Binh Pháp Tôn Tử và cuộc đọ sức Mỹ - Trung

05 Tháng Bảy 20191:04 SA(Xem: 645)
VĂN HÓA ONLINE - DIỄN ĐÀN CHÍNH TRỊ - THỨ SÁU 05 JULY 2019

Binh Pháp Tôn Tử và cuộc đọ sức Mỹ - Trung

RFI 04-07-2019

Tượng chiến lược gia Tôn Tử tại Nhật Bản. Phải chăng Trung Quốc đang áp dụng sách lược Tôn Tử trong cuộc đọ sức với Mỹ?Wikimedia Commons
Tượng chiến lược gia Tôn Tử tại Nhật Bản. Phải chăng Trung Quốc đang áp dụng sách lược Tôn Tử trong cuộc đọ sức với Mỹ?Wikimedia Commons

Cuộc chiến thương mại đang đẩy Hoa Kỳ và Trung Quốc vào một cuộc đối đầu chưa từng có, dù đó là một cuộc đối đầu không vũ trang. Theo nhận định của chuyên gia quân sự Jean-Vincent Brisset, thuộc Viện Nghiên cứu Quan hệ Quốc Tế và Chiến Lược IRIS trên tờ Atlantico, « Nếu các nhà lãnh đạo phương Tây muốn hiểu hành động của Bắc Kinh thì điều mà họ lẽ ra phải học trước tiên chính là binh pháp Trung Quốc ».

Binh pháp Trung Quốc là một bộ binh thư rất đặc biệt. Liệu rằng các định hướng chiến lược mà quân đội Trung Quốc đang sử dụng kể từ ngày thành lập đến nay có thể giải thích phần nào cách thức mà Trung Quốc đang tiến hành trong cuộc xung đột thương mại hiện nay ?

Nói về « binh pháp Trung Quốc » rất là khó. Nếu như đế chế Trung Hoa trong lịch sử trải qua biết bao cuộc xung đột, thì phần lớn đó đều là nội chiến. Nhưng người ta cũng hay quên là chỉ có hai triều đại duy nhất từng chiếm đóng một vùng lãnh thổ lớn hơn cả vùng lãnh thổ của Trung Quốc truyền thống đều là hai triều đại ngoại bang và thực dân : Triều đại Nguyên Mông và Nhà Thanh (Mãn Châu).

Khi Mao Trạch Đông lên cầm quyền, Trung Quốc tiến hành nhiều cuộc chiến bên ngoài lãnh thổ. Tại Triều Tiên, Trung Quốc huy động những quân đoàn hùng hậu, gây ấn tượng bởi các đợt tấn công trực diện ồ ạt, không có một tầm nhìn chiến lược nào, khiến quân lính chết như rạ. Điều ngạc nhiên là không quân Trung Quốc tham gia cuộc chiến này đã chứng tỏ những năng lực tuyệt vời trong các cuộc không chiến, ở đó các năng lực cá nhân là điều cốt lõi. Còn trong chiến tranh của Mỹ tại Việt Nam, sự tham gia của Trung Quốc không rõ ràng và không đáng kể.

Năm 1962, xung đột Trung - Ấn lại rất khác lạ. Bởi vì, lần đầu tiên Trung Quốc « chuẩn bị » tham chiến bằng một loạt các hành động và biểu dương sức mạnh cực kỳ hiệu quả, đến mức quân đội Ấn Độ chưa ra trận mà đã mẩm chắc là sẽ thua. Năm 1979, « cuộc viễn chinh trừng phạt » Việt Nam lại kết thúc bằng một thất bại ê chề.

Còn cuộc xung đột Trung Quốc – Liên Xô chỉ tóm gọn trong vài trận giao tranh nhỏ, không có quân sự hóa vùng biên giới. Đối với Đài Loan, hòn đảo này trong một thời gian dài, đã tìm cách tiến hành nhiều chiến dịch nhỏ nhắm vào Hoa Lục ; các cuộc va chạm xảy ra nhiều hơn và kéo dài hơn nhưng chưa bao giờ trên quy mô lớn.

Các « định hướng chiến lược » đã có những tiến triển nhiều kể từ năm 1949. Ban đầu, Mao Trạch Đông huy động người dân được trang bị vũ khí – mà thực ra đó là lực lượng bộ binh, trang bị yếu kém và có sự hỗ trợ của lực lượng pháo binh kém cơ động, để đối phó với khả năng quân Mỹ từ biển tấn công vào.

Việc khẳng định một « cuộc chiến tranh nhân dân », đi kèm với những tuyên truyền về « con hổ giấy » nguyên tử (Mỹ), không ngăn cản Người Cầm Lái Vĩ Đại sớm khởi động chương trình hạt nhân và tên lửa đạn đạo. Thậm chí, những ai tham gia vào chương trình này, nhắm đối phó với cả Liên Xô cũng như Mỹ, đều « được tha » trong suốt thời kỳ Đại Nhảy Vọt và Cách Mạng Văn Hóa.

Trên thực tế, Trung Quốc tiến hành song song hai hướng chiến lược. Đối với Liên Xô, Trung Quốc từ chối giao chiến và lập « tuyến phòng thủ thứ ba », nằm sâu trong lãnh thổ nước này. Trái lại, Trung Quốc cho rằng nếu có một cuộc đổ bộ, quân Mỹ và đồng minh có thể không chịu nổi những tổn thất nhân mạng to lớn. Do đó, có chiến lược phòng thủ rõ ràng hướng về phía đông, tập trung bảo vệ Bắc Kinh, và Thượng Hải.

Đa phần các lập luận trên hiện nay của chính phủ Trung Quốc là dựa trên khái niệm phòng thủ này : Giáng cho đối thủ những thiệt hại đến mức cho dù họ có tuyên bố chiến thắng thì « thắng lợi » này cũng đẩy đối thủ vào vị thế bất lợi hơn so với lúc trước khi xảy ra xung đột. Đây chính là kiểu chiến lược răn đe của kẻ yếu đối với kẻ mạnh, giống như chiến lược của nước Pháp.

Đâu là những nguyên tắc chủ chốt của binh pháp Trung Quốc ?

Từ nhiều năm nay, việc tán tụng « binh pháp Trung Quốc », được tóm gọn với cái tên « binh pháp Tôn Tử » rất thịnh hành. Cách nay rất lâu, Tôn Tử có viết một tiểu luận vài trang, và là nguồn gốc của hàng chục ngàn trang luận bàn sau này.

Tiểu phẩm này bao gồm hai lời dạy. Lời thứ nhất đề cập đến những tri thức thông thường về chiến thuật không có gì độc đáo lắm. Lời thứ hai mới thật hấp dẫn và vẫn luôn mang tính thời sự. Xuất phát từ nguyên tắc nên tránh giao chiến và chỉ tiến hành khi nào cầm chắc phần thắng, Tôn Tử chú trọng nhiều vào vai trò của việc thu thập thông tin và phân tích khả năng của đối thủ.

Trên cơ sở này, ông nhấn mạnh đến sự cần thiết « tác động trước » vào đối thủ, dùng mọi cách để làm suy yếu đối phương, nhất là bằng các đòn tâm lý. Giới quân sự Trung Quốc không phải lúc nào cũng áp dụng những lời dạy này, nhất là trong lịch sử, họ phải đối đầu với các cuộc nội chiến nhiều hơn là các cuộc xung đột ở bên ngoài lãnh thổ. Thế nhưng, trong cuộc xung đột Trung - Ấn năm 1962, những điều dạy này lại được thực hiện một cách tuyệt vời.

Tuy nhiên, nền văn hóa rất cổ xưa của Trung Quốc, không chỉ có Tôn Tử. « Ba mươi sáu kế sách » cũng quan trọng không kém. Đó chính là những kinh nghiệm khôn ngoan của nhà nông, dạy cách tay không chống trả một lãnh chúa hùng mạnh. Điều này làm chúng ta nghĩ ngay đến Robin – Thủ lãnh Rừng Xanh trong cuộc đối đầu với lãnh chúa Nottingham. Hơn nữa, ngày nay, ước mong phát triển một loại vũ khí « thần kỳ » vẫn tồn tại. Chính vì thế mà người ta nghĩ đến chiến tranh mạng, các vật thể bay siêu thanh hay nhiều thứ khác nữa.

Vậy thì chúng ta có thể dự đoán thế nào phần tiếp theo của cuộc đối đầu hiện nay giữa Trung Quốc với Mỹ ?

Như chúng ta vừa thấy, các định hướng chiến lược lớn của Trung Quốc dường như chủ yếu dẫn đến thế phòng thủ khi đối mặt với Hoa Kỳ, theo chiến lược răn đe thông thường của kẻ yếu trước kẻ mạnh. Trong một thời gian dài, quả thật đúng như vậy.

Đã có nhiều thay đổi và những thay đổi đó còn đi xa hơn những phát biểu về « tin học hóa » hay cuộc chiến hiện đại. Người ta hay quên, ông Đặng Tiểu Bình, một cựu chỉ huy quân đội, từng xếp quân đội thuộc diện ưu tiên cuối cùng của Nhà nước. Trong cuộc chiến vùng Vịnh, Saddam Hussein từng được trang bị một phần vũ khí của Trung Quốc, nhưng hoàn toàn cổ lỗ, thật sự thua xa các trang thiết bị của liên quân. Giới quân sự Trung Quốc, khi ấy đã lờ mờ ý thức được sự lạc hậu, bắt đầu nói lên những chính sách của của họ, đòi hiện đại hóa quân đội.

Cùng thời điểm đó, đô đốc Lưu Hoa Thanh (Liu Huaqing), một chiến lược gia, đã thực hiện chính sách phát triển hải quân đầy tham vọng và hoàn toàn khác biệt với tất cả những gì Trung Quốc từng làm trước đó trong lĩnh vực này. Dự trù kéo dài trong nhiều thập niên, ông chủ trương – thông qua chiến lược chống tiếp cận, thâm nhập - thiết lập một sự kiểm soát toàn diện đối với các vùng biển rộng lớn, đến tận những vùng lãnh thổ tiền đồn của Mỹ tại Thái Bình Dương.

Thế rồi dần dần người ta mới thấy rõ chiến lược phòng thủ của Trung Quốc ngày càng chuyển sang thế tấn công. Nhất là, sau nhiều thập niên luôn khẳng định rằng Trung Quốc sẽ không bao giờ sử dụng vũ khí hạt nhân đầu tiên, giờ người ta bắt đầu nghe thấy Trung Quốc nói là rất có thể sử dụng loại vũ khí này trước trong trường hợp các lợi ích sống còn của họ bị tổn hại.

Những biến động tại Biển Đông, việc phát triển dự án « chuỗi ngọc » thành « Con đường tơ lụa hàng hải », việc thành lập các căn cứ quân sự ở nước ngoài chứng tỏ Trung Quốc đang từ bỏ chiến lược thuần túy phòng thủ.

Tuy nhiên, trở lại với cuộc đối đầu Mỹ - Trung, nhìn từ phía Trung Quốc, Bắc Kinh vẫn còn trong trạng thái răn đe của kẻ yếu trước kẻ mạnh. Và như mọi chiến lược răn đe khác, chiến lược này chỉ sẽ thành công nếu như không xẩy ra xung đột.

24 Tháng Sáu 2013(Xem: 9750)
Các thể chế chính trị trên thế giới có thể được hình thành bằng những cách thức khác nhau và mang những tính chất khác nhau.
24 Tháng Sáu 2013(Xem: 8848)
Vào lúc 3 giờ 30 chiều ngày Thứ Năm, 13 tháng 6 năm 2013, phái đoàn đảng Việt Tân gồm ông Tổng Bí Thư Lý Thái Hùng, Bác sĩ Nguyễn Đỗ Thanh Phong và ông Nguyễn Tấn Anh đã có một cuộc gặp gỡ và trao đổi về tình hình nhân quyền tại Việt Nam với ông Tổng Trưởng Ngoại Giao Úc, Thượng Nghị Sĩ Bob Carr tại văn phòng chính phủ tại thành phố Sydney.
24 Tháng Sáu 2013(Xem: 9722)
Hoạt động thường niên của giới vận động dân chủ người Việt mang tên Họp Mặt Dân Chủ vừa được tổ chức tại Hà Lan.
11 Tháng Sáu 2013(Xem: 10956)
Bài phát biểu của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tại diễn đàn Shangri-La vừa qua đánh dấu một chuyển biến trong quan hệ đối ngoại của Việt Nam và vẫn đòi hỏi có thêm các đánh giá đúng mức sau nhiều bình luận khen chê trong và ngoài nước.
28 Tháng Năm 2013(Xem: 12969)
Những định nghĩa pháp lý cho các chính thể Việt trong cuộc chiến chấm dứt ngày 30/4/1975 có vai trò quan trọng cho lập luận của Việt Nam về chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Sự quan trọng này không chỉ vì công hàm 1958 của Thủ tướng Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (VNDCCH) Phạm Văn Đồng, mà còn vì Hà Nội đã không khẳng định chủ quyền đối với Hoàng Sa, Trường Sa từ năm 1954 đến 1975-1976.
23 Tháng Năm 2013(Xem: 9665)
Trong số báo kỳ này, ban biên tập đưa ra đề tài: Cộng Đồng Việt Nam Tị Nạn Hải Ngoại có cần, không cần, hay nửa cần nửa không tham dự vào việc sửa lại Hiến Pháp của nước CHXHCNVN. Đề tài này hiện nay đang tạo nhiềy ý kiến sôi nổi ở trong nước, nhưng ở hải ngoại, ngoài một vài chỉ dấu hạn hẹp (thường là nhận thấy trên một số khẩu hiệu, băng rôn trong các buổi mít tinh) hầu như không thấy có cuộc hội thảo, bàn luận, hay một tổ chức chính trị nào chính thức đưa ra trong các hội luận, diễn đàn mang tính cách công cộng quần chúng.
23 Tháng Năm 2013(Xem: 9705)
Vấn đề sửa đổi Hiến pháp Việt Nam không chỉ gây sôi nổi dư luận người Việt trong và ngoài nước, mà còn thu hút sự quan tâm của các chuyên gia và tổ chức nước ngoài. Trong tạp chí Việt Nam trong dòng thời sự hôm nay, chúng tôi xin giới thiệu ý kiến của ông Jonathan London, giáo sư Đại học Hồng Kông và những khuyến cáo của tổ chức bảo vệ quyền tự do ngôn luận của Anh quốc, mang tên Điều 19.
23 Tháng Năm 2013(Xem: 10829)
Sở dĩ có tên Kiến nghị 72 là vì có 72 người đứng tên trong danh sách đầu tiên ký vào Kiến nghị, bao gồm nhiều nhân sỹ trí thức được nhiều người biết đến như Nhà văn Nguyên Ngọc, Giáo sư Tương Lai, Thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh, Tiến sỹ Lê Đăng Doanh, Tiến sỹ Nguyễn Quang A...
23 Tháng Năm 2013(Xem: 11278)
“Cái mà người ta mong đợi là có nói đến Điều 4 nhưng họ không đụng gì đến cái đó cả,” ông than phiền. Ông cũng giải thích rằng hiện thời ở Việt Nam chưa đủ ‘thời cơ’ để tiến tới tự do chính trị, đa đảng phái, dân chủ hoặc đối lập. Điều 4 của bản Hiến pháp, vốn là nền tảng cho quyền lực của Đảng Cộng sản ở Việt Nam, đã bị những người chỉ trích nhận xét là không dân chủ và yêu cầu bãi bỏ.
23 Tháng Năm 2013(Xem: 9553)
Ông Nguyễn Đình Lộc xuất hiện trong chương trình Thời sự nói về lấy ý kiến đóng góp sửa đổi Hiến pháp Cựu Bộ trưởng Tư pháp Nguyễn Đình Lộc vừa gây tranh cãi khi phát biểu trên Truyền hình Việt Nam phủ nhận vai trò trong kiến nghị về sửa đổi Hiến pháp của các trí thức, còn gọi là Kiến nghị 72. Hôm 4/2, ông Lộc đã dẫn đầu đoàn 15 nhân sỹ trí thức tới trao kiến nghị cho đại diện Ủy ban Pháp luật của Quốc hội.
23 Tháng Năm 2013(Xem: 10435)
Ngày 22/03/2013, đài truyền hình Việt Nam chiếu một đoạn phỏng vấn cựu Bộ trưởng Tư pháp Nguyễn Đình Lộc, nói về việc ông ký vào bản kiến nghị sửa đổi Hiến pháp do 72 nhân sĩ trí thức khởi xướng ngày 19/01/2013 và về việc ông làm trưởng đoàn đi trình bản kiến nghị này cho Uỷ ban dự thảo sửa đổi Hiến pháp ngày 04/02/2013.
23 Tháng Năm 2013(Xem: 9529)
Việc đóng góp ý kiến vào bản dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992 đang dần dần trở thành một phong trào đòi dân chủ ở Việt Nam, mà đi đầu là giới trí thức. Đó là nhận định chung của giáo sư Tương Lai, nguyên Viện trưởng Viện Xã hội học Việt Nam, trong bài trả lời phỏng vấn RFI Việt ngữ.
23 Tháng Năm 2013(Xem: 13233)
Những người kiến nghị cho rằng dự thảo hiến pháp hiện đang được trưng cầu ý kiến "chưa thấu suốt bản chất của một hiến pháp dân chủ, chưa thể hiện sự tin cậy, tín nhiệm của nhân dân với chính quyền theo tinh thần thỏa thuận kiến tạo một môi trường có sự kiểm soát bên trong và bên ngoài đối với quyền lực".
23 Tháng Năm 2013(Xem: 11247)
Giữa tháng 04/2013, một loạt các đề xuất sửa đổi Hiến pháp 1992 đã được Ban biên tập soạn thảo tiếp thu, trong đó có phương án đổi lại tên nước thành Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Trong phiên khai mạc kỳ họp Quốc hội hôm qua 20/05, việc đổi tên nước đã đột ngột bị loại khỏi văn bản dự thảo.