Sự thật về ba bức thư của Đạt Lai Lạt Ma

04 Tháng Tám 20198:40 CH(Xem: 1479)

Sự thật về ba bức thư của Đạt Lai Lạt Ma

Nguồn: Nghiencuuquocte.org

image007

Tác giả: Nguyễn Đăng Hòa

Hồi ký của Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 14 có tên “My Land and People” (Quốc Thổ và Quốc Dân tôi) do Chánh Quang dịch và đăng trên Tạp chí Từ Quang số 182 (tháng 10-1967). Bài viết chỉ gồm 6 trang nhưng đã cho thấy nhiều minh chứng về một số sự kiện liên quan đến việc Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa tổ chức đánh Tây Tạng  bằng vũ lực vào năm 1950, mặc dù chính quyền Trung Quốc cho là họ giải phóng hòa bình Tây Tạng, hay hợp nhất Tây Tạng. Sau đó khoảng 9 năm, một lần nữa vấn đề Tây Tạng lại bùng phát và lần này thì bi kịch xảy ra: Tây Tạng bị chiếm đóng vào năm 1959 và Đức Đạt Lai Lạt Ma cùng Chính phủ của ông và dân chúng phải lưu vong ra nước ngoài. Trước biến cố này, Ngài có viết ba bức thư cho tướng Tan Kuan-san, quyền đại diện của Chính phủ trung ương Trung Quốc tại Tây Tạng và là chính ủy của Quân khu Tây Tạng.[1]

Nay chúng tôi xin trình bày lại các bức thư để bạn đọc hiểu thêm vấn đề này, qua đó cũng cho ta thấy rõ tâm trạng của Đạt Lai Lạt Ma trước sự an nguy của quốc dân của ông.

Trong các tác phẩm cổ văn của Tây Tạng, quốc gia này thường có tên gọi “Khawachen”, có nghĩa là “Xứ Tuyết” hay “Sildanjong”, có nghĩa là “Vùng đất khí hậu lạnh”. Tây Tạng được thế giới xem như một quốc gia xa xôi ở Trung Á, ít người lui tới vì quanh năm xứ này được bao bọc bởi các núi tuyết. Tây Tạng có thủ đô là Lhasa (Lạp Tát), năm đó có dân số 40.000 trên tổng số dân Tây Tạng là 6 triệu, trong đó có khoảng 18% là nhà sư và 2% là ni cô. Thời xa xưa, Phật giáo từ Ấn Độ bắt đầu du nhập vào Tây Tạng, đặc biệt là vào khoảng nửa đầu thế kỷ thứ 7 dưới triều vua Songtsen Gampo (605-650). Theo truyền thuyết, người ta tin rằng nhà Vua là hóa thân của đức Quan Thế Âm Bồ Tát và là vị vua ủng hộ  Phật giáo đầu tiên ở Tây Tạng. Nhà vua đặt ra 16 điều răn đạo đức khuyên dân chúng thực hành theo, đã kiến lập thủ đô Lhasa và xây dựng nhiều chùa khắp nơi trong nước. Phật giáo Tây Tạng phát triển từ đó.

Sau khi chiếm chính quyền tại trung ương, ngày 07/10/1950, quân đội Trung cộng bắt đầu mở cuộc tấn công sáu mặt vào lãnh thổ Tây Tạng. Khi ấy đức Đạt Lai Lạt Ma đời thứ 14 –Tenzin Gyatso – mới 15 tuổi. Tháng 1 năm 1951, Đạt Lai Lạt Ma gửi thư cho Chính phủ Bắc Kinh, trong thư nói “Tôi lần này tiếp nhận yêu cầu chấp chính nhiệt liệt và thành khẩn của toàn thể nhân dân Tây Tạng”, “quyết định đạt được hòa bình như nguyện vọng của nhân dân”, phái đại biểu “đến Chính phủ nhân dân trung ương mưu cầu giải quyết vấn đề Tây Tạng”.

Ngày 07/11/1950, Ngài gửi thư nhờ Liên Hiệp Quốc can thiệp giúp đỡ, nhưng  lời yêu cầu của Ngài không được đáp ứng. Cùng lúc, đức Đạt Lai Lạt Ma cũng gửi công hàm cho chính quyền Trung Quốc nhắc lại tình hữu nghị xưa nay giữa hai nước và yêu cầu họ rút quân khỏi Tây Tạng cũng như giao trả các tù binh Tây Tạng bị bắt. Nhưng chính phủ Trung Quốc làm ngơ. Điều này cho thấy, vào thời điểm đó Ngài xem Trung Hoa và Tây Tạng là hai quốc gia với hai chính phủ riêng biệt.

Dưới áp lực quân sự của Trung cộng, nhận thấy không đủ sức đương đầu về mặt quân sự, nên chính phủ Tây Tạng buộc lòng phải gửi phái đoàn sang Bắc Kinh nghị hòa ký hiệp ước gồm 17 điều vào ngày 23/05/1951; sau đó nhà cầm quyền Trung Quốc đã không giữ đúng hoàn toàn tất cả những điều cam kết đã ký.

Năm 1951, khoảng 6.000 quân Trung Cộng tiến vào chiếm thủ đô Lhasa. Trong năm này, quân đội Trung Quốc áp đặt một Thỏa ước gồm 17 điểm cho Tây Tạng và thực tế tiến hành cách mạng vô sản theo kiểu Mao trên hai tỉnh Kham và Chamdo ở miền Đông.

Tháng 2 năm 1951, Đạt Lai Lạt Ma lệnh cho Ngapoi Ngawang Jigme đứng đầu làm đại biểu toàn quyền, cùng với bốn đại biểu Khemey Sonam Wangdi, Thuptan Tenthar, Thuptan Lekmuun và Samposey Tenzin Thondup đến Bắc Kinh toàn quyền xử lý vấn đề đàm phán với Chính phủ nhân dân trung ương.

Trung cộng tiến hành chính sách Cải cách ruộng đất tại đây, đến cuối năm 1955 tình hình lại càng tồi tệ hơn.

Hè năm 1956, đức Đạt Lai Lạt Ma được Hội Ma Ha Bồ Đề mời qua dự lễ Phật Đản năm 2500 tại Ấn Độ. Trong lúc Ngài vắng mặt, nhiều cuộc xung đột đã xảy ra giữa quân đội Trung Quốc và Tây Tạng.

Cuối năm 1956, dân chúng Tây Tạng bắt đầu ồ ạt bỏ nước ra đi tỵ nạn. Đầu năm 1957, quân đội giải phóng Tây Tạng chiến đấu anh dũng đã lấy lại được một số cứ điểm do Trung cộng chiếm đóng trước kia,

Quân đội Trung cộng đã pháo kích, ném bom, phá hủy các làng mạc, chùa chiền khắp nơi. Nhiều dân lành Tây Tạng bị tra tấn, sát hại. Những nông dân nào tỏ ý chống đối chính quyền Trung Quốc, con gái của họ từ 13 đến 20 tuổi bị cưỡng bức lõa thể đi diễu hành ngoài đường phố, các ni cô Tây Tạng bị lính Trung cộng hãm hiếp tập thể, hoặc bộ đội Trung Quốc dùng súng, lưỡi lê cưỡng bức các nhà sư và ni cô lấy nhau trước mặt họ. Nạn nhân đôi khi bị tra tấn bằng cách lột da sống. Chồng bị tàn sát trước mặt vợ; các phụ nữ và con gái bị cưỡng hiếp và bắn chết trước sự chứng kiến của thân nhân. Trẻ con Tây Tạng bị bắt buộc cầm súng bắn giết cha mẹ.

Cuối năm 1958, dân chúng Tây Tạng nổi dậy chống Trung Quốc khắp nơi.

Trong thời gian này tướng Tan Kuan-san có liên lạc với Ngài và Ngài đã hồi âm bằng 3 lá thư đề ngày 11 và 12/03/1959. Theo Đạt Lai Lạt Ma:[2]

“ …Trong bức thư thứ nhất, tôi nói cùng ông (Tướng Tan Kuan San), thật tôi bối rối biết bao trước hành vi thù địch của quần chúng đối với việc nhà cầm quyền Trung Hoa (CS) thỉnh mời tôi.

Bức thư thứ nhì, tôi báo tin ông hay tôi đã truyền lệnh cho quần chúng giải tán và, đồng ý với ông, tôi nhận thấy vì muốn bảo vệ tôi, quần chúng chỉ làm phương hại cho sự giao hảo giữa Trung Hoa và Chính Phủ Tây Tạng.

Trong bức thư thứ ba, tôi ngỏ ý muốn giải quyết sự tranh chấp giữa phe đồng bào tôi phản đối việc tôi ưng thuận đến trại của Trung Hoa, với phe tán thành việc ấy.

Tôi thú thật rằng, nếu tôi đoán biết sau này họ lợi dụng mấy bức thư để chống đối tôi, tôi cũng vẫn gởi vì lúc ấy tôi rất muốn và thấy có phận sự lớn lao ngăn ngừa cuộc xung đột giữa dân Tây Tạng và lực lượng Trung Hoa.

Tôi lập lại rằng tôi quả quyết bao giờ cũng trung thành với lý tưởng bất bạo động và, như thế, tôi không tán thành thái độ hung hăng của dân chúng Lạp- Tát, mặc dù tôi nhận đúng giá trị tình thương mến của họ đối với tôi và tình thương đó chứng minh cho cuộc toàn dân khởi nghĩa”.

“Bởi vậy cho nên, với tất cả thành thật, ngày ấy tôi đã kêu gọi chúng dân bình tĩnh, và tuy mấy bức thư tôi gởi cho tướng lĩnh Trung Hoa có mục đích che đậy ý muốn thật sự của tôi, ngày nay tôi cũng cho rằng thơ ấy hoàn toàn chính đáng.”

Sau này Trung cộng công bố mấy bức thư này và nói rằng Ngài “đã cố sức đến ẩn náu trong Tổng hành dinh Trung cộng “và Ngài đã bị những kẻ mà họ gọi là “bè đảng phản động”  cầm giữ trong Đền Norbulinka, để sau cùng buộc Ngài phải tỵ nạn qua Ấn Độ, trái với ý muốn của Ngài.

Trong hồi ký của mình Ngài nói rõ: “Một lần nữa, tôi cũng sẽ minh xác việc tôi đã tự ý rời khỏi Lạp-Tát. Tự tôi quyết định như thế vì tánh cách thất vọng của tình hình. Tôi không bị áp lực bởi một ngoại bang nào, tôi không bị cận thần tôi bắt đi, và nếu đồng bào tôi cố nài xin tôi ra đi là vì thấu rõ dã tâm Trung Hoa sắp oanh tạc Tòa Đền, nếu tôi ở lại Kinh Đô, có thể tôi bị nguy tánh mạng”.

Tôi quả quyết vị tướng Trung Hoa không hề ép buộc tôi phải nhận lời mời của ông ta, tôi không bị nguy hiểm gì đe dọa và tôi yêu cầu mấy thủ lĩnh không nên gây ra một tình trạng có thể sanh hậu quả tai hại…..

…..Sau cùng họ (các vị lãnh đạo nhân dân Tây Tạng lúc đó) ưng thuận không nhóm họp trong Đền Norbulinka nữa, nhưng lại tổ chức nhiều cuộc mít tinh trong làng Shol, dưới chân Đền Potala, và sau mỗi phiên nhóm họp sẽ phúc trình tôi rõ. Theo các phúc trình này, tình hình thay đổi: Nhân dân tiếp tục bảo vệ tôi và họ buộc người Trung Hoa rời khỏi Lạp-Tát và Tây Tạng, để cho người Tây Tạng tự quản trị việc xứ sở họ.”

Tôi nhận được bức thư cuối cùng của tướng Tan Kuan-san vào buổi sớm ngày 16-3 và tôi đã phúc đáp cùng ngày ấy.”

Ngày 10/03/1959, quân đội Trung cộng bắt đầu đánh vào Tây Tạng; ngày 16/03/1959 đức Đạt Lai Lạt Ma được tin quân đội Trung Cộng đang chuẩn bị pháo kích cung điện Potala ở Lhasa. Đây cũng là ngày mà Đức Đạt Lai Lạt Ma hồi âm bức thư thứ ba, bức thư cuối cùng của sự kiện này.

Để tiếp tục lãnh đạo cuộc tranh đấu giải phóng đất nước, Ngài đã quyết định cùng với một số thân quyến, các vị bộ trưởng trong chính phủ và dân chúng rời khỏi Tây Tạng ngay trong đêm ấy.

Theo một tư liệu, “cuộc nổi dậy tháng 3 năm 1959 ở Lhasa bùng nổ từ những nỗ lo ngại về một âm mưu bắt cóc Dalai Lama và đưa ông đến Bắc Kinh. Khi các quan chức quân đội Trung cộng mời ông đến thăm trụ sở của họ để xem kinh kịch và uống trà, ông được bảo là phải đến một mình, và không vệ sĩ hay nhân viên quân sự Tây Tạng nào được phép đi qua ranh giới khu trụ sở.”[3]

Thật ra, trong hồi ký của mình, Ngài cũng đã viết: “Nếu quả thật như vậy, tôi sẽ bị nguy to, vì Trung Hoa sẽ dùng những biện pháp nghiêm khắc đặng ngăn cản tôi đào tẩu”.

Qua các dữ kiện trên cho thấy từ những năm 1950, Đức Đạt Lai Lạt Ma đã có thái độ ôn hòa, mong muốn hợp tác cùng chính quyền Trung cộng trên tình thần bảo vệ đạo Pháp và tự do hành đạo tại Lhasa, mọi hành động trước đó của chính quyền Tây Tạng đều trên tình thần bất bạo động. Nhưng do những chính sách đàn áp của Trung cộng, và sau này là hành động tàn sát giáo dân, nông dân, mà tình hình chống đối ngày càng bùng phát. Thực hiện chính sách cải cách ruộng đất tại vùng này, Trung Hoa đã phá tan cơ cấu của Chính phủ tự trị Tây Tạng, phá nát cơ cấu giáo hội. Trước an nguy quốc gia, để xoa dịu tình hình, để kéo dài thời gian, cố tìm con đường hòa giải khác, Ngài đã gởi (hồi âm) đến tướng Tan Kuan-san bằng 3 lá thư nêu trên, chứng tỏ ý muốn khoan nhượng để tìm lối thoát chứ không vì thái độ cầu an của Ngài. Việc nhà chức trách Trung cộng công bố 3 bức thư đó là nhằm xuyên tạc ý định của Ngài.

————–

[1] Nội dung bản dịch tiếng Anh ba bức thư do Tân Hoa Xã công bố có tại: http://www.bjreview.com/special/tibet/txt/2008-05/08/content_115524.htm

[2] Trích “ Quốc thổ và Quốc dân tôi”, Chánh Quang dịch, đăng trên Tạp chí Từ Quang số 182-tháng 10 năm 1967. Những dòng in nghiêng được trích lại theo lời dịch của Chánh Quang.

[3] Theo “10/03/1959: Cuộc nổi dậy Tây Tạng bùng nổ”, Nghiencuuquocte.org, 10/03/2016.


++++++++++++++++++++++++++++++

XEM THÊM:

Trung Quoc da phat hanh phan mem van phong ngon ngu Tay Tang dau tien tren the gioi. Day la no luc nham tao thuan loi cho nguoi Tay Tang su dung may tinh.

Phan mem dau tien bang tieng Tay Tang

ICTnews - Trung Quoc da phat hanh phan mem van phong ngon ngu Tay Tang dau tien tren the gioi. Day la no luc nham tao thuan loi cho nguoi Tay Tang su dung may tinh.

Tieng Tay Tang duoc 5 trieu nguoi o Tay Tang va cac tinh lan can su dung nhu mot ngon ngu hang ngay.

Phan mem moi mang ten “Neo-shine Tibet Office 3.0” duoc phat trien hop tac giua Tap doan phan mem Chuan Trung Quoc (CSCC) va truong dai hoc Tay Tang. Ong Chen Ying, mot quan chuc cua Bo Cong nghiep Thong tin Trung Quoc, cho biet phan mem nay se giup phat trien nganh cong nghiep thong tin cua Tay Tang.

Han Nai Ping, Giam doc cua CSCC, noi cac truong hoc o Tay Tang se duoc lap dat phan mem nay. “Phan mem nay dung hang dau the gioi boi cac nha lap trinh da xu ly nhung kho khan cong nghe, nhu nhap ma ngon ngu Tay Tang”.

Phan mem van phong Tay Tang duoc cho la se thay the phan mem Microsoft Office tung duoc dung rat rong rai tai cac khu vuc noi tieng Tay Tang. Hon 5 trieu nguoi o Tay Tang va cac tinh lan can su dung tieng Tay Tang nhu mot ngon ngu hang ngay.

Theo Bo Cong nghiep Thong tin, cac cong ty Trung Quoc cung phat trien 12 san pham phan mem Tay Tang khac, bao gom “STAR Tibetan danh cho Windows 2000/XP" va “He dieu hanh Tay Tang danh cho Linux”. Nhung san pham nay se duoc tung ra thi truong trong cuoi nam nay.

Cac nha lap trinh hien dang xay dung cac san pham phan mem bang tieng Trieu Tien, Mong Co va tieng Tho.

V.N / Theo Xinhua

VietBao.vn (Theo_Ictnews )

28 Tháng Bảy 2013(Xem: 9151)
Trong hơn 20 năm nối lại quan hệ ngoại giao bình thường từ sau khi Tổng Thống Bill Clinton bãi bỏ cấm vận đối với nhà cầm quyền CSVN vào năm 1995, Tòa Bạch Ốc đã đón tất cả 4 nhân vật cao cấp của Hà Nội gồm: ông Phan Văn Khải, ông Nguyễn Minh Triết, ông Nguyễn Tấn Dũn, và lần này là ông Trương Tấn Sang.
26 Tháng Sáu 2013(Xem: 9766)
Tình hình chính trị ở Việt Nam đang đòi hỏi cấp bách một tổ chức chính trị, để thoát khỏi tình trạng độc đảng lạc hậu và tệ hại cho dân cho nước.
26 Tháng Sáu 2013(Xem: 12017)
Về việc đảng Cộng sản Việt Nam (CSVN) sửa đổi Hiến Pháp, Họp Mặt Dân Chủ (HMDC) tuyên bố trước dư luận trong ngoài nước những quan điểm sau đây
24 Tháng Sáu 2013(Xem: 10714)
Cần lưu ý quý bạn là tình hình rồi ra ngày càng trở nên phức tạp, xin hãy cẩn trọng theo sát tình hình thế giới để biết cụ thể những gì sẽ sảy ra cho thế giới và đất nước.
24 Tháng Sáu 2013(Xem: 10155)
Lịch sử Việt Nam trong hơn nửa thế kỷ qua cho thấy chế độ nào cũng có người bất đồng với chính sách của lãnh đạo. Nhưng cách nhà cầm quyền đối xử với thành phần đối lập nhiều khi rất thô bạo, thiếu tính văn minh và dân chủ.
24 Tháng Sáu 2013(Xem: 9769)
Vấn đề sửa đổi Hiến pháp Việt Nam không chỉ gây sôi nổi dư luận người Việt trong và ngoài nước, mà còn thu hút sự quan tâm của các chuyên gia và tổ chức nước ngoài. Trong tạp chí Việt Nam trong dòng thời sự hôm nay, chúng tôi xin giới thiệu ý kiến của ông Jonathan London, giáo sư Đại học Hồng Kông và những khuyến cáo của tổ chức bảo vệ quyền tự do ngôn luận của Anh quốc, mang tên Điều 19.
24 Tháng Sáu 2013(Xem: 10961)
Các thể chế chính trị trên thế giới có thể được hình thành bằng những cách thức khác nhau và mang những tính chất khác nhau.
24 Tháng Sáu 2013(Xem: 9879)
Vào lúc 3 giờ 30 chiều ngày Thứ Năm, 13 tháng 6 năm 2013, phái đoàn đảng Việt Tân gồm ông Tổng Bí Thư Lý Thái Hùng, Bác sĩ Nguyễn Đỗ Thanh Phong và ông Nguyễn Tấn Anh đã có một cuộc gặp gỡ và trao đổi về tình hình nhân quyền tại Việt Nam với ông Tổng Trưởng Ngoại Giao Úc, Thượng Nghị Sĩ Bob Carr tại văn phòng chính phủ tại thành phố Sydney.
24 Tháng Sáu 2013(Xem: 11001)
Hoạt động thường niên của giới vận động dân chủ người Việt mang tên Họp Mặt Dân Chủ vừa được tổ chức tại Hà Lan.
11 Tháng Sáu 2013(Xem: 12552)
Bài phát biểu của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tại diễn đàn Shangri-La vừa qua đánh dấu một chuyển biến trong quan hệ đối ngoại của Việt Nam và vẫn đòi hỏi có thêm các đánh giá đúng mức sau nhiều bình luận khen chê trong và ngoài nước.
28 Tháng Năm 2013(Xem: 14348)
Những định nghĩa pháp lý cho các chính thể Việt trong cuộc chiến chấm dứt ngày 30/4/1975 có vai trò quan trọng cho lập luận của Việt Nam về chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Sự quan trọng này không chỉ vì công hàm 1958 của Thủ tướng Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (VNDCCH) Phạm Văn Đồng, mà còn vì Hà Nội đã không khẳng định chủ quyền đối với Hoàng Sa, Trường Sa từ năm 1954 đến 1975-1976.
23 Tháng Năm 2013(Xem: 10921)
Trong số báo kỳ này, ban biên tập đưa ra đề tài: Cộng Đồng Việt Nam Tị Nạn Hải Ngoại có cần, không cần, hay nửa cần nửa không tham dự vào việc sửa lại Hiến Pháp của nước CHXHCNVN. Đề tài này hiện nay đang tạo nhiềy ý kiến sôi nổi ở trong nước, nhưng ở hải ngoại, ngoài một vài chỉ dấu hạn hẹp (thường là nhận thấy trên một số khẩu hiệu, băng rôn trong các buổi mít tinh) hầu như không thấy có cuộc hội thảo, bàn luận, hay một tổ chức chính trị nào chính thức đưa ra trong các hội luận, diễn đàn mang tính cách công cộng quần chúng.
23 Tháng Năm 2013(Xem: 11210)
Vấn đề sửa đổi Hiến pháp Việt Nam không chỉ gây sôi nổi dư luận người Việt trong và ngoài nước, mà còn thu hút sự quan tâm của các chuyên gia và tổ chức nước ngoài. Trong tạp chí Việt Nam trong dòng thời sự hôm nay, chúng tôi xin giới thiệu ý kiến của ông Jonathan London, giáo sư Đại học Hồng Kông và những khuyến cáo của tổ chức bảo vệ quyền tự do ngôn luận của Anh quốc, mang tên Điều 19.
23 Tháng Năm 2013(Xem: 12289)
Sở dĩ có tên Kiến nghị 72 là vì có 72 người đứng tên trong danh sách đầu tiên ký vào Kiến nghị, bao gồm nhiều nhân sỹ trí thức được nhiều người biết đến như Nhà văn Nguyên Ngọc, Giáo sư Tương Lai, Thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh, Tiến sỹ Lê Đăng Doanh, Tiến sỹ Nguyễn Quang A...
23 Tháng Năm 2013(Xem: 12514)
“Cái mà người ta mong đợi là có nói đến Điều 4 nhưng họ không đụng gì đến cái đó cả,” ông than phiền. Ông cũng giải thích rằng hiện thời ở Việt Nam chưa đủ ‘thời cơ’ để tiến tới tự do chính trị, đa đảng phái, dân chủ hoặc đối lập. Điều 4 của bản Hiến pháp, vốn là nền tảng cho quyền lực của Đảng Cộng sản ở Việt Nam, đã bị những người chỉ trích nhận xét là không dân chủ và yêu cầu bãi bỏ.
23 Tháng Năm 2013(Xem: 10756)
Ông Nguyễn Đình Lộc xuất hiện trong chương trình Thời sự nói về lấy ý kiến đóng góp sửa đổi Hiến pháp Cựu Bộ trưởng Tư pháp Nguyễn Đình Lộc vừa gây tranh cãi khi phát biểu trên Truyền hình Việt Nam phủ nhận vai trò trong kiến nghị về sửa đổi Hiến pháp của các trí thức, còn gọi là Kiến nghị 72. Hôm 4/2, ông Lộc đã dẫn đầu đoàn 15 nhân sỹ trí thức tới trao kiến nghị cho đại diện Ủy ban Pháp luật của Quốc hội.
23 Tháng Năm 2013(Xem: 11732)
Ngày 22/03/2013, đài truyền hình Việt Nam chiếu một đoạn phỏng vấn cựu Bộ trưởng Tư pháp Nguyễn Đình Lộc, nói về việc ông ký vào bản kiến nghị sửa đổi Hiến pháp do 72 nhân sĩ trí thức khởi xướng ngày 19/01/2013 và về việc ông làm trưởng đoàn đi trình bản kiến nghị này cho Uỷ ban dự thảo sửa đổi Hiến pháp ngày 04/02/2013.
23 Tháng Năm 2013(Xem: 10780)
Việc đóng góp ý kiến vào bản dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992 đang dần dần trở thành một phong trào đòi dân chủ ở Việt Nam, mà đi đầu là giới trí thức. Đó là nhận định chung của giáo sư Tương Lai, nguyên Viện trưởng Viện Xã hội học Việt Nam, trong bài trả lời phỏng vấn RFI Việt ngữ.
23 Tháng Năm 2013(Xem: 14672)
Những người kiến nghị cho rằng dự thảo hiến pháp hiện đang được trưng cầu ý kiến "chưa thấu suốt bản chất của một hiến pháp dân chủ, chưa thể hiện sự tin cậy, tín nhiệm của nhân dân với chính quyền theo tinh thần thỏa thuận kiến tạo một môi trường có sự kiểm soát bên trong và bên ngoài đối với quyền lực".
23 Tháng Năm 2013(Xem: 12774)
Giữa tháng 04/2013, một loạt các đề xuất sửa đổi Hiến pháp 1992 đã được Ban biên tập soạn thảo tiếp thu, trong đó có phương án đổi lại tên nước thành Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Trong phiên khai mạc kỳ họp Quốc hội hôm qua 20/05, việc đổi tên nước đã đột ngột bị loại khỏi văn bản dự thảo.