có tìm đọc những tài liệu sử ấy mà khả năng thuyết phục về 4000 năm lịch sử thật quá ít ỏi. Và khi mà kết đoán lịch sử nước ta dài 4000 năm thì còn có gì thua kém gì sử Tầu?

Ngoài bộ An-Nam chí lược, các bộ sử Đại Việt Sử ký Toàn thư thường có lời bình của các ông Lê Văn Hưu, Ngô Sĩ Liên.

Đến cuốn sách của Trần Trọng Kim được coi là ngắn mà súc tích, cụ dành chương I, chưa tới 10 trang để viết về đời Hồng Bàng, tránh bớt được tình trạng vẽ rắn thêm đuôi. Trong lời mở đầu, cụ cũng kín đáo dè dặt đưa ra nhận xét:

“Thời đại thứ nhất là Thượng cổ thời đại, kể từ họ Hồng Bàng cho đến hết đời nhà Triệu. Trong thời đại ấy, từ chương thứ III, bàn về xã hội nước Tầu, đời nhà Tần, phần nhiều là những chuyện hoang đường, huyền hoặc cả. Những nhà chép sử đời trước cũng theo tục truyền mà chép lại, chứ không có di tích gì mà khảo cứu cho đích xác.”(15)

Và cuối cùng là cuốn Việt sử Toàn thư của Phạm Văn Sơn, chi tiết hơn, nhưng lại không ra ngoài thông lệ, không có phản biện gì về thời Thượng cổ!

Nhận xét về các sách sử này, có lẽ không thể không đặt vào bối cảnh lịch sử, chính trị của từng thời kỳ để tránh những áp đặt thiên kiến.

Chính vì thế, khi đọc An-Nam chí lược của Lê Tắc, tôi không có cái tâm tình ‘bực bội’ như linh mục viện trưởng Cao Văn Luận.

Tôi hiểu những chiếu biểu được viết lại thời đó chỉ là một thứ ‘ngôn ngữ ngoại giao’, phải viết như vậy, nhưng sự thực có thể không như vậy. Thứ nữa cũng cần tìm hiểu, chính sách ngoại giao của người Trung Hoa như thế nào đối với các phiên thuộc như Việt Nam.

Xin trích một đoạn chiếu của Hoàng đế Trung Hoa cho vua An–Nam:

“Hồi trước khi nước Khanh mới nội phục, hễ có xin điều gì, ta cũng y cho cả, trong ý nói rằng theo lễ thờ phụng nước lớn, lâu ngày tự xét sẽ biết rồi tuân theo các điều khoản mà thi hành.”(16)

Về điểm này, tôi được đọc phải nói là khá đầy đủ tài liệu của tác giả Nguyễn Duy Chính,(17) nên nhiều điều, tôi không lấy làm lạ.

Trong tiểu luận Tặng phẩm ngoại giao của Thanh Triều, 10–2004. Ông Nguyễn Duy Chính cho người đọc có cảm tưởng rắng chính sách ngoại giao cũng như quan điểm của Thanh Triều – một nước lớn với phiên thuộc – đã định hình như vậy, và hai bên cứ thế mà tuân theo, với quan điểm hai bên đều có lợi, tránh được bất hòa và chiến tranh.

Theo Nguyễn Duy Chính, thế giới không phải trong cái tương quan Quốc Gia–Quốc gia, mà là tương quan giữa Thiên tử với chư hầu. Khi thì chinh phục, khi thì vỗ về qua những món quà ngoại giao. Và Nguyễn Duy Chính, chỉ đến đời Tây Sơn cũng cho rằng thế lực ngoại giao của Tây Sơn xem ra chiếm ưu thế qua những cuộc đón tiếp long trọng của nhà Thanh với những món quà hậu hĩ dành cho phái đoàn Tây Sơn. Hơn ai hết, Quang Trung hiểu được mối tương quan hai chiều ấy nên mới rắp tâm đòi lại đất cũng như đòi cưới hỏi công chúa.

Trong “Cuộc giao thiệp giữa Quang Trung và Càn Long – Vụ 16 châu và xây đồn Sầm Nghi Đống”, Lý Văn Hùng viết:

“Sau chiến thắng vẻ vang và được nhà Thanh nhìn nhận chánh thức, vua Quang Trung đòi hỏi lại những đất đai ấy và vua Càn Long cũng ưng thuận quy hoàn.”(18)

Phải chăng đã có một nền ngoại giao dựa trên quà cáp làm nền tảng cho các mối liên lạc ngoại giao giữa nhà Thanh và các phiên thuộc?

2. chủ nghĩa dân tộc sô vanh của người cộng sản trong sử học

Trong một cuốn sách mỏng nhan đề Phương pháp sử học,(19) của Nguyễn Phương, giáo sư Viện Đại Học Huế, tác giả đưa ra một số nguyên tắc chỉ đạo cho việc nghiên cứu Sử.

Không ngờ những nguyên tắc cơ bản ấy nay có thể trở thành nguyên tắc chỉ đạo cho những người cộng sản trong việc viết sử. Ông viết:
image097
Nguyễn Phương (1921-1993): Giáo sư khoa sử, ĐH Huế (1976-1975). Nguồn: luanhoan.net

“Thực ra, sử học không phải là một môn dễ. Nghề chép sử chính là một nghề khó khăn, nó đòi phải có tài năng đã rồi, mà con đòi hỏi có công tâm và công phu. Một người xốp nổi không thể nghiên cứu sử, vì nghiên cứu sử cần phải có kiên nhẫn nhiều. Môt người có đầu óc đảng phái không thể nghiên cứu sử, vì nghiên cứu sử cần nói tất cả sự thật. Một ngươi bất tài không thể nghiên cứu sử một cách thành công, vì người đó sẽ không thể trình bày kết quả mình một cách khả quan để kẻ khác thèm đọc. Để thấy rõ việc khó khăn của việc học sử, chúng ta nên nhớ rằng sử học vừa là một khoa học, vừa là một nghệ thuật.”

Thật vậy, Sử dưới mắt của người cộng sản xoay chung quanh nhân vật huyền thoại bác Hồ. Bác Hồ dạy, bác Hồ nói, theo gương bác Hồ, học tập bác Hồ.

Hồ Chí Minh đã có lần dạy như sau:

“Dân ta phải biết sử ta
Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam.”


Sử ta là sử nào? Sử của đảng cộng sản? Cho đến nay càng học sử càng tối tăm thêm đến độ nay có dư luận muốn bỏ môn sử. Và theo một vị làm công tác viết sử nhận xét, Cho đến nay, theo tôi được biết thì chưa có một cuốn sách sử nào ở Việt Nam xứng đáng gọi là sử.

Những điệp khúc được nhai đi nhái lại như: Mừng xuân, mừng đảng, Đời đời nhớ ơn Bác Hồ. Đó là sự rập khuôn chính sách của nước Tầu trong hai mệnh đề: Chỉ có Đảng và Nhà nước.

Tôi có một cuốn sách nhan đề “Tự điển đường phố Hà Nội”.(20) Tôi thử tìm xem các danh nhân, các vị anh hùng, các trí thức yêu nước chống Pháp có tên trên đường phố Hà Nội không?

Tôi ngạc nhiên thấy không có tên bất cứ vị vua chúa nào đời Nguyễn như Gia Long, Duy Tân, Hàm Nghi, v.v. Cũng không có tên tuổi các nhà cách mạng thuộc đệ tứ như Nguyễn An Ninh, Tạ Thu Thâu. Các danh nhân trong Nam cũng thật hiếm hoi. Tôi không thấy tên Cường Để, Phan Thanh Giản, Lê Văn Duyệt, Nguyễn Đình Chiểu đâu cả.


Thiếu nhiều lắm. Thiếu tất cả.

Trong khi đó lại nhan nhản tên đảng viên đảng Cộng sản Việt Nam trên đường phố Hà Nội. Đến nỗi thiên hạ rỉ tai nhau, các đồng chí lãnh đạo đảng ông nào cũng có một ước mơ: khi chết thì có tên trên đường phố Hà Nội.

Trong khi đó, hầu như không thiếu vắng bất cứ tên tuổi một ai cả trên đường phố Saigon trước 1975.

Phải chăng tên đường phố là một nút mở tắt (On–Off) chỉ dấu ai là người được đảng coi là bạn, ai là thù của chế độ!

(Còn tiếp phần 2b)

© 2016 DCVOnline

Nếu đăng lại, xin đọc “Thể lệ trích 
đăng lại bài từ DCVOnline.net”




Nguồn: Bài và chú thích của tác giả. DCVOnline hiệu đính và minh họa.

(1) Ông Hà Văn Thùy còn có rất nhiều bài ‘giật gân’ với những kết luận không thể kiểm chúng được đăng tải rộng rãi trên KhoaHoc.net, Vietart.com , nhất là trên vanchuong.net

(2) Đó là những bài (từ 2011 đến 2014) đọc rất là nổ và chắc nịch, có nhan đề sau đây:

  • ·         Không có cái gọi là từ Hán Việt
  • ·         Lại nói về hòn đá lạ ở Đền Hùng
  • ·         Phát hiện chữ Việt cổ ở Quảng Tây
  • ·         Lịch sử khai sinh người Hán và sự hình thành của nước Tầu
  • ·         Việt mượn Hán, hay Hán mượn Việt?
  • ·         Thềm biển Đông, chiếc nôi của người Việt


(3) Lê Minh Khải, “Bách Việt và sự vắng mặt của lịch sử hậu thuộc địa
 ở Việt Nam”, Trà Mi dịch, DCVOnline, 18/01/2016

(4) Nguyễn Văn Lục, “Hội chứng Hậu thuộc địa”,
 Danchimviet.info, 14/04/2012.

(5) K. W. Taylor, “A history of the
 Vietnamese”,Cambridge University Press, 2013, trang 2–3.

(6) Nhiều tác giả, Giáo Trình Lịch sử Việt Nam, nxb Đại Học
 Sư phạm, in lần thứ hai, 2010.

(7) Lê Mạnh Hùng, “Nhìn lại Sử Việt, Tư tiền sử đến tự chủ”. Tổ hợp xuất bản miền Đông Hoa Kỳ, 2007, Lời nhà xuất bản.

(8) Trích bài phỏng vấn Nguyễn Nhã của N&S

(9) Lê Mạnh Hùng, Ibid.

(10) Nhiều tác giả, Chuyên đề “Bao nhiêu Chủ Nghĩa Dân Tộc là đủ?” Tạp Chí Talawas Số Mùa Thu 2009.

(11) Cuốn An–Nam Chí Lược do Viện Đại Huế xuất bản, biên soạn: Ủy Ban Phiên dịch sử liệu Việt Nam 1961. Lời nói đầu của Lm Viện Trưởng, trang 3.

(12) Trần Trọng Kim, Việt Nam sử lược, quyển I, Bộ giáo dục, in lần thư nhất, trang VII.

(13) “Nhận thức của Lê Văn Hưu và Ngô Sĩ Liên về lịch sử Việt Nam”, bản lược dịch và nhận định về tiểu luận của Insun đã đăng trên tạp chí Truyền Thông, Communications, số 41–&42, Thu Đông 2011, trang 156–168.

(14) Ngọ Phong Ngô Thời Sỹ, “Việt sử Tiêu án”, 1775. Dịch giả: Hội Việt Nam Nghiên Cứu Liên Lạc Văn Hóa Á Châu. Bản điện tử, NXB Văn Sử, 1991. Trang 3, 6.

(15) Trần Trọng Kim, Ibid., trang IX

(16) Lời Chiếu dụ cho Thế-Tử An-nam Trần-Nhật-Huyền (Trần-Thánh-Tông) trong tháng 8 năm Chí-Nguyên thứ 15 (1278).

(17) Ông Nguyễn Duy Chính có thể nói hiện nay là một trong những chuyên viên viết về nhà Tây Sơn với nhiều chuyên đề như: Giả Vương nhập cận. Việt Thanh chiến dịch: Vua Quang Trung ra Bắc, Từ chiến dịch Ai Lao đến trận thủy chiến Thị Nại, Tặng phẩm ngoại giao của Thanh Triêu, Khai quan thông thị, Vài sự kiện về bức chân dung vua Quang Trung, do hoạ sĩ nhà Thanh vẽ, Tương quan Xiêm Việt cuối thế kỷ 18.

(18) Lý Văn Hùng, “Cuộc giao thiệp giữa Quang Trung và Càn Long – Vụ 16 châu và xây đồn Sầm Nghi Đống”, Tập san Sử Địa, số 13, tháng 1,2,3–1960, trang 135.

(19) Nguyễn Phương, “Phương pháp sử học”, nhà in Sao Mai, Phòng Nghiên cứu sử, Viện Đại Học Huế xuất bản, 1964. Trang 10–11.

(20) Nguyễn Loan– Nguyễn Hoài, Tự điển đường phố Hà Nội, nxb Thế giới, 1994

 

++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++

Về một thứ chủ nghĩa dân tộc sô vanh (2b)

Posted on February 25, 2016 by editor — No Comments ↓


Nguyễn Văn Lục


image098
Trong một cuốn sách mỏng nhan đề Un village de la Chine populaire, (Một làng thời chính phủ Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa). Một gia đình nông dân, có 11 người con, ở một làng có tên là Henghan. Những đứa trẻ trong gia đình cứ lần lượt chết hết từ lúc 7–8 tuổi vì đói khát và bệnh tật.

(Tiếp theo phần 2a)

Khi có được một mảnh đất nhỏ để trồng trọt. Người cha đã dặn con là:

“Sois reconnaissant envers les communistes. Sans eux, tu n’aurais jamais eu cette terre.”(21)

Con phải biết nhớ ơn người cộng sản. Nếu không có họ, mày sẽ không bao giờ có được mảnh đất này.

Lịch sử dân tộc là lịch sử đảng. Công trạng là đảng. Phải nhớ ơn bác Hồ, nhớ ơn đảng ta mới có ngày hôm nay.

Vì thế, sách vở, tài liệu từ Nguyễn Khắc Viện đến Trần Văn Giàu, Trần Huy Liệu, Trần Thanh Mại, Văn Tân đều nói chung một thứ tiếng. Những người như Trần Đức Thảo, Phan Khôi, Nguyễn Đổng Chi, Vũ Ngọc Phan, Trần Văn Giáp, Đào Duy Anh cũng cố gắng bỏ tiếng người để bập bẹ tiếng Đảng.

Mấy người dám nói lên tiếng người như một Văn Cao:

Giữa sự sống và sự chết
Tôi chọn sự sống
Để bảo vệ sự sống
Tôi chọn sự chết”


Chọn (26/8/1957)(22)

Trong các số Tập san Văn Sử Địa miền Bắc, Trần Huy Liệu và Tố Hữu là những người đi hàng đầu trong việc truy chụp đánh phá các nhà văn nhà báo phản động.(22)

Tôi chỉ xin đưa ra đây một bài tiêu biểu của Trần Huy Liệu đánh nhà sử học Trần Trọng Kim nhan đề “Bóc trần quan điểm thực dân và phong kiến trong quyển: Việt Nam sử lược của Trần Trọng Kim”.(24)

Trong phần này của bài viết, chúng tôi xin đưa ra một thông tin liên quan đến sử học giữa hai miền Nam–Bắc.

Một trong những đề tài được cả hai miền Nam và Bắc quan tâm nhiều hơn cả là Giai đoạn Nhà Tây Sơn. Trong 29 số báo, Tập san sử địa miền Nam, đã dành ra ba số về chủ đề Nhà Tây Sơn. Cả ba số đều có sự hưởng ứng của một số cây viết có uy tín như Hoàng Xuân Hãn, Tạ Chí Đại Trường, Đặng Phương Nghi, Phạm Văn Sơn, Nguyễn Toại, Lý Văn Hùng, Phan Khoang, Hồ Hữu Tường, Tô Nam Nguyễn Đình Diệm, v.v.(25)

Ở ngoài Bắc, cũng có một số bài viết đề cao vai trò Tây Sơn như, Tìm hiểu thiên tài Tây Sơn của Nguyễn Lương Bích và Phạm Ngọc Phụng dựa trên sử Tầu trong cuốn Quân Doanh Kỷ lược. Văn Tân với Nguyễn Huệ, con người và sự nghiệp.
Thật chưa có khi nào hai chiến tuyến Nam–Bắc lại có một sự đồng thuận như thế!


Tuy nhiên, ngày nay có điều kiện nhìn lại thì sự thể có thể không đơn giản như vậy. Ông Nguyễn Nhã, người trách nhiệm chủ nhiệm Tập San Sử Địa miền Nam. Thoạt đầu vai trò chủ nhiệm được trao cho giáo sư Tôn Thất Dương Kỵ nhưng ông này đã bị chính quyền miền Nam trao trả cho miền Bắc. Từ đó, Nguyễn Nhã lên thay thế và đến sau 1975, ông Nhã xác nhận có liên hệ với cộng sản. (Xin xem chi tiết ở đoạn sau)

Phải chăng vì thế Tập San Sử Địa của miền Nam đã ra được ba số chủ đề về Quang Trung theo chỉ thị của ngoài Bắc?

Tuy nhiên, trong số giáo sư Sử Địa miền Nam lúc bấy giờ, có trường hợp giáo sư Nguyễn Phương, tốt nghiệp ở Mỹ về và giảng dạy tại Đại học Huế. Ông đã không được nhắc nhở tới và cũng không được giới sử học miền Nam đánh giá đúng mức. Các biên khảo về sử của ông chỉ được đăng một bài trong các số đầu tiên của Tập san Sử Địa.

Nguyễn Phương – một nhà sử học bị bỏ quên

Để mở đầu cho phần tìm hiểu một số nan đề lịch sử do giáo sư Nguyễn Phương đề ra và trở thành đối tượng phê phán của các sử gia Hà Nội, cách đây hơn nửa thế kỷ, tôi xin được trích dẫn hai sử gia người Mỹ nhận định về giáo sư Nguyễn Phương như thế nào.

Một là Lê Minh Khải. Trong phần trả lời dưới bài “Localizing the Nation in Early Twentieth Century Vietnam”, 2011, Lê Minh Khải viết:

image099
Nguyễn Phương tại St-John’s islan, Singapore (Thời tị nạn cộng sản sau 1975). Nguồn LMK

“I think the biggest moments were the early 20th century and the 1960s. The early 20th century is when Western ideas were adopted. In the 1960s, the scholarship which was created to serve the American War had an enormous impact and is what people are still living with. If it wasn’t for the War, for instance, I doubt that we would have Hung Vuong today. There were scholars in the South, like Nguyen Phuong, who didn’t believe in them, and people like Dao Duy Anh doubted this too, but during the War the government in the North needed “proof” that Vietnam had been a nation since the beginning of time so that people would be inspired to fight to defend it.”(26)

“Tôi nghĩ rằng giai đoạn quan trọng nhất là đầu thế kỷ thứ 20 và những năm 1960. Đầu thế kỷ thứ 20 là khi những tư tưởng phương Tây được chấp nhận [ở Việt Nam]. Trong những năm 1960, học thuật [lịch sử] được kiến tạo để phục vụ chiến tranh [chống] Mỹ đã gây ảnh hưởng to lớn và vẫn là những gì người ta còn tin vào. Ví dụ, nếu không có chiến tranh, tôi ngờ rằng Hùng Vương còn có thể tồn tại đến ngày nay. Có những học giả miền Nam, như Nguyễn Phương, không tin vào thuyết vua Hùng, và những người như Đào Duy Anh cũng nghi ngờ, nhưng trong suốt cuộc chiến, chính quyền miền Bắc cần “bằng chứng” Việt Nam đã là một quốc gia từ thời thượng cổ để người dân nức lòng chiến đấu bảo vệ tổ quốc.”

Đến 2013, Lê Minh Khải lại một lần nữa viết về Nguyễn Phương, Lần này ông viết về một công trình sử học bị thất lạc của Nguyễn Phương. Trong bài “Nguyễn Phương’s Lost History”(27), Le Minh Khải viết,

“Nguyễn Phương đã xuất bản một cuốn sách bằng tiếng Việt ở Huế trong những năm 1960 tựa là “Việt Nam thời khai sinh” [Vietnam at the Time of its Birth] (Huế: Phòng Nghiên Cứu Sử, Viện Đại Học Huế, 1965).
[…]
Hơn mười năm sau khi xuất bản công trình đó, Nguyễn  Phương viết một cuốn sách với chủ đề tương tự bằng tiếng Anh tựa là “Cổ sử Việt Nam: một nghiên cứu mới” (“The Ancient History of Việt-Nam: A New Study”). Tuy nhiên, tác phẩm này này chưa bao giờ được xuất bản.
[…]
“Cổ sử Việt Nam” khá khác với “Việt Nam thời khai sinh”. Công trình sau sau không chỉ là là bản dịch sang tiếng Anh của tác phẩm trước.


Tuy nhiên, lập luận chính [của hai cuốn sách] giống nhau – rằng “thực dân Trung Hoa” đã sinh sôi nảy nở và qua mặt “người bản xứ” hay thổ dân và đến thế kỷ thứ 10 sau dương lịch, đã trở thành người Việt Nam.”

Lê Minh Khải là bút danh viết blog SEAsian History của Liam Christopher Kelley, giáo sư Khoa sử, Đại học Hawaii tại Manoa.

Hai là Keith Weller Taylor. Trong Bình luận của Taylor(28) về bài ““Hồng Bàng thị truyện” như một truyền thống được kiến tạo của người Việt Nam thời trung đại” của Liam Kelley do Hoa Quốc Văn dịch(29), Taylor viết:

“Một người có liên quan đến sự thảo luận này bị bỏ quên là Nguyễn Phương (1921 – 1982), một vị linh mục và học giả vốn là giáo sư về lịch sử của Trường Đại học Huế và là tác giả của nhiều cuốn sách và bài báo ở thập kỉ 1950s – 1960s. Điều đáng ngạc nhiên nhưng là sự thật là tôi chưa bao giờ nghe nói đến ông cho đến gần 20 năm sau khi ông mất. Tôi đã học hỏi và nhận ra rằng sự diễn giải của ông về lịch sử Việt Nam thời cổ đúng hơn những gì tôi viết trong cuốn sách năm 1983 của mình(*). Nguyễn Phương viết đầy đủ chi tiết về cùng các vấn đề đã chiếm sự quan tâm của Kelley, và nếu tác phẩm của ông được biết nhiều hơn ngày hôm nay, tiểu luận của Kelley hẳn đã có một tiền lệ, bởi ông về cơ bản đã đưa ra những lập luận giống với Kelley.”

K.W. Taylor là Giáo sư Khoa Châu Á học ở Đại học Cornell.

Sự nhìn nhận công khai về sự thiếu xót kiến thức sử học này của giáo sư Taylor đáng là một tấm gương cho những người đang viết sử.

Viết sai, 30 năm ngồi viết lại. Một thái độ trí thức đáng nể.

Trong số những bài viết của giáo sư Nguyễn Phương, có hai đề tài gây sôi nổi và tranh cãi chẳng những đối với giới viết sử trong Nam và cả ngoài Bắc.

Đề tài thứ nhất, ông đặt nghi vấn về sự hiện hữu của 18 đời Hùng Vương vốn được coi như tổ tiên và nguồn gốc lịch sử 4000 năm của dân tộc Việt Nam. Trong đó có bài tham luận của ông nhan đề Tiền sử và lịch sử Lạc Việt, đăng trên Tập San Đại Học Huế năm 1964.

Trong đó, ông nhìn nhận những khám phá khai quật ra các di tich đồ dùng ở Đông Sơn là quan trọng. Nhưng nó mới chỉ là sự kiện. Nhưng điều quan trọng là giải thích được các sự kiện đó. Và ông kết luận:

“Chúng ta cũng không khỏi ghi nhận rằng, nếu người Đông Sơn (chỉ về cả nền văn minh Đông Sơn) đã cao bay xa chạy về mặt nghệ thuật, họ còn có thể rất bán khai về mặt văn hóa. Họ còn ở truồng, họ chỉ mới biết đóng khố, chỉ có cái mũ của họ là vĩ đại. Phải chăng, họ là điển hình cho hiện tượng những dân ‘mình ở lỗ, cổ đeo hoa?’

Hiện tượng đó, thiết tưởng không lạ gì với đối với một giống người như người thuộc văn minh Đông Sơn, vì ngày nay vẫn còn gặp được những thứ người như thế.

Những kiến thức tổng quát này sẽ được đào sâu trong phần sau về ý nghĩa của văn minh Đông Sơn.”(30)

Vào năm 1965, ông lại tiếp tục khai triển đề tài này và đã dành hẳn một cuốn sách nhan đề:, Việt Nam Thời Khai sinh.(31) Công trình sưu khảo này do tổ chức Văn Hóa Á Châu tài trợ.

Theo tôi hiểu ý của tác giả Nguyễn Phương, thời khai sinh của lịch sử Việt Nam là L’Ombre d’un doute, thời của bóng tối lịch sử với nhiều huyền thoại, hư ảo. Giáo sư Nguyễn Phương đã có can đảm đi tìm một hừng đông sử Việt – trong cái tranh tối, tranh sáng mà phần chắc chắn là một nguồn gốc bất minh – trong sự ngờ vực cần đươc giải mã. Trong đó, ông dành chương đầu trong cuốn “Việt Nam thời khai sinh” để đi tìm những người sống đầu tiên trên đất Việt. 4, 5 chương sau, ông dành tìm hiểu Tiền sử và Lịch sử Lạc Việt.

Bên cạnh đó, Giáo sư Nguyễn Phương còn có hai bài quan trọng là Những sai lầm của Đại Việt sử ký toàn thư, năm 1962. Và bàiPhương pháp sử của Lê Văn Hưu và Ngô Sĩ Liên, số 30, năm 1962 cũng đăng trên tập san Đại Học Huế.
Hai bài sưu khảo này củng cố thêm cho quan điểm sử học của ông về thời kỳ tiền sử – một giai đoạn bất minh – cần được nhìn lại.


Thao thức về thời Tiền sử Việt nên sau 1975, ở Hải Ngoại ông lại có dịp đề cập đến vấn đề này một lần nữa viết bằng tiếng Mỹ trong “The ancient History of Viet Nam” (1976).(32)

Trong chương hai của tập tài liệu này, ông đề cập đến The dynasty of Hong Bang: a series of tales poorly connected. Trong phần này, ông cho rằng Ngô Sĩ Liên không phải là người đầu tiên nói về Hùng Vương. (Một tác giả vô danh trong Việt Sử Lược vào năm 1377 đã nói xa gần đến thời kỳ trước Triệu Đà).

Nhưng ông khẳng định: “But to tell the story of Hung Vương as they were in the tales, Ngo si Lien had no precedent.”

Quan điểm này đặt gánh nặng lịch sử trách nhiệm lên sử gia Ngô Sĩ Liên về thời Hùng Vương – ở một giai đoạn lịch sử mà Việt Nam chưa có những bằng cớ khách quan về sự khai quật được các dụng cụ thời đồ đá đã tinh xảo đã có đẽo, gọt, bào nhẫn, trước thời kỳ đồ đồng còn sơ khai của khoa Khảo cổ học.

Sử gia Ngô Sĩ Liên dựa trên sự kiện sử nào để xác minh 18 đời Hùng Vương kéo dài trên 2000 năm lịch sử?

Và sau đó, ông cho rằng Hà Nội đã xử dụng tài liệu của Ngô Sĩ Liên và gọi đó là Epoch of Hùng Vương. Ông viết:

“Recently, the social scientists of North Vietnam professed the same belief. Publications like epoch of Hung Vuong, establishment of the nation by Hung Vuong, and History of Vietnam are obviously intended to instill more deeply in the minds of the Vietnamese the idea of a national distant past.”

Và ông đã đưa ra một kết luận chắc nịch khỏi cần bàn cãi.

“But history has a way to express itself. Historical truth cannot bear pressure, from whatsoever source this pressure might come.”

Nhưng lịch sử có một cách để tự biểu lộ. Sự thật lịch sử không chịu áp lực, bất kể nguồn áp lực từ đâu đến.”

Có một sự thật lịch sử của nhà sử học. Và cũng có một sự thật lịch sử của người làm chính trị – của người cộng sản. Nhưng sử học có cái cách để trình bày sử học của chính nó mà không có thể bị chi phối vì bất cứ áp lực nào.

Đề tài thứ hai, ông đặt ra câu hỏi: Ai là người có công thống nhất đất nước. Tây Sơn Nguyễn Huệ hay Nguyễn Ánh, Gia Long. Và sự chọn lựa của ông là công ấy là của Nguyễn Ánh Gia Long.

Chính thức nhan đề bài viết là Ai đã thống nhất Việt Nam: Nguyễn Huệ hay Nguyễn Ánh? Và tác giả đã kết luận rằng “Nguyễn Ánh đã hoàn thành công việc thống nhất.”

Nội dung bài viết nhằm phê phán những người đi trước về vấn đề thống nhất Việt Nam. Trong đó, tác giả có nêu trường hợp ông Văn Tân, viết trong tập san Nghiên cứu lịch sử, xuất bản tại Hà Nội. Ông Văn Tân chủ trương rằng người đã thống nhất Việt Nam, không phải Nguyễn Ánh mà Nguyễn Huệ.

Sau khi đọc bài của giáo sư Nguyễn Phương, ông Văn Tân đã mau mắn có bài trả lời lấy cùng nhan đề và thêm dòng Trả lời cho ông Nguyễn Phương, báo Bách Khoa Saigon: Văn Tân, “Ai đã thống nhất Việt nam: Nguyễn Huệ hay Nguyễn Ánh? Trả lời cho ông Nguyễn Phương, Bách khoa Sài gòn”, Tạp chí Nghiên Cứu Lịch Sử, số tháng 9 năm 1959.

Bài Ai đã thống nhất Việt Nam: Nguyễn Huệ hay Nguyễn Ánh? sau đó đã đăng trên Bách Khoa các số 148, 149, tháng 3, 1963.

Bài Nguyễn Phương trả lời cho Văn Tân về vấn đề ai thống nhất Việt Nam tựa đề, “Chung quanh vấn đề: Ai đã thống nhất Việt Nam: Nguyễn Huệ hay Nguyễn Ánh?” đến hơn 4 năm sau, kể từ tháng 9, 1959, mới đăng trên Tạp chí Đại Học số 35-36, Tháng 10 &12, năm 1963.
image100
Nguồn: TC Đại Học
image102
Nguồn: TC Đại Học

Đề tài này – măc dù tầm cỡ nhỏ hơn – nhưng nó đã gây ra tranh luận cả trong Nam lẫn ngoài Bắc, liên hệ cả đến việc cầm bút của ông.

Thoạt đầu, linh mục Thanh Lãng, chủ tịch Hội Văn Bút lên tiếng chính thức trên tờ Đại Học với bài: Nhận định một việc suy tôn và hạ bệ.(33)13 Bài báo của Thanh Lãng thật ra chỉ nhằm đáp lại một bài viết trên Sáng Tạo số 20, tháng 5, 1958, trang 29-30, trong đó tác giả trên tờ Sáng Tạo đã phủ nhận toàn bộ Nam Phong của Phạm Quỳnh.

Thanh Lãng chỉ muốn nhấn mạnh việc cần tách biệt lãnh vực chính trị ra khỏi Văn Học.

Bài của Phạm Việt Tuyền với nhan đề Một vài ý kiến về sự nghiệp Gia Long,(34)14 tiếp ngay sau đó là bài của Bửu Kế, Đám tang vua Gia Long.

Riêng giáo sư Nguyễn Phương đã có các bài sau, Những bước đầu của anh em Tây Sơn, Tây Sơn lấy Nam Hà, v.v. cũng đăng trên tập san Đại Học.

Ở đề tài thứ hai, theo tôi, giáo sư Nguyễn Phương đã đụng đầu với cả Tập san Sử Địa cả miền Nam và miền Bắc.

Hãy đọc trả lời của Nguyễn Nhã, Chủ nhiệm Tập San Sử Địa 29 số (22 tập), phát hành từ năm 1966 cho tới 1975, với Tạp chí Xưa và Nay.(35)

Trong mục Lá Thư Tòa soạn số 21 (tháng 1-3 năm 1971), Nguyễn Nhã viết,

“Năm năm đã qua, sự đóng góp của TSSĐ chưa có là bao so với sự mong đợi của mọi người, cũng như đối với những người chủ trương tập san này. Dù sao, tuy hoàn cảnh khó khăn của đất nước, chiến tranh khốc liệt, thiếu thốn tài liệu, thiếu tài chính, thiếu nhân sự (chỉ có 3 người thường trực), rất ít khích lệ…TSSĐ đã nói lên lòng yêu mến sử học cũng như địa lý nước nhà. Sử địa đã gióng tiếng chuông thúc dục Đại học Việt Nam sớm làm tròn nhiệm vụ phát triển văn hóa dân tộc.”

Nguyễn Nhã dường như cũng rất hãnh diện vì những nhận xét của cán bộ cộng sản lãnh đạo TP HCM sau năm 1975 về TSSĐ.

“Chúng ta còn sử dụng khả năng hoạt động công khai, hợp pháp đưa nội dung tiến bộ và cách mạng vào các tờ báo Tia Sáng, Tiếng Nói Dân Tộc, Đất Tổ, và các tạp chí đối diện, TSSĐ.”– Lê Quang Chánh Thành ủy viên, Phó Chủ tịch Ủy ban Nhân dân Tp HCM , 10/10/1982.

“Một số nhà nghiên cứu khoa học đã có đóng góp quan trọng: Dịch thuật các tư liệu lịch sử, xuất bản TSSĐ, các công trình đề cao tự hào về văn hóa dân tộc…” – Nguyễn Văn Linh, Bí thư Thành ủy Tp HCM viêt trong cuốn “Thành phố Hồ Chí Minh 10 năm”.

Và đặc biêt Nguyễn Nhã “rất tâm đắc ba số đặc khảo dành cho Nguyễn Huệ (số 9 và số 10 “Quang Trung”, số 13 “Chiến thắng Đống Đa”, số 21 “200 năm phong trào Tây Sơn”)
image104
Số 21 – Tháng 1, 2, 3 – 1971. 200 năm phong trào Tây Sơn Lá thư tòa soạn Phe chống đảng Tây Sơn ở Bắc với tập “Lữ Trung Ngâm” – Hoàng Xuân Hãn Công chúa Ngọc Hân Bắc Cung Hoàng Hậu triều Quang Trung – Nhất Thanh Cuộc khởi dấy và chiến tranh của Tây Sơn – Phù Lang Trương Bá Phát Việc mất đất sáu châu Hưng Hóa – Nguyễn Toại Thái độ “kẻ sĩ” triều Quang Trung – Nguyễn Đăng Thục Kẻ sĩ đời Lê mạt (Giai đoạn Tây Sơn đánh Bắc Hà) – Phạm Văn Sơn Nguồn động lực Nam Tiến với vùng đất Tây Sơn – Lý Văn Hùng Chuyện còn truyền lại từ khi nhà Nguyễn Tây Sơn mất ngôi – Thúy Sơn Những ngày tàn của Tây Sơn dưới mắt của giáo sĩ Tây Phương – Nguyễn Ngọc Cư Sử học Tây phương sau Đệ nhị Thế chiến – Hoàng Ngọc Thành Giới thiệu sách báo. Nguồn: OntheNet

Tập san Sử địa do Nguyễn Nhã chủ trương đã trả lời gián tiếp giáo sư Nguyễn Phương bằng ba số đặc biệt về Quang Trung như trên?

Tuy nhiên, câu hỏi then chốt ai là người có công thống nhất đất nước đã không được đặt ra và trả lời trong số kỷ niệm 200 năm Tây Sơn. Sự tránh né ấy mang ý nghĩa gì? Và đến ngày hôm nay thì câu trả lời xem ra không còn có gì khó khăn với bất cứ ai muốn có câu trả lời dứt khoát.

Nếu đúng như những gì Nguyễn Nhã khoe khoang thì không biết hằng trăm tác giả có uy tín, có lý tưởng, có lập trường chính trị đứng đắn đã cộng tác với TSSĐ suốt 9 năm, 1966-1975, sẽ nghĩ gì khi Nguyễn Nhã hãnh diện vì được cán bộ cộng sản khen và cho rằng họ đã “sử dụng khả năng hoạt động công khai, hợp pháp đưa nội dung tiến bộ và cách mạng vào … Tập san Sử địa”đồng thời quẳng TSSĐ vào cùng rọ với những tờ báo như Tia Sáng, Tiếng Nói Dân Tộc, Đất Tổ, và tạp chí đối diện!

Vấn đề còn lại cho người Việt hải ngoại là đằng sau khung cửa hẹp, chúng ta cần thức tỉnh để đừng bị cộng sản sỏ mũi thêm một lần nữa!

Đối với Hà Nội, họ căn cứ trên hai sử liệu của Tầu là Quân Doanh Kỉ Lược và Thánh Vũ Ký để viết bài. Xét về mặt tài liệu thì như thế là quá yếu, vì không có điều kiện xử dụng nguồn tài liệu ngoại quốc như Các Lá thư thừa sai Ba Lê, vốn là những nhân chứng tại chỗ. Mặc dầu các thừa sai có thiên về Nguyễn Ánh Gia Long. Nhưng thật ra, nhiều điều họ biết được là do giáo dân kể lại. Chính giáo dân hay nông dân đã không đứng về phe Tây Sơn và họ còn oán hận binh lính Tây Sơn đi đến đâu thì vơ vét của cải, hà hiếp dân chúng. Các thừa sai chắc cũng chẳng có lý do gì phải viết bịa ra, bôi nhọ thêm cho Tây Sơn cả.

Tôi định sẽ trích dẫn quan điểm của giáo sư Nguyễn Phương và ông Văn Tân. Nhưng suy nghĩ lại, tôi cho là một công việc làm tốn công sức một cách vô ích.

Giáo sư Nguyễn Phương cùng với học trò của ông, ông Nguyễn Đức Cung, đều dựa trên những bằng chứng sử học để trình bày một nghi án sử. Phần ông Văn Tân, dựa trên quan điểm chính tri áp đặt để viết sử mà mục đích dùng sử học như một công cụ phục vụ chính trị.

Như vậy, tốt hơn hết là không nên rơi vào trò chơi chính trị của miền Bắc. Chấm dứt tranh cãi.

Đôi dòng kết luận

Tôi xin được phép dừng bài viết ở đây và xin tiếp tục trong chuỗi suy nghĩ về mối liên hệ hữu cơ giữa nước ta và nước Tầu trong các bài về sau.

Mối quan hệ giữa Trung Hoa – Việt Mam trong suốt hơn 2000 năm lịch sử để lại nhiều dấu vết thù địch. Người Việt Nam trong những năm tháng ấy vẫn để lại một ký ức lịch sử đau thương và hận uất: 1000 năm nô lệ giặc Tầu.

Nội hàm của con số 1000 năm liệu có phản ảnh trung thực thực trạng của Việt Nam hay không?

Đó là những đề tài cần được khai triển thêm. Dù sao đi nữa thì tâm tư này cũng vẫn cần được chia xẻ theo nhiều cách nhìn.

Theo tôi, cách nhìn của học giả Nguyễn Phương là một cái nhìn viễn kiến về mối quan hệ Ta–Tầu, rất gần sự thật và phản ánh trung thực của thực tế Việt Nam.

Việc thứ nhất

Một người Trung Hoa rất dễ trở thành một người Việt Nam về vóc dáng, vì cùng một gốc. Nguyễn Phương viết: (36)

“Rồi khuynh hướng muốn bành trướng đó lại được gia tăng bởi sự kiện nhân chủng. Dầu muốn dầu không, người Việt Nam giống người Trung Hoa, và nói cho đúng hơn, thuộc về cùng một gốc với người Trung Hoa. Nhờ đó Người Trung Hoa rất dễ dàng trở thành người Việt Nam. Chỉ cần họ bằng lòng làm dân Việt Nam và nói được tiếng Việt, là rất khó mà phân biệt được họ với những người Việt Nam chính cống khác.”

Học giả Nguyễn Phương đã trích dẫn ĐVSKTT, trường hợp đời nhà Trần. Ông tổ của Trần Cảnh vốn gốc Trung Hoa ở Phúc Kiến, sau mới di cư sang làng Tức Mặc. Ông tên là Kinh, “Kinh sinh ra Hấp, Hấp sinh ra Lý, Lý sinh ra Thừa, là cha của Trần Thái Tổ.”(37)

Từ chỗ đó, người Tầu nghĩ rằng nếu đã có người Tầu dễ trở thành Việt Nam thì ngược lại tại sao không biến một người Việt Nam trở thành người Tầu? Tham vọng đồng hóa bắt nguồn từ yếu tố chủng tộc và cộng thêm cái tinh thần cá lớn nuốt cá bé!

Việc thứ hai

Cũng theo Nguyễn Phương, trong thời gian Việt Nam được độc lập, tôi đề nghị gọi là “thời tự chủ”, cứ một khoảng thời gian khá dài, tới hai ba trăm năm, Trung Hoa lại sang xâm lăng Việt Nam một lần.

Lần thứ nhất xẩy ra dưới thời nhà Tống, năm 981.

Lần thứ hai dưới thời nhà Nguyên, năm 1285-1288 (cách nhau 301 năm).

Lần thứ ba dưới thời nhà Minh năm 1407-1427 (cách nhau 119)

Lần thứ tư dưới thời nhà Thanh, năm 1788-1789 (cách nhau 381).(38)

Những khoảng cách thời gian dài 2, 3 trăm năm, người Tầu mới sang xâm lấn nước ta một lần. Và mỗi lần chỉ ở lại một thời gian ngắn, một đến hai ba năm là cùng, rồi lại bị quân ta đánh đuổi phải rút về.

Hằng 2, 3 trăm năm mới bi xâm chiếm một lần, hay 4 lần Tầu xâm lăng trong suốt cả ngàn năm thi phỏng có nghĩa lý gì?
Có đáng để đem ra phô trương như thành tích chống ngoại xâm?


Trong khi đó, thời gian dành cho những cuộc tranh dành, chiếm ngôi, đoạt vị kéo dài hàng thế kỷ, bao nhiêu sinh linh đã khốn khổ, điêu linh vì các cuộc ‘nội chiến’ này?

“1000 năm giặc Tầu đô hộ” có phản ảnh trung thực không?

© 2016 DCVOnline

Nếu đăng lại, xin đọc “Thể lệ trích đăng lại bài từ DCVOnline.net”



Nguồn: Bài và chú thích của tác giả. DCVOnline hiệu đính và minh họa

(21) Jan Myrdal, Un village populaire, Paris 1964. Ed. Galimard, trang 128–129

(22) Nguyễn Thanh Giang, Tản mạn về người viết Tiến Quân ca, Hợp Lưu, số 80, tháng 12–2004 và tháng 1–2005, trang 14

(23) Nguyễn Văn Lục, “Giới thiệu và nhận xét về Tập San sử địa của hai miền Nam Bắc”, Tân Văn, số 12, tháng 7, 2008, trang 9

(24) Tập san nghiên cứu Văn–Sử–Địa, số 6,, tháng 3–4, năm 1965.

(25) Ông Hoàng Xuân Hãn viết nhiều nhất và có mặt thường xuyên trên mỗi số báo. Ông định cư ở Pháp và gửi bài về. Mặc dầu ông tỏ ra thân với phía Hà Nội một cách không dấu diếm, nhưng tôi đã không thấy có bất cứ bài biên khảo nào của ông đươc đăng tải trong suốt 20 năm miền Nam.

(26) Le Minh Khai, “Localizing the Nation in Early Twentieth Century Vietnam”, Le Minh Khai’s SEAsian History Blog, 09 dec 11

(27) Le Minh Khai, “Nguyễn Phương’s Lost History”, Le Minh Khai’s SEAsian History Blog, 01 may 13

(28) Keith Weller Taylor, “Comments on ‘The Biography of the Hong Bang Clan as a Medieval Vietnamese Invented Tradition’ by Liam Kelly,” Journal of Vietnamese Studies 7, 2 (summer 2012):131-138. (*) The Birth of Vietnam, University of California Press, 1983.

(29) Keith Weller Taylor | Người dịch: Hoa Quốc Văn, Bình luận về bài ““Hồng Bàng thị truyện” như một truyền thống được kiến tạo của người Việt Nam thời trung đại” của Liam Kelley. Blog LeMinKhaiViet, 29 Sep 13.

(30) Nguyễn Phương, Tiền sử và lịch sử Lạc Việt, 346–371, năm thứ VII, số 39, 1964

(31) Nguyễn Phương, Việt Nam Thời khai sinh, Phòng Ngiên cứu sử Viện Đại Học Huế, 1965. Trong đó, ông đã dành ra 337 trang đẻ trình bày Người Việt đàu tiên và nguồn gốc tiền sử Lạc Việt.

(32) Những tập tài liệu chưa in này còn đươc giữ lại do môn sinh của ông là Nguyễn Đức Cung trách nhiệm

(33) Thanh Lãng, Nhân một việc suy tôn và hạ bệ, 1959, số 9, trang 13–17

(34) Phạm Việt Tuyền, 1959, số 8, trang 58–78

(35) Đề cao lòng tự hào về văn hóa dân tộc”, Phỏng Vấn ông Nguyễn Nhã – Nguyên Chủ Nhiệm Tập San Sử Địa (Sài Gòn), Tạp chí Xưa và Nay, số 40, 6/1997, trang 7-8. Ghi lại trên CD-ROM “29 số tập san Sử địa” do Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam phối hợp với Viện Viễn Đông Bác cổ của Pháp thực hiện với sự đồng ý của Nguyễn Nhã (cựu Chủ nhiệm Tập san Sử địa).

(36) Nguyễn Phưong, Đà lịch sử…, Tập san Sử Địa, Số 1, tháng 1,2,3, năm 1966, trang 191

(37) Nguyễn Phưong, Ibid.

(38) Nguyễn Phưong, Ibid.


08 Tháng Tư 2016(Xem: 5386)
19 Tháng Giêng 2016(Xem: 4485)
14 Tháng Giêng 2016(Xem: 2354)
08 Tháng Sáu 2015(Xem: 2844)