21/07/1899: Ngày sinh Ernest Hemingway

23 Tháng Bảy 20198:57 CH(Xem: 362)
VĂN HÓA ONLINE - VĂN HỌC NGHỆ THUẬT - THỨ TƯ 24 JULY 2019

21/07/1899: Ngày sinh Ernest Hemingway

image021 
Nguồn: Ernest Hemingway is born, History.com

Biên dịch: Nguyễn Thị Kim Phụng

Vào ngày này năm 1899, Ernest Miller Hemingway – tác giả của những tiểu thuyết nổi tiếng như Chuông Nguyện Hồn Ai (For Whom the Bell Tolls) hay Ông già và Biển cả (The Old Man and the Sea) – đã chào đời tại Oak Park, Illinois. Biểu tượng văn học của nước Mỹ được biết đến với lối viết thẳng thắn, khéo léo vận dụng nói giảm nói tránh. Hemingway, người đã lựa chọn những chủ đề như đấu bò và chiến tranh cho tác phẩm của mình, còn trở nên nổi tiếng bởi tính cách trượng phu, ưa nhậu nhẹt của mình.

Khi còn là một cậu bé, Hemingway – con thứ hai trong số sáu người con của bác sĩ Clarence Hemingway và nhạc sĩ Grace Hall Hemingway – đã được học cách câu cá và săn bắn, và sau này cậu sẽ theo đuổi niềm đam mê ấy suốt đời. Sau khi tốt nghiệp Trung học Oak Park and River Forest vào năm 1917, cậu vào làm phóng viên cho tờ Kansas City Star ở Missouri. Năm sau, khi đang là tình nguyện viên lái xe cứu thương cho Hội Chữ thập Đỏ ở Ý trong Thế chiến I, Hemingway bị thương vì trúng đạn súng cối và đã phải mất nhiều tháng để hồi phục.

Trong thập niên 1920, Hemingway sống ở Paris, Pháp, và là thành viên của một nhóm các nhà văn và nghệ sĩ nước ngoài bao gồm F. Scott Fitzgerald, Gertrude Stein và Ezra Pound. Năm 1925, Hemingway xuất bản tập truyện ngắn đầu tiên tại Mỹ, tiếp theo là tiểu thuyết đầu tay được đón nhận nồng nhiệt Mặt trời vẫn mọc (The Sun Also Rises, 1926) viết về một nhóm người Mỹ và Anh sinh sống ở nước ngoài trong những năm 1920 trên đường đi từ Paris đến Pamplona, Tây Ban Nha, để xem đấu bò.

Năm 1929, Hemingway – khi ấy đã rời châu Âu và chuyển đến Key West, Florida – xuất bản cuốn Giã từ Vũ khí (A Farewell to Arms), nói về một lính Mỹ lái xe cứu thương ở mặt trận Ý trong Thế chiến I và tình yêu của anh với một y tá người Anh xinh đẹp. Năm 1932, cuốn sách phi hư cấu của ông, Chết lúc xế chiều (Death in the Afternoon) về trò đấu bò ở Tây Ban Nha, đã được phát hành. Nó được tiếp nối vào năm 1935 bởi một tác phẩm phi hư cấu khác, Đồi xanh châu Phi (Green Hills of Africa) về một chuyến đi khám phá thiên nhiên hoang dã của Hemingway ở Đông Phi vào đầu thập niên 1930. Vào cuối thập niên này 1930, Hemingway đã tới Tây Ban Nha để làm phóng viên tường thuật về cuộc nội chiến, sau đó, ông cũng dành thời gian sống ở Cuba. Năm 1937, ông xuất bản cuốn Có và Không (To Have and Have Not), tiểu thuyết về một thuyền trưởng tàu đánh cá bị buộc phải buôn hàng lậu trên hải trình giữa Key West và Cuba.

Năm 1940, câu chuyện nổi tiếng Chuông Nguyện Hồn Ai, nói về một người Mỹ trẻ tuổi chiến đấu với một nhóm du kích trong nội chiến Tây Ban Nha, đã được lên kệ. Sau đó, Hemingway tiếp tục làm phóng viên chiến trường ở châu Âu trong Thế chiến II và phát hành tiểu thuyết Qua Sông Vào Rừng (Across the River and into the Trees, 1950.)

Tác phẩm quan trọng cuối cùng của Hemingway được xuất bản khi ông còn sống là Ông già và Biển cả (1952), tiểu thuyết về một ngư dân Cuba già nua, đồng thời là một câu chuyện ngụ ngôn về cuộc đấu tranh của chính nhà văn, nhằm bảo vệ nghệ thuật của ông trước sự nổi tiếng. Hemingway đã trở thành một nhân vật với bốn cuộc hôn nhân, cùng những trò phiêu lưu mạo hiểm khi săn bắn và câu cá thường xuyên xuất hiện trên trang nhất nhiều tờ báo. Nhưng bất chấp sự nổi tiếng của mình, ông đã không viết bất kỳ tác phẩm văn học lớn nào suốt 10 năm trước khi ra mắt Ông già và Biển cả. Cuốn sách đã thắng Giải Pulitzer năm 1953, còn bản thân Hemingway thì giành Nobel Văn chương năm 1954.

Sau khi sống sót sau hai vụ tai nạn máy bay ở châu Phi vào năm 1953, Hemingway dần rơi vào vòng xoáy lo âu và chán nản. Ngày 02/07/1961, ông tự sát bằng một khẩu súng ngắn tại nhà ở Ketchum, Idaho. (Cha ông – Clarence – đã tự sát vào năm 1928.)

Ba tiểu thuyết của Hemingway được phát hành sau khi ông qua đời là Quần đảo giữa dòng (Islands in the Stream, 1970), Vườn địa đàng (The Garden of Eden, 1986) và Chuyện thật ở First Light (True at First Light, 1999); ngoài ra còn có cuốn hồi ký trong Hội hè miên man (A Moveable Feast, 1964), trong đó, ông viết về thời gian ở Paris trong thập niên 1920.

25 Tháng Mười Một 2018(Xem: 1021)