Nguyễn Văn Lục: "Thực dân và dân thuộc địa nhìn vào nhau"

24 Tháng Tư 20169:21 CH(Xem: 4274)

"BÁO VĂN HÓA-CALIFORNIA" THỨ  HAI  25  APRIL 2016

Thực dân và dân thuộc địa nhìn vào nhau (6a)

image016

Nguyễn Văn Lục

 image017

Tựa đề bài thứ sáu này của tôi trong chủ đề “Sử Việt nhìn lại” đặt ra một thách thức khá lớn cho người cầm bút: Có thể nào có được một tinh thần vô tư, khách quan khi viết về giai đoạn thời Pháp đô hộ Việt Nam?

Sử Việt nhìn lại | Thực dân và dân thuộc địa nhìn vào nhau

Viết mà vượt lên trên được những cái thường tình của lòng tự ái dân tộc, vấn đề tôn giáo như việc sát hại một số thừa sai cũng như sự sát hại giáo dân, tình tự lúc nào cũng cho là ta giỏi, ta nhất.

Nhưng riêng bài này tôi nghĩ người đọc cần trang bị một chút hiểu biết tối thiểu về tâm lý – tâm lý quần chúng, tâm lý xã hội, văn hóa, cá tính con người Việt Nam – phản ứng của con người ấy trước những biến động lịch sử.

Tôi cũng cạn nghĩ, người học sử muốn nắm vững bộ môn của mình thì cũng cần có kiến thức của nhiều ngành nghề khác và một quan điểm sử học nhờ thế sàng lọc và nắm được cái cốt lõi của sử?

Qua những kinh nghiệm của lịch sử dân tộc, cá nhân tôi chọn hướng đi đặt nhu cầu phát triển ưu tiên, trước cả độc lập, bởi vì đất nước có phát triển thì sẽ hùng mạnh và trước sau gì cũng dành được độc lập. Còn dành được độc lập mà đất nước nghèo đói thì chưa biết bao giờ mới được phát triển? Hơn nữa, lịch sử thế giới cho thấy “chiếm thuộc địa” và “dành độc lập” chỉ là những phong trào ngắn hạn trước thế chiến thứ II.

Nguyên tắc chỉ đạo này giúp giải quyết những chọn lựa xem ra khó khăn mà thật sự cần thiết phải chọn lựa như thế – như một giải pháp không có giải pháp nào khác.

Tôi liên tưởng đến chữ dùng của giáo sư sử học Nguyễn Phương – ông gọi lịch sử có cái Đà Lịch sử. Nghĩa là có một hướng đi, một dòng lịch sử mà muốn sống còn, ta phải trôi theo cái dòng ấy để đừng bị hất ra bên lề lịch sử.

Trôi theo đà lịch sử cũng chính là cơ hội để con người có thể làm được lịch sử hay không.

Vì thế, theo tôi, nếu chúng ta biết khiêm tốn, biết tự trọng, chịu học hỏi nhiều nguồn trông ra bên ngoài. Có một thứ không thể thiếu được – đó là tính chất flexibility – dịch ra đủ thứ kiểu như tính năng động, tính uyển chuyển, sự thích ứng, soft power hay smart power, và bỏ được tinh thần tự ái dân tộc, óc kỳ thị tôn giáo, chủ nghĩa sô vanh dân tộc, thì sử vẫn là người thầy tốt nhất cho mỗi chúng ta.

Trình độ dân chúng của dân tộc chúng ta nói chung còn thấp kém ngay cả hàng vua quan. Cái học từ chương rỗng ruột là một thứ xa hoa. Nhất là sự cứng đầu, tự cao không nhận biết ra đâu sự thật nên đã gặp rất nhiều thất bại. Đà lịch sử cũng cống hiến những cơ hội thuận tiện, nhiều cơ hội làm nên chuyện. Nhưng tiếc thay cơ may đã bị bỏ qua vì cố chấp chỉ vì thiếu cái flexibility.

Chúng ta thử chiêm nghiệm trong bài học sử này xem những nhận xét ở trên có đúng vậy không?

Xưa ta có câu ca dao:

“Lênh đênh qua cửa Thần Phù
Khéo tu thì nổi, vụng tu thì chìm.”

Khéo và vụng ở đây – theo văn mạch – là nói về phương diện đạo đức cá nhân. Còn về mặt chính trị thì lại khác. Vua quan – giới lãnh đạo của người dân – khéo đã chẳng có mà vụng thì lại nhiều, tất nhiên phải chìm thôi.

Tôi xin đưa ra hai tỉ dụ dẫn chứng mà tôi đã từng dẫn chứng và nếu cần sẽ còn dẫn chứng để chúng ta cùng suy nghĩ, chiêm nghiệm xem sao:

image019

Nguồn: Huình-Tịnh Paulus Của, 1895

 

Việc thứ nhất là việc cố đạo Alexandre De Rhodes là người đầu tiên xuất bản bằng Việt Ngữ các sách như Tự điển Việt-Bồ-La; Ngữ Pháp tiếng Việt, Phép giảng 8 ngày đặt nền tảng cho việc định hình và phát triển chữ quốc ngữ cho đến ngày nay. Nếu nói về mặt ngôn ngữ – cho dù chúng ta đã dành được độc lập mà vẫn là dân ‘vô học’. Mù chữ là có chữ mà không học. Còn vô học là chữ không có thì học ở chỗ nào? Muốn ký một văn kiện, một hiệp ước, muốn sáng tác văn chương, người Việt Nam vẫn vay mượn chữ Hán. Chữ Nôm do ta sáng chế ra chỉ thêm rách việc – khó hơn chữ Hán, và phải hiểu chữ Hán mới học được chữ Nôm.

Vì thế, ngày nay dù văn học Hán Nôm có phong phú cách mấy đi nữa, 99.99% người dân không đọc được. Dân không đọc được thì giữ làm gì? Ngày nay, người ta ghi nhận được một cách chính xác hơn là có một số giáo sĩ phương Tây như Francisco de Pina, Gaspar de Amaral, Antonio Barbosa đến truyền giáo ở Quy Nhơn, tại khu nước mặn – một vùng địa lý hẻo lánh – lại là nơi xuất phát một công trình tập thể vô giá cho ra đời chữ Quốc ngữ. Thật ra, các giáo sĩ này chỉ lặp lại một công trình ghi âm hóa mẫu tự La Tinh đã được toàn thể các nước Âu Châu áp dụng đồng loạt trong mấy thế kỷ trước đây. Tất cả các nước Âu Châu đều xử dụng mẫu tự La Tinh. Các nhà truyền giáo cũng đã toan tính làm điều này khi đến truyền giáo tại lục địa Trung Hoa. Nhưng công viêc đã không thành. Vì tiếng Hán vẫn nắm ưu thế.

Cái thất bại của giới truyền đạo ở Trung Hoa lại là cái may của họ khi đến Việt Nam. Một công trình mà lúc ban đầu chỉ nhằm để truyền đạo đi nữa thì nó vẫn là một di sản có một không hai. Ngay chính những thừa sai kể trên làm sao nhìn thấy hết được cái lợi ích của nó đối với đời sau? Nhưng cái chính yếu là tài sản ấy đã được A. De Rhodes hệ thống hóa bằng văn bản, bằng tự điển – hẳn ông là người đại diện chính đáng nhất? Sự mẫu tự hóa (Romanisation/Latinization) chữ viết bằng mẫu tự tiếng La Tinh, nói thì thật đơn giản và dễ dàng, nhưng nghĩ ra được như thế cho tiếng Việt thì quả là công trình duy nhất trên toàn vùng Viễn Đông này. Nhìn xem các nước lân bang thông minh và tài giỏi như Nhật Bản, Triều Tiên, vẫn bằng lòng với thứ ngôn ngữ ký hiệu (Idéogramme). Hoặc là các chữ ngoằn ngoèo của thế giới Ả Rập hoặc ngôn ngữ Thái, v.v. Các công trình của ông sau đó đã lần lượt được in ra băng tiếng Ý, tiếng Pháp và tiếng La Tinh. Cả những người sáng lập ra lúc ban đầu và người làm ra tự điển – họ đều không hề nghĩ đến chuyện dành công? Tại sao người đời sau lại muốn làm chuyện ấy? Tại sao còn có loại người ‘ngu dần’ không muốn nhìn nhận công trình ấy? Sáng lập là câu chuyện của thiên tài, còn hoàn chỉnh là công việc của chúng ta. Alexandre De Rhodes, nào chỉ có làm tự điển. Có thể nói ông là người đầu tiên giới thiệu Đông Dương cho thế giới bên ngoài với các tác phẩm:L’Histoire du Royaume du Tonkin (1651), les Relations des progrès de la foi au Royaume de la Cochinchine (1652) và nhất là Voyages et Missions (1653).

Xét về mặt văn hóa, gần 1500 cử nhân, tiến sĩ trong suốt triều Nguyễn, ngoài chuyện làm thơ phú, đã có ông nào sáng tạo được cái gì? Hay vẫn cứ ngồi ê a chữ Hán trong nỗi bất lực trước những biến động thời cuộc.

Đụng tới khó thì cáo quan lui về ở ẩn, giữ khí tiết, vui thú điền viên như cụ Tam Nguyên Yên Đổ. Nói theo trách nhiệm xã hội dân sự ngày nay thì đó là vô trách nhiệm tập thể!

image021

Tranh mộc bản của Henri Oger . Nếu không có chữ dùng mẫu tự La tinh thì ngày nay mấy người Việt Nam hiểu được? 

Từ trái qua phải:

1. Vớt bèo ở ao / (Chú thích chữ Hán-Nôm: Vớt bèo)

2. Hái sen / (Chú thích chữ Hán-Nôm: Hái hoa sen)

3. Chặt buồng chuối / (Chú thích chữ Hán-Nôm: Cắt chuối)

4. Hái vải / (Chú thích chữ Hán-Nôm: Cặp bẻ vải)

5. Tìm trứng chim / (Chú thích chữ Hán-Nôm: Bắt chim khách)

6. Hái ổi / (Chú thích chữ Hán-Nôm: Trẩy quả ổi)

Trong khi đó, tôi không biết những nguời như ông Huỳnh Tịnh Của (Paulus Của), Trương Vĩnh Ký (Petrus Ký), Trương Minh Ký đỗ bằng cấp gì mà viết thông thạo chữ Hán, chữ La Tinh, chữ Pháp. Và còn nằm trong danh sách các tác giả viết bằng tiếng Tây của Pháp. Paulus Của viết loại Récits anecdotiques, viết về Pédagogie.

Trương Vĩnh Ký học ở Penang viết về sử, về ngôn ngữ học, v.v.

Trương Minh Ngôn, tự là Trương Minh Ký, cháu của Trương Minh Giảng, dạy học, viết báo, viết về ngôn ngữ học.

Họ đều xuất thân là dân Nam Kỳ.        

Tôi xin trích dẵn nhận xét của giáo sư Jean-Pierre Duteil, tác gi cuốn La Première implantation Francaise en Inbdochine về hai nhân vật nổi bật nhất, một về mặt văn hóa, một về mặt chính trị của người Pháp ở Việt Nam như sau:

“D’Alexandre De Rhodes à Mgr Pigneau De Béhaine, nombreux furent les missionnaires francais à parcourir les royaumes d’Indochine: pourchassés ici, recus comme conseillers ailleurs, ces hommes d’exception ne se contentèrent pas de convertir et d’Évangélỉser les populations: soutenus par les Misions étrangères de Paris, ils jouèrent un important rôle diplomatique, notamment auprès des Nguyên.”(1)

Từ Alexandre De Rhodes đến giám mục Pigneau de Béhaine, họ nằm trong số những nhà truyền giáo Pháp mà hành trình truyền giáo của họ trải dài trên các vương quốc Đông Dương. Họ đã bị trục xuất khỏi nơi này, nhưng rồi lại được đón nhận ở nơi khác như những cố vấn. Những con người ngoại lệ này không chỉ bằng lòng với công việc rao truyền phúc âm và đưa người ta vào đạo. Được sự hỗ trợ của sứ bộ thừa sai Pháp ở Paris, họ đã đóng một vai trò ngoại giao quan trọng bên cạnh các vua triều Nguyễn.

Để chấm dứt phần tìm hiểu về Alexandre De Rhodes, chúng tôi xin đưa ra một nghi vấn lịch sử đã một thời gây tranh cãi không nhỏ, xuất phát từ những tinh thần đố kỵ tôn giáo, trong giới sử học. Đó là câu của A. De Rhodes viết trong Hành Trình và Truyền giáo như sau:

“J’ai cru que la France, étant le plus pieux royaume de monde, me fournirait plusieurs soldats qui aillent à la conquête de tout l’Orient, pour l’asujetter à Jessus Christ, et particulièrement que j’y trouverais moyen d’avoir des Évêques, qui fussent nos pères et nos Maitres en ces Esglises. Je suis sorti de Rome à ce dessein le 11e Septembre de l’année 1652 apres avois baisé les pieds du Pape.”(2)

Tôi tin rằng Pháp là nước ngoan đạo nhất thế giới, sẽ cung cấp cho tôi nhiều chiến sĩ để đi chinh phục toàn thể phương Đông, cũng như ở đó, tôi có thể có cách để có nhiều giám mục vốn là Cha và các Thầy của chúng ta ở trong các nhà thờ. Tôi rời La Mã ngày 11 tháng 9 năm 1652 với ý định đó.

Tất cả rắc rối nó nằm trong chữ “soldats”. Tác giả Hồng Nhuệ, dịch giả bộ sách của Đắc Lộ dịch là “chiến sĩ” để chỉ các nhà truyền giáo.(3)

Cao Huy Thuần, tác giả cuốn Đạo Thiên Chúa và Chủ nghĩa thực dân tại Việt Nam, vốn là Tổng thư ký tờ Lập Trường ở ngoài Huế năm 1964. Trong luận án tiến sĩ của ông, ông dịch là binh sĩ. Và chỉ với hai chữ này trở thành luận cứ thuyết phục cho luận án của ông. Theo đó, Vatican, các nhà truyền giáo và chính quyền Pháp âm mưu xâm lược Việt Nam.

Sau này, nhóm Giao Điểm đã cho xuất bản một cuốn sách nhan đề với âm mưu tố cáo: A. De Rhodes – Người đầu tiên vận động Pháp chiếm Việt Nam – Và chữ Quốc ngữ.

Dịch là “chiến sĩ” thì có thể hiểu đây là gửi các linh mục. Dịch là “binh sĩ” thì phải hiểu là gửi lính sang xâm chiếm Việt Nam.

Bây giờ, nếu ta xét về mặt lịch sử: thời điểm 1652 chỉ mới có sự giao thiệp buôn bán giữa Đông và Tây. Khái niệm thuộc địa chưa rõ, chưa hình thành. Vậy không có lý nào Đắc Lộ lại có thể xin gửi “binh sĩ” sang Việt Nam.

image022

Hai giáo sĩ của Hội Thừa sai Hải ngoại Paris (MEP): Mgr François Pallu (1626-84). Bên phải: GM Tổng đại diện Nam Kỳ Pierre Lambert de la Motte (1624-1679)

Xét về mặt văn bản, ngữ nghĩa: Khi nói nước Pháp ngoan đạo nhất thế giới thì cung cấp “giáo sĩ” chứ ngoan đạo liên quan gì đến “binh sĩ”? Từ “chinh phục” chỉ thị chinh phục tâm hồn, nếu không dùng chữ đi “chinh phạt” sát nghĩa hơn. Dưới đó cho thấy có các linh mục rồi nên mới cần nhiều giám mục. Nếu gửi binh lính thì cần giám mục làm gi? Cần sĩ quan để cai quản chứ? Đọc toàn bộ văn bản cho thấy chữ “soldats” ở đây không thể hiểu là “binh lính” được. Nó không có nghĩa và trái với nội dung toàn văn bản.

Trước đoạn trích dẫn trên, Đắc Lộ còn bày tỏ nhiều câu ám chỉ về việc tuyển mộ các chiến sĩ này. Ông viết, “Tôi nhận được vô vàn thư của các cha Dòng chúng tôi, tự nguyện xung phong trong đoàn binh vinh quang. Tất cả năm tỉnh dòng ở Pháp đều có nhiều người quảng đại ghi tên […]

Những người tình nguyện ghi tên trong đoàn binh này đều là các thừa sai, có chỗ nào chỉ đoàn binh này là binh sĩ đâu?

Ông viết tiếp,

“Những dự định của chúng tôi đâu đã hoàn tất: có mấy nhân vật danh tiếng và đạo đức ở Paris đang vận động để cung cấp các giám mục cho chúng tôi. Chúng tôi mong Rôma sớm cho chúng tôi biết tin rất vui mừng này… Các Ngài giáo sĩ cao cấp đã tận tâm nhận tra xét hồ sơ của chúng tôi và đã đệ đơn lên Đức Giáo Hoàng đại khái nói: Các giám mục Pháp có đủ nhiệt tâm đem phúc âm tới cùng kiệt đại dương, để soi cho biết bao dân tộc còn sống trong tăm tối…(4)

Và chỉ 6 năm sau, 1658, nguyện vọng của Đắc Lộ gửi đoàn binh sĩ sang truyền giáo ở các nước đã hình thành. Sứ bộ truyền giáo Paris đã chính thức hoạt dộng.

Nghĩ lại chuyện này cho thấy sự xuyên tạc lịch sử thật nham hiểm. Ai đo được lòng dạ con người?

Và nếu “chiến sĩ” là để chỉ các “thừa sai” thì sự thuyết phục của luận án của Cao Huy Thuần là chỗ nào?

Vậy mà vẫn có những thành phần cố chấp, chủ nghĩa dân tộc ‘Sô Vanh’ như Nguyễn Đắc Xuân ngoài Huế lên tiếng phản biện.(5)

Theo Nguyễn Đắc Xuân,

“Alexandre De Rhodes đã và đang bị các nhà sử học trong và ngoài nước chứng minh rằng đấy là một trong những đầu mối thúc đẩy thực dân Pháp vào cướp nước ta.”

Gán việc sáng chế ra chữ Quốc Ngữ là khởi điểm cho việc Pháp xâm lăng nước ta là tột điểm của sự vu khống ngu xuẩn!

“Các nhà sử học trong và ngoài nước” là những ai? Tại sao không liệt kê danh tính họ ra? Nguyễn Đắc Xuân cứ khoác lác như chỗ không người như vậy!

Hãy cứ để những kẻ ngu xuẩn như thế tiếp tục nghĩ như thế và sống như thế. Tôi chỉ tự hỏi Nguyễn Đắc Xuân ngày hôm nay đang đọc và viết bằng thứ chữ gì?

Việc thứ hai là vai trò của Bá Đa Lộc và những người Pháp giúp Gia Long khởi nghiệp. Có hai quan diểm đánh giá.

Sách vở tài liệu của Pháp qua những thư từ của các thừa sai, nhất là tài liệu trong “Đô thành Hiếu cổ”, Bulletin des Amis du Vieux Huế (BAVH), của Cadière thì đều dành một vị trí vinh dự cho giám mục Bá Đa Lộc. Về phía các sử gia Việt Nam thì cũng hầu hết đồng quan điểm như vậy như Việt Nam Sử Lược của Trân Trọng Kim, Phan Khoang, Nguyễn Thế Anh, Nguyễn Khắc Ngữ, nhất là Tạ Chí Đại Trường.

Dĩ nhiên không phải chỉ vì hầu hết các sử gia đều đồng ý với nhau thì chúng ta cũng phải đồng ý. Không phải như vậy.

Mới đây tác giả Thụy Khuê trong một tài liệu nhan đề “Khảo sát công trạng của những người Pháp giúp vua Gia Long” trong đó bà hầu như phản bác tất cả các quan điểm trên bằng nhiều tài liệu dẫn chứng. Vì thế, tôi đón nhận tập biên khảo của bà Thụy Khuê một cách trân trọng.

Về phần này vì khá dài, chúng tôi xin hẹn ở một bài viết riêng trong kỳ sau.

Khi tìm hiểu về mối tương quan giữa kẻ đi chinh phục và kẻ bị trị thì có thể có hai khảo hướng để tìm hiểu về xã hội Việt Nam giai đoạn bị trị.

Tác giả Nguyễn Văn Phong, tác giả cuốn La société Vietnamienne de 1882 à 1902, d’apres les écrits des auteurs francais, Paris, Presses Universitaires de France, 1971, chia các tác giả Pháp, theo ngành nghề, ra làm 9 khảo hướng tìm hiểu tùy theo chuyên ngành. Chẳng hạn Charles Lemire viết về ngành hành chánh, luật pháp. Ellacine Luro về quân sự, Jules Boissière về văn chương, Eugène Louvet và Paul Puginier như những nhà truyền giáo, J. Milton Yersin như một bác sĩ, v.v. Sự chuyên biệt như thế giúp cho sự nghiên cứu về Việt Nam đầy đủ và phong phú hơn.

Phần người viết, tôi chỉ đơn giản phân ra hai loại người: thực dân Pháp và kẻ bị trị, người Việt Nam, để xem sự trao đổi giữa hai bên như thế nào. Và như đã giới thiệu ở đầu bài, tôi chú trọng đến những phần ứng dụng dựa trên khoa tâm sinh lý cũng như văn hóa của người Việt để đưa ra các nhận xét hay tìm hiểu.

Về phía người Pháp:

image024

Người Việt Nam (Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ) năm 1883. Nguồn: Illustrated London News, Sept. 1, 1883.

Cái tâm lý thông thường kẻ mạnh, kẻ đi chinh phục thường có thái độ trịch thượng với dân bản địa. Người phương Tây sang nước ta có thể cái tâm trạng cũng không khác bao nhiêu. Tuy nhiên, trong bài viết này, nếu chúng ta chú trọng đên những thư từ, hồi ký còn để lại thì có sự khác biệt như sau.

Các thừa sai thường có tâm lý chia sẻ, xót thương trước sự đói nghèo mà người dân phải chịu. Nếu đứng ở quan điểm nhìn về xã hội thì thừa sai và dân chúng thường đồng quan điểm.

Nhưng đối với các thương nhân hay nhà ngoại giao thì thường có cái nhìn phê phán, có sao nói vậy và đôi khi không khỏi có ác cảm là đằng khác.

Những nói chung cái nhìn của người Pháp khi đến Việt Nam sau này nó trở thành một vốn liếng văn hóa đồ sộ về mọi mặt. Thật ra chữ “nhìn” không đủ nghĩa. Họ đến để nhìn, nhưng còn để quan sát, để ghi nhận, để học hỏi, để khám phá, để phân biệt được cái xấu cái tốt ở mhuowfi Việt Nam.

Thật vậy. Họ đã viết hàng ngàn tài liệu sách vở về nước ta trong mọi lãnh vực. Viết về hành chánh, có 15 tác giả; viết về nông nghiệp có 30 tác giả. Về nhân chủng học 13 tác giả, nhưng về khảo cổ, kiến trúc có 48 tác giả. Về Hồi ký có 22 tác giả. Về chính trị có 44 tác giả, trong đó có một Việt Nam là Hoàng Cao Khải. Về thám hiểm, tham quan, du lịch 50 tác giả. Về sử học có 72 tác giả. Trong đó có một tác giả Việt Nam là Trương Vĩnh Ký. Về ngôn ngữ học, văn phạm, có 60 tác giả, trong đó vinh dự có ba tác giả Việt Nam. Đó là các ông Huỳnh Tịnh Của, Trương Minh Ngôn tức Trương Minh Ký và Trương Vĩnh Ký. Về giáo dục, sư phạm có 26 tác giả trong đó có Huỳnh Tịnh Của, Lê Văn Phát, Trương Minh Ngôn và Trương Vĩnh Ký. Về tự điển, văn phạm có 78 tác giả trong đó có Huỳnh Tịnh Của, Trương Minh Ngôn, Trương Vĩnh Ký.

Và còn nhiều ngành nghề khác nữa.

Cộng chung có khoảng 1312 tác giả Pháp và người Anh, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha viết về Việt Nam(6). Nếu tính ra số bài viết thì ít lắm cũng có khoảng 5000 đề tài tất cả.

Đã có bao nhiêu người Việt Nam viết được như họ và bao nhiêu người đã có cơ hội đọc được họ?

Một câu hỏi không kém quan trọng là nếu chúng ta không viết được như họ thì tại sao không bỏ công ngồi dịch hết ra tiếng Việt? Một công việc dễ gấp 10 lần? Một công việc cần gấp 20 lần? Vì không đủ khả năng ngôn ngũ và dịch thuật?

Tại sao người Nhật đã làm được điều nay từ thế kỷ 18, còn Việt Nam ta hiện nay vẫn chưa làm. Trong một bài biên khảo trước đây, ,“20 năm Văn học dịch thuật miền Nam” tôi đã lấy làm hãnh diện là vào thập niên 1960, sách dịch đã chiếm 60% thị phần sách xuất bản ở miền Nam và sang đến năm 1970 trở đi đã chiếm đến 80% thị phần sách xuất bản. Tuy nhiên, sách dịch ở miền Nam có xu hướng thiên về sách triết học, tư tưởng. Nhất là sách truyện mà mục đích chỉ là giải trí. Trong khi sách về sử học, khoa học, kỹ thuật lại không có bao nhiêu.

 

Sách dịch ở trong nước hiện nay nói ra là một điều tủi hổ. Nó đã ít, phẩm chất lại cực kỳ kém cỏi, chạy theo lợi nhuận. Bằng chứng mới đây họ cho dịch cuốn “Finding the Dragon Lady” của Monique Brinson Demer. Cuốn sách hiển nhiên là bán chạy vì có tên bà Ngô Đình Nhu. Có người đi Việt Nam về mang theo một cuốn dịch nhờ tôi so sánh giữa hai bản. Tôi nghĩ không có thời giờ để làm chuyện nhảm nhí đó.

Trong bài sau, tôi sẽ chú trọng nhiều đến các hồi ký của các thương gia, những đại diện cho chính phủ các đế quốc, hay các nhà truyền giáo, đồng thời đề cập đến một số rất nhỏ người Pháp đã giúp cho triều đình Gia Long như Jean Baptiste Chaigneau Nguyễn Văn Thắng (1769-1832), Philippe Vannier Nguyễn Văn Chấn (1762- 1842), Olivier de Puymanel (1788-1799), Jean- Marie Dayot (1759-1809).

Và hàng trăm người Pháp đủ loại đã góp phần tích cực trong việc xây dựng và phát triển cho Việt Nam. Bên cạnh đó, sự quan trọng là thành phần trung gian giữa thực dân và nước ta là các thừa sai ngoại quốc. Hội thừa sai được thành lập từ 1658-1663(7). Sự có mặt của họ trong suốt 350 của sứ bộ truyền giáo với khoảng 4200 thừa sai đủ các quốc tịch được phân bổ đi truyền giáo tại Bắc Mỹ và nhất là Châu Á, mà phần đông đã hiến cả cuộc đời họ trên mảnh đất nghèo nàn khốn khổ này.

Tôi sẽ phân tích tìm hiểu xem tại sao họ lại làm như thế! Về phía kẻ bị trị, có vua quan nhà Nguyễn, giới nông dân, và một số nhỏ giáo dân. Cạnh đó là những người đã tham gia vào trong các phong trào chống lại người Pháp đủ loại.

Cái nhìn của người thực dân Pháp về người bị trị

 

image026

Lính thuộc địa của Pháp (người Việt Nam) vào trại Saint-Raphael. Trong suốt cuộc Thế chiến thứ I, 1914-18, gần 100.000 người Đông Dương đã được đưa sang châu Âu, đa số là người lao động, nhưng có vài ngàn người cũng phục vụ trong các tiểu đoàn chiến đấu. Nguồn: Thư viện Quốc gia Pháp.

Căn cứ vào một số hồi ký đủ loại của người Tây phương mà tôi có cơ hội đọc cho thấy cần kiên tâm, bình tĩnh và sáng suốt để đọc. Đọc để thấy cái yếu kém, cái ngu dốt của người mình mà thay đổi.

Dưới mắt thực dân, nói chung người An Nam xuất hiện với cái bề ngoài xấu xí thô kệch, khuôn mặt ‘ghê tởm’ như súc vật. Nó không hơn gì lắm những người còn ở tình trạng bán khai. Họ không thể nào so sánh với các sắc dân Ả Rập hay Ấn Độ. Người Việt Nam vóc người nhỏ bé hơn khi so với người Ấn Độ hay Ả Rập, người Mã Lai và Xiêm La. Giữa đàn ông và đàn bà An Nam thì xem ra đàn bà coi được hơn.

Chẳng cần phải đợi đến nhận xét của người ngoại quốc hằng trăm năm trước nhận xét về người An Nam. Thuở còn nhỏ, tôi đã nhận ra cha ông mình, dân làng mình còn sống bán khai, nghèo không thể còn nghèo hơn được. Nhiều đàn ông đi làm ruộng chỉ đóng có cái khố. Thật đến là bất nhẫn. Và không một lối thoát! Nếu không có chế độ thuộc địa – mà cứ để bọn vua quan mình điều khiển đất nước thì bao giờ khá được!

Hình thù đã như vậy lại được kết hợp với những thói quen xấu như dối trá, ăn cắp vặt. Đây là những đề tài thường xuyên được trao đổi giữa các vị phu nhân người Pháp bàn tán với nhau về đám gia nhân ít học của họ.

Các món ăn của người bản xứ cũng là đề tài hấp dẫn để phẩm bình, ngay cả những bữa yến tiệc được dọn ra để tiếp đãi khách Tây phương cũng trở thành đè tài bêu riếu hoặc dơ bẩn, hoạc ăn uống man rợ. Chẳng hạn như món trứng vịt lộn được các Chúa như Võ Vương Nguyễn Phúc Khoát (1738-1765) khoản đãi một phái đoàn nhà buôn Pháp. Nhiều người trong đám thực khách Tây phương chỉ nhìn thấy thôi đã muốn ói mửa. Nhưng họ bị ép buộc phải ăn thử tất cả mọi món ăn có trên bàn, đòng thời phải cho biết ý kiến của từng món một.

Nhưng món ăn ở Huế thường được dùng để tiếp đãi đám khách khó tính này ngay các loại hoa quả cũng bị nghi ngờ, nói chi đến các loại bánh trái đủ loại làm bằng bột cũng bị nghi ngờ về phẩm chất.

Các tập tục như ném vàng mã xuống các ngôi mộ cũng gây một sự nghi ngờ vô lý chẳng khác gì kiêng không ngồi 13 người ngồi trong một bàn tiệc.

Các vua chúa thì đôi khi tỏ ra sách nhiễu làm khó dễ như bắt chờ đợi lâu ngày. Họ lại thường quá chú trọng vào quà tặng và tỏ ra tham lam.

Tôi may mắn được lên Hà Nội học được tiếp xúc với Tây. Mang tiếng là đi học – nhưng học được gì khi chưa có một chữ trong bụng thì Việt Minh đã đánh nhau với Tây?

Việt Minh chỉ rành có mỗi một nghề: nghề đi giết người. Sáng hôm sau thấy súng bằng gỗ vứt gần Sở Hành chánh Tài chánh. Chúng, cộng sản, xúi thanh niên tự vệ thành đánh Tây với súng gỗ có chết người không chứ?

Sống ở khu phố Cửa Bắc, khu phố Tây, thấy Tây nó vẫn tử tế hơn người mình. Nó cung cấp thực phẩm cho người Hà Nội tỵ nạn vào nhà xứ. Ngay thời đó, tôi sợ Việt Minh chứ không sợ Tây. Tuy vậy, trẻ con Việt Nam cũng học thói trả thù dân tộc của người lớn xúm vào đánh mấy thằng Tây con, cứ gạch mà chỏang. Chúng ôm đầu máu, khóc chạy về nhà. Lễ chủ nhật, chúng đi nhà thờ với cha mẹ chúng, chẳng thấy bố mẹ chúng nói gì. Các bà đầm vẫn tử tế chào hỏi. Hình như chuyện đánh nhau là chuyện trẻ con chứ không phải chuyện người lớn.

Sau này, sống ở đồn điền cao su của Tây ở trong Nam, tôi vẫn thấy họ là người bình thường. Lớn lên, học đại học với họ, giáo sư người ngoại quốc, mà Tây là số đông, thấy họ thực sự là người tử tế.

Hay là tôi có may mắn chỉ gặp loại Tây tử tế? Hay là cần phân biệt giữa chính sách và con người? Nhưng làm sao cắt nghĩa được chính sách là bóc lột mà di sản Tây để lại thì quá lớn lao đến có thể coi họ như những người đến để khai hóa? Giữa thực dân và khai hóa, cái còn lại là cái nào?

Nói thực, sau này ra sống ngoại quốc (lại sống với “Tây”) cũng đến 40 năm, vẫn thấy dễ sống hơn sống với cộng sản.

Nhớ lại thời gian khốn khổ ấy dưới ách thực dân mà sao đời vẫn vui! Ai cắt nghĩa dùm tôi điều này. Sau 1975, người cùng một nước mà sao coi nhau như kẻ thù. Túng thiếu chưa đến nỗi nào sao người ta lại liều chết bỏ xứ mà đi?

Thuở ấy, tôi đi nhặt từng mẩu thuốc lá Philipp Morris để hít vài hơi.

Tự bên trong cũng cảm thức được số phận đất nước mình so với người ngoại quốc.

Trở lại câu chuyện của chúng ta thì các vua chúa đôi khi tỏ ra sách nhiễu làm khó dễ như bắt chờ đợi lâu ngày. Họ lại thường quá chú trọng vào quà tặng và tỏ ra tham lam.

Phái đoàn của Pierre Poivre phải thuê đến 100 cu-ly để khuân vác các quà tặng từ Đà Nẵng vào Huế.

Và sau đây xin trích dẫn một đoạn tiêu biểu của phái đoàn Pháp trong Voyage de Pierre Poivre en Cochinchinedo Henri Cordier ghi chép và trình bày:

“Je lui ai ensuite exposé le sujet de mon voyage. Je lui ai parlé des avantages du commerce, des richesses que procureroit à la Cochinchine celui des Européens etc. Il a écouté tous mes discours assez froidement, et il les interrompoit toujours pour me parler des femmes. Voyant que je n’en pouvois tirer autre chose je l’ai abandonné dans ses belles pensées et suis revenu fort mécontent d’un voyage inutile.

Il faut avouer que ces gens cy sont bien peu propres aux affaires. Uniquement occupés des soins de volupté, ils ne scavent rien au delà ; ils ne connoissent que les plaisirs des sens, ils en jouissent, en parlent ou y pensent, voilà leur vie.”(8)

Tôi đã phúc trình cho nhà Chúa mục đích của chuyến du hành của tôi. Tôi cũng đã nói đến những cái lợi của việc thương mại, sự giàu có đem lại cho xứ Nam Kỳ và cho người Âu Châu. Nhà Chúa đã nghe những điều tôi trình bầy một cách khá lạnh nhạt và ông đã thường cắt ngang câu truyện của tôi để nói về đàn bà. Thấy rằng tôi chẳng thu được lợi ích gì từ những câu chuyện như thế, tôi đành bỏ cuộc để mặc cho ông ta với những tư tưởng đẹp của ông ấy. Và tôi nhận thấy thật chẳng vui gì cho một chuyến đi vô bổ.

Phải thú nhận rằng những người này không quan tâm gì mấy đến các công việc buôn bán. Họ chỉ chú trọng tới chuyện nhục dục. Họ không biết gì hơn chuyện đó. Họ chỉ biết nghĩ đến những khoái lạc. Hưởng thụ nó, nói về nó, tư tưởng về nó. Và đó là đời sống của họ.

Cũng vì thế, một sinh viên du học trước 1975 hỏi tôi, “Một vua có hằng trăm vợ thì thời giờ đâu lo việc nước?”Câu hỏi đơn giản mà trả lời không được!

(Còn tiếp)

© 2016 DCVOnline

trích từ DCVOnline.net”


Nguồn: Bài và chú thích của tác giả. DCVOnline hiệu và minh họa.

(1) Jean Pierre Duteil, “La Première implantation francaise en Indochine ( XVII- XIX siècle)”. Ông cũng là tác giả l’Ombre des nuages. Histoire et civilisation du Viet Nam au temps des Lê (1979).

(2) Alexandre De Rhodes, “Divers Voyages et Missions”, Paris, 1653, chương 19, phần thứ ba.

(3) Alexandre De Rhodes, “Hành Trình và Truyền giáo”, bản dịch của Hông Nhuệ, trang 289

(4) Alexandre De Rhodes, Ibid., trang 264-265

(5) Nguyễn Văn Nghê, “Bản thân chữ Quốc Ngữ ‘có tội’ với dân tộc Việt Nam không?” http://www.viet-studies.info/, Nguyễn văn Nghệ, ngày 20-11-2015.

(6) A. Brébion, “Dictionnaire de bio-bibliographie générale, ancienne et moderne de l’Indochine française”, Paris: Société d’éditions géographiques, maritimes et coloniales, 1935. phần Table Signalétique des Matières.

(7) Missions étrangères de Paris. 350 ans au service du Christ 2008 Editeurs Malesherbes Publications, Paris, trang 2-4

(8) Henri Cordier, “Voyage de Piere Poivre en Cochinchine”, Revue de l’Extrême-Orient, 1887, t3, pp.81-121, 364-510; Jean-Paul Morel, copie sur pierre-poivre.fr en juillet 2010, trang 11

+++++++++++++++++++++++++++++++

Thực dân và dân thuộc địa nhìn vào nhau (6b)

Posted on April 24, 2016 by editor — No Comments ↓

Nguyễn Văn Lục

image027

Sự kiêu hãnh phương Đông đôi khi trở thành một sự lố bịch trước mắt người phương Tây. Người phương Tây thì ngược lại thường tỏ ra thiếu sót trong sự trân trọng tôn kính đối với người khác trong cách xưng hô cũng như giao thiệp.

Sử Việt nhìn lại | Thực dân và dân thuộc địa nhìn vào nhau

Trong giao thiệp, người phương Tây thường tỏ ra bình đẳng – một thứ bình đẳng được hiểu là hống hách trước mắt người phương Đông. Vì thế, vua chúa người An Nam thường xếp họ vào thứ dân man rợ, đầu óc hạ sĩ quan (la mentalité sous-off.)

Ấy là ta không bàn đến sự đối chọi giữa các tôn giáo bản địa so với Thiên Chúa giáo do các thừa sai du nhập vào.

Sự hiểu biết giữa đôi bên thật sự là không dễ dàng gì. Tựa đề bài viết của tôi là “Thực dân và thuộc địa nhìn vào nhau”. Nhưng thật ra là một cái nhìn một chiều.

Chỉ có thực dân nhìn về chúng ta. Còn chúng ta thì bị nhìn và hầu như chẳng bầy tỏ được một cái gì công khai và rõ rệt. Cùng lắm, chúng ta đáp lại bằng nhưng phản ứng gián tiếp, rất tiêu cực.

Cái hay của người phương Tây, dù là một nhà buôn, một thuyền trưởng, một người có óc phiêu lưu mạo hiểm, một sĩ quan, một giáo sĩ, khi sang nước ta thì hầu như họ đều mang theo hành lý của họ một cái bút và một tập giấy trắng.

Họ đến chẳng những để chinh phục mà còn đến để khám phá, để học hỏi ghi chép mọi điều như thấy trong Hồi ký của Poivre Pierre nhan đề Voyage de Pierre en Cochinchine năm 1748-1750, thời còn các Chúa ở Đàng Trong.

Đây là một cuốn Hồi ký rất lý thú ai có phương tiện và thời giờ cũng nên đọc. Nhờ đọc nó mà tôi biết thêm được rất nhiều điều trong đời sống của người mình nó như thế nào.

Poivre Pierre ta tỏ ra rất bực tức vì người Annam có tính tò mò rất kỳ cục. Họ mon men lại gần ông rồi bạo dạn dờ lên đầu, lật mái tóc giả ra để coi. Hoặc tò mò hỏi đi hỏi lại ông có bao nhiêu vợ. Và khi ông trả lời có một vợ (Françoise Robin, 1749 – 1841) thì họ lại không tin.

Poivre là một nhà thực vật học, ông ta cũng viết hồi ký. Cũng ghi ghi chép chép từng ngày, từng sự việc. Họ nhận xét, họ ghi ngày giờ.

Trong Hồi Ký “Journal of an Embassy – From the Governor-general of India to the Courts of Siam and Cochin China”, NXB London, H. Colburn and R. Bentley, 1830, tác giả, bác sĩ John Crawfurd chẳng những ghi ngày tháng mà còn ghi rõ ràng tọa độ, kinh tuyến, vĩ tuyến khi thuyền còn trên biển. Họ mở to đôi mắt để ghi nhận, so sánh, và viết lại đầy đủ từng chi tiết. Thấy sao, nghĩ sao thì viết đúng như thế – không có thói thêm bớt hoặc ba hoa phét lác. Đây là một cuốn hồi ký lý thú giúp người đọc mở rộng tầm mắt ra nhiều.

Nó giúp người đọc hiểu biết về sinh hoạt, về thiên nhiên, về địa lý, về sự giao thiệp, sự tiếp xúc với triều đình Huế với vua quan của chúng ta thời ấy như thế nào.

Thật khôi hài đến chảy nước mắt. Nay tôi có biết gì về vua quan, về cách suy nghĩ, về thú vui giải trí, về cách ăn uống, về ăn mặc của họ là đều do đọc cuốn hồi ký này.

image029

Đại thần nhà Nguyễn. Nguồn: Pierre Dieulefils (1888-1925 tại Việt Nam)

Muốn có hiểu biết đầy đủ về Việt Nam giai đoạn vua quan nhà Nguyễn với thuộc địa, ngoài một cái nhìn từ bên trong thì cũng phải có  một cái nhìn từ bên ngoài.

Hàng ngàn tài liệu do người Tây phương biên soạn sẽ giúp ta học hỏi về đất nước mình.

Chẳng hạn nay đã già mới có cơ hội được biết vua chúa nhà Nguyễn có thói quen giải trí bằng cách cho voi và hổ đánh nhau. Nhưng họ đã cho khâu mồm con hổ lại, lấy hết móng vuốt của hổ, buộc giây vào bụng hổ không cho nhảy xa quá 10 thước. Cho đánh nhau như thế thì vừa bộc lộ cái thú tính độc ác, bất công vừa cho thấy một cái đầu óc ngu xuẩn của vua quan.

Cái nhìn của người thực dân về người thuộc địa nay để lại hàng ngàn tài liệu đủ loại.

Ta để lại được gì? Ngoại trừ một số hiếm hoi sử nhà Nguyễn lại viết bằng chữ Hán – nay đã dịch ra. Tôi nói sử nhà Nguyễn, có nghĩa viết về vua quan nhà Nguyễn mà không phải sử có mục đích viết về dân Việt Nam.

Cộng thêm một vài luận án tiến sĩ mà mục đích chính không hẳn nhằm phê phán người Pháp, chế độ thực dân, mà nhằm phê phán âm mưu giữa chế độ thực dân và một vài giới chức tôn giáo đầu óc thực dân như trường hợp giám mục Puginier.

Còn nói chung, muốn hiểu biết gì về bản chất chế độ thuộc địa phải chịu khó đọc sách Tây viết. Tây viết về chế độ nhà tù, Tây viết về khai thác kinh tế, khai thác tài nguyên bằng những con số, bảng thống kê.

Ta vẫn là nạn nhân và đồng thời như người ngoài cuộc.

Không có những nhà nghiên cứu của họ viết, chúng ta hầu như không có sử viết viết về giai đoạn này. Như mới đây, ở trong nước dịch ra được một cuốn hồi ký của toàn quyền Doumer đã lấy làm hãnh diện và công phu lắm. Dịch sai bét đến độ phải xin lỗi độc giả và hứa bồi thường cuốn tái bản?

Thắc mắc này tôi cũng đặt ra cho các giáo sư sử thuộc Đại Học Văn Khoa Sài gòn, cho các vị đã từng du học Pháp, cho những vị đã từng làm luận án tiến sĩ Sử tại Pháp là: Nói đến sử là nói đến tài liệu. Không có tài liệu thì giỏi mấy cũng đành bó tay.

Chẳng hạn sử nước Pháp có bộ Journal de la France, de 1900 à nos jours, dưới sự điều khiển của Jacques Marseille, do nhà xuât bản Larousse in năm 2003. Nó giống như công việc của Đoàn Thêm làm. Nhưng do nhiều người viết và với rất nhiều hình ảnh đi kèm. Nhưng công việc này, tại sao chúng ta không làm được nếu biết tổ chức, tập họp người?

Bộ nữa cũng do nhà Larousse ấn hành nhan đề Mémoire de la France – Des origines à nos jours. Thật quý biết bao, lúc rảnh mang ra lật vài trang cũng thich.

Trong giai đoạn thuộc địa, tôi rất trân trọng bộ Dictionnaire de Bio-Bibliographie général, anciennne et moderne de L’Indochine Francaise, do một viên chức Pháp đã về hưu soạn. Ông A. Brébrion. Tên đầy đủ là Jean-Francois-Antoine Brébion, sinh tại Lyon năm 1857. Ông là một nhà báo sang Đông Dương tháng 10-1885. Năm 1912, ông nghỉ hưu với ngạch trật professeur principal de 1er classe. Sau 28 năm ở Việt Nam, ông thu tập tài liệu để viết ra bộ sách này.

Biết bao nhiêu tài liệu thu nhặt, biết bao nhiêu thời giờ công sức bỏ ra. Hầu như không thiếu tên tuổi bất cứ một ai từng sang Việt Nam… Không một tài liệu, một cuốn sách nào mà không được nhắc tới. Bộ sách này chỉ được xuất bản rất trễ, năm 1935, sau khi tác giả đã qua đời.

Tôi căn cứ vào bộ sách này để đi tìm tài liệu.

Tây nó làm được như vậy thì Mỹ chắc phải hơn như thế? Tôi chẳng nhiều tiền gì nên mua được một bộ sách cũ của Thư viện một trường Trung học thôi. Trường Episcopal High School, Alexandria, Virginia, thành lập năm 1839. Tôi để nguyên dấu hiệu của nhà trường làm kỷ niệm. Cuốn sách nhan đề Viet Nam war Bibliography, tác giả Christopher L. Sugnet và John T. Hickey do LexingtonBooks, Lexington, Mass., xuất bản năm 1983, sau khi chiến tranh Việt Nam chấm dứt. Tôi chịu khó ngồi đếm có tất cả 3931 sách và tài liệu viết liên quan đến chiến tranh VN.

Trong đó tôi không ít ngạc nhiên có cuốn: “Những ngày buồn nôn” của Lý Chánh Trung, năm 1972. Và tập “Hoa Tình thương”, 1972, tại thành phố Montréal do Hội Những người Việt chống Cộng sản và Bạo lực phát hành.

Sau này, Nguyễn Kỳ Phong có biên soạn cuốn Từ Điển chiến tranh Việt Nam 1954-1975, nxb Tự Lực, 2009

Cái nhìn của người dân bị trị

image031

Dân làm đường ở Trung Kỳ (1901). Nguồn: Collection Courtellemont

Thật ra gọi cái nhìn của người bị trị như trên là không sát nghĩa lắm. Người dân bị trị bị đặt vào tình thế chính trị bị đẩy tới cái thế chân tường, không lối thoát, hay không biết cách tìm lối thoát, trở thành bị lệ thuộc. Làm sao có điều kiện tối hảo để có cơ hội nhìn ngược lại được?

Cắt nghĩa và lý giải về tâm trạng người bị trị thì như thể một sức ép đè trên người và tạo ra nhiều dạng thức tâm lý mà cái chính là mặc cảm (bị trị).

Cho nên, chữ thích hợp nhất trong trường hợp này là chữ phản ứng. Phản ứng của người dân khi bị đô hộ. Phản ứng là một thái độ đáp ứng lại một hoàn cảnh mà ta không làm chủ được nên thường là một phản ứng tiêu cực.

Trong tâm lý học, người ta giải thích tình trạng một người bị ngất đi là giải pháp tốt nhất để không phải đối đầu trực diện hoặc là gián tiếp phủ nhận cái thực tế trước mặt.

Chẳng hạn, người đàn bà có chồng có thể ngất đi khi nhìn thấy cảnh người chồng và tình địch đang âu yếm nhau.

Người đàn bà ấy ngất đi như muốn phủ nhận một thực tế phũ phàng.

Nhưng trong những hoàn cảnh không phải là một đe dọa, đưa đến cái chết thì có thể có nhiều chọn lựa khác. Người ta có thể né tránh đi; người ta đổ vấy cho hoàn cảnh; người ta dùng người khác thế chỗ để luôn luôn có lý do chinh đáng biện minh cho sự thất bại do sự ngu dốt của mình.

Có hai loại phản ứng: Phản ứng thuận chiều và trái chiều

Phản ứng thuận chiều

Tháng tư, 1956, người Pháp chính thức cuốn cờ và triệt thoái khỏi miền Nam Việt Nam chấm dứt chế độ thực dân Pháp sau ngót một thế kỷ. 80 năm có lẻ ở Nam Kỳ và 60 năm ở Bắc Kỳ.

Miền Nam lúc bấy giờ có khoảng 7000 người Việt mang quốc tịch Pháp. Người ta ghi nhận đã có hơn 6000 người trong số đó xin hồi tịch.

Nhưng xé bỏ một tờ căn cước có đủ để người ta quay trở về cội nguồn với con người Việt Nam không? Xóa đi một cái ranh giới địa lý hay ranh giới pháp lý chỉ cần làm một cử chỉ “cái roẹt” là xong; nhưng cái ranh giới tinh thần là công việc còn lại của mỗi người, có khi làm cả đời không xong!

Chế độ thực dân chính thức không còn nữa và người Mỹ đến thay thế chỗ của người Pháp.

Phần ông Diệm, ở bình diện cơ chế, coi như ông đã thực hiện được hai bước trong tiến trình ba bước chính trị của ông: Bài Phong, Phản Đế, Diệt Cộng.

Nhưng ở mặt tinh thần, nước Pháp xa cách Việt Nam 16.000 cây số, vậy mà về mặt tâm tư thì nhiều người Việt Nam sinh sống ở VN cảm thấy “gần” nước Pháp hơn là người hàng xóm của mình. Bạn đọc có thể đọc thêm cuốn “Going Indochinese: Contesting Concepts of Space and Place in French Indochina”, (1995, 2012), của Christopher E. Goscha, hay bản tiếng Pháp“Indochine ou Vietnam” tác  giả mới xuất bản 2015.

Cựu Thủ tướng Trần Văn Hữu còn đi xa hơn, vào năm 1946 có chủ trương tách Nam Việt Nam ra khỏi Quốc Gia VN. Những người như thế đã được ông Bảo Đại mời ra lập chính phủ vào ngày 6-5-1950!

Chưa kể tệ hại hơn nữa, nhiều người Việt-gốc Pháp còn khinh văn hóa Việt, lối sống Việt vì họ coi là quê mùa, hủ lậu. Điển hình như trong Lục tỉnh Tân Văn, số hai, có bài viết lên giọng dạy đời nhận xét:

“Người Annam hay dùng chữ Nho mà ta ít hay hiểu lý cao kỳ… ăn cắp chữ Tàu dùng qua chữ Quốc Ngữ … song việc dùng câu chữ Tàu như vậy thì chẳng phải lẽ, thiếu gì cách nói, sao lại dùng tiếng chi bậy bạ vậy?”(9)

Cái tâm lý trên chỉ muốn nói lên một điều rằng Hội Chứng Hậu Thuộc Địa tưởng rằng đã qua rồi, nhưng thật ra nó còn kéo dài trên nhiều mặt sau đây

Hội chứng trọng thi cử

 

image032

Bằng tiểu học 1937. Nguồn OntheNet

Tổ chức thi cử ở mọi cấp vẫn nặng nề trường ốc, học ba năm thi một giờ, vẫn lấy kết quả thi cử là thước đo nhân tài. Tiểu học thi theo tiểu học, trung học đệ nhất cấp rồi đệ nhị cấp đến hai lần thi tú tài 1, tú tài 2. Lên đại học lai phải thi tuyển.

Tôi nhìn lại, việc thi cử không mang ý nghĩa chứng nhận một trình độ đã học. Nó mang tính “đầy đọa” con người.

Nhiều vị ra đề thi phải hỏi hóc búa, đề toán phải có câu hỏi “lừa” được thí sinh mới là trứ danh. Cái lề lối thi cử ấy có từ thời tây thuộc địa. Nhưng không tránh được nó làm hao tổn tinh thần cho học sinh mới 11, 12 đã học như “quốc kêu mùa hè”. Nhưng cái rào cản tú tài 1 và 2 mới giết chết và làm hao mòn tuổi trẻ.

Không có lý gì 100 học sinh tiểu học tiếp tục học lên, rơi rớt dọc đường, kẹt cứng ở rào cản tú tài và đại học như nêm cối, như nút chặn tương lai. Và không chắc đến 10 người được bước vô cửa chính của Đại Học.

Năm 1954-1955, chúng ta có 363.160 học sinh tiểu học. 6 năm sau, con số lên đến trên một triệu, 1.001 757 học sinh. Người Mỹ “thong thả nhúng tay vào” do các cố vấn Mỹ từ trường đại học Ohio.

image034

Bằng Tiểu học 1987. Nguồn: CHXHCNVN

Họ trách nhiệm nghiên cứu, hướng dẫn đưa ra các dự án như: giáo dục cộng đồng, giáo dục tổng hợp, giáo dục chuyên nghiệp và kỹ thuật. Sau này, dần dần chế độ thi cử được thông thoáng hơn. Do sự cố vấn của Mỹ, các kỳ thi tiểu học, trung học được bãi bỏ.

Nhờ họ mà giáo dục được cải tiến nhiều. Mặt khác, hệ thống giáo dục hiện nay của nước CHXHCN Việt Nam vẫn còn là cả một vấn đề!

Hội chứng trọng bằng cấp ở Pháp

Việc học, việc thi cử là để đi đến chỗ có được bằng cấp.

Thi cử càng khó khăn thì bằng cấp càng có giá trị. Bằng ngoại quốc thì có giá hơn bằng trong nước. Cùng học ở ngoại quốc, nhưng bằng đậu ở Pháp có giá hơn bằng ở Tân Tây Lan, ở Anh quốc, Thụy Sĩ hay Bỉ.

Hội chứng Hậu thuộc địa rõ ràng là ở chỗ này: Bằng cấp là thước đo chiều cao tinh thần và định vị xã hội.

Bằng cấp là một giấy mua vé vào đời bằng cửa lớn, cơ hội thuận tiện cho những hợp đồng hôn nhân cân bằng tính toán giữa sắc đẹp, tiền bạc và bằng cấp. Người đời từng nói: Phi cao đẳng bất thành phu phụ.

Những bằng từ trường Pháp ở Việt Nam và nhất là từ nước Pháp thì vẫn là nhất. Oai hơn nữa nếu là bác sĩ học và ở Pháp.

Cái oai hay hội chứng ấy được bác sĩ thiếu tướng Vũ Ngọc Hoàn viết:

“Các quan tây công sứ, các quan đầu tỉnh Việt Nam còn nể vì các quan đốc tờ, hèn chi trước mặt thầy thuốc tây, ta chẳng thấy người dân run sợ, khúm núm. Địa vị đã cao trọng trong xã hội, lại bị ngoại cảnh chi phối dần dà các quan đốc tờ sống xa rời dân chúng, giam mình trong một tháp ngà trưởng giả.”

(Vũ Ngọc Hoàn, “Quân Y quân lực VNCH” (Le corps de Santé. Des forces armées de la République du Viet Nam), trang 21)

Cái tinh thần gò bó ấy, cụ Trần trọng Kim gọi là tinh thần Học Phiệt:

“Ở xã hội ta ngày nay, có một hạng người nghe nói đến nước mình thì ngây ngây như người ngoại quốc, sử nước mình không biết, tiếng nói nước mình chỉ biết qua loa, đủ dùng cho sự giao thiệp hàng ngày.”

(Theo Lê Thanh, Cuộc phỏng vấn các nhà văn, 1943. Nguyễn Văn Y dẫn lại trong “Nhà Giáo”, Sài gòn, 1973, trang 132.)

Quả thực đã có một thời nhiễu nhương không đáng do những Hội chứng Hậu Thuộc Địa để lại tạo ra những tranh chấp của một xu hướng bảo thủ và một xu hướng muốn đổi mới!

Quả thực đã có một thời như thế!

Phản ứng tiêu cực, chống phá và sát hại đồng loại

Và đây chính là phản ứng áp dụng cho hoàn cảnh của người bị trị. Pháp chính là kẻ thù trực tiếp của vua quan Việt Nam. Nhưng vì họ bất lực không chống lại được người Pháp thì họ đành gián tiếp đánh những ai có quan hệ với Pháp như các thừa sai hoặc giáo dân và trút đổ mọi trách nhiệm lên đầu họ.

Nếu không thể dùng bạo lực thì dùng ngòi bút của các ông Cao Huy Thuần, Chính Đạo và nhóm Giao Điểm.

Nếu chúng ta chịu khó đọc lại sử về mối bang giao với các nước Tây Phương các giai đoạn 3 thế kỷ đầu, người ta phải nhìn nhận việc có mặt của các nhà truyền giáo phần lớn là các nước Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha tương đối tốt đẹp. Các Chúa Đàng Trong cũng như Đàng Ngoài đều tin dùng các thừa sai và bổ nhiệm họ làm quan chức, ngay cả trong việc ngoại giao với các nước Tây Phương.

Tôi xin được nhắc lại một lần nữa, công của sử gia Nguyễn Khắc Ngữ đã không được các đồng nghiệp của ông đánh giá đúng mức. Có thể vì tác phẩm nghiên cứu của ông chỉ phát hành giới hạn trong những năm đầu cuộc đời tị nạn ngắn ngủi ở Montreal. Chính ông chứ không ai khác đã giới thiệu về mối bang giao giữa Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha và Hòa Lan với Đại Việt.

Ở thế kỷ thứ XVI, XVII và XVIII, khi mối giao hảo giữa hai bên nhà chúa và các giáo sĩ còn tốt. Các thừa sai người Bồ, người Tây Ban Nha đã được các Chúa trọng dụng và cho làm quan. Những điều này đã không được trình bày đầy đủ trong các hồi ký hay các thư từ của thừa sai Pháp.

Không phải đợi đến Nguyễn Ánh, Gia Long mới biết dùng các thừa sai làm việc cho mình.

Đây là một thiếu sót trong các sách sử của Việt Nam. Người duy nhất đã bổ khuyết cho thiếu sót này là sử gia Nguyễn Khắc Ngữ.

Xin ghi lại một ký sự của giáo sĩ Christoforo Borri trong ký sự của ông:

‘Chúa Cochinchina luôn luôn chứng tỏ rằng ông thích người Bồ vào buôn bán ở xứ ông vô cùng. Ông đã nhiều lần tỏ ý dành cho họ 3 hay 4 nơi trong xứ (để họ vào buôn bán) trong đó chỗ tốt nhất là Turon (Đà Nẵng) để họ xây dựng một thành phố với tất cả những tiện nghi của họ, như người Nhật và người Trung Hoa đã làm (ở Hải Phố).

Và nếu tôi được phép bày tỏ cảm tưởng của tôi với Đức vua công giáo (Bồ), tôi sẽ nói rằng Đức Vua phải ra lệnh cho người Bồ dù sao cũng nên nhận hảo ý đưa đến sự thiết lập ở đây một thành phố đẹp đẽ. Chắc chắn nơi đây sẽ là nơi trú ngụ, chốn nghỉ ngơi của tất cả các tàu bè đi sang Trung Hoa vì ở đây người ta có thể để một đạo quân sẵn sàng chống lại người Hòa Lan sẽ đến xứ này và đến Nhật Bản.”(10)

Năm 1651, đời Chúa Nguyễn Phúc Tần, nhà cầm quyền Bồ ở Ma Cao gửi tặng Chúa Nguyễn một khẩu đại bác. Chúa Nguyễn ưng ý lắm nên viết thư cám ơn nội dung lá thư như sau:

‘Quốc Vương Cochinchina kính gửi Tổng chỉ huy trưởng thành phố Macao. Trẫm thường nghe nói: Lẽ phải và công bằng là lẽ cả trên đời. Việc bang giao với các nước láng giềng lấy trung tín làm căn bản. Chính vì lẽ đó, Thành phố Macao và Vương Quốc Cochinchina kết hợp với nhau, tương thân, tương lợi, đối xử với nhau trong công lý.

Từ ngày trẫm lên ngôi (1648) đến nay, Trẫm chưa kịp bày tỏ cảm tình và lòng quý mến của Trẫm với Ngài mà Ngài đã gửi tặng Trẫm một khẩu đại bác, thứ mà Trẫm thích nhất.

Nếu Ngài muốn xin việc gì trong xứ của Trẫm, hãy cho Trẫm rõ, Trẫm sẽ chuẩn y ngay. Ngài xin Trẫm cho phép các cha vào trong xứ trẫm là việc nhỏ. Các cha quá cao cả mà đối với mỗi người lại quá nhỏ. Xin Ngài đùng quá khiêm tốn khi hỏi xin. Trẫm muốn ban cho đặc ân lớn hơn.

Viết năm thứ ba, ngày 26 thán ba năm 1951 Thiên Chúa.(11)

Sự giao hảo giữa hai bên qua các lá thư trên thật tốt đẹp. Nhưng nếu chẳng may có điều không thuận thì các thừa sai là nạn nhân thứ nhất phải gánh chịu.

Cái cảnh quít làm cam chịu chính là sách lược được áp dụng rộng rãi trong suốt thời gian thuộc địa Pháp và cả hậu thuộc địa.

image013

Augustin Schoeffler nhà truyền giáo người Pháp của Hội Thừa sai Hải ngoại Paris, sinh năm 1822 tại Mittelbronn, bị bắt và bị chặt đầu ngày 1 Tháng 5 năm 1851 tại Sơn Tây, Việt Nam. Giáo Hoàng John Paul II phong thánh cho ông năm 1988.

Họa sĩ nhân chứng Việt Nam vô danh. Giấy dán trên vải 89 × 129,5 cm. Salles des Martyrs, Missions Étrangères, Paris. © AKG-images / Amelot.

Thật vậy, Phong trào Cần Vương là một thứ biểu dương lực lượng bất cân xứng giữa đôi bên. Dù vậy, những trường hợp như Đề Thám,dù là đơn độc, đã để lại nỗi ám ảnh khó quên về kháng chiến quân. Nhiều địa danh xa xôi hẻo lánh nay trở thành những địa danh được cả nước biết tới. Những con người tiêu biểu như Phan Đình Phùng phải đối đầu với những thành phần chạy theo địch như Hoàng Cao Khải, Nguyễn Hữu Độ hay Nguyễn Thân.

Tuy nhiên, những cuộc nổi dậy ấy chứng tỏ một triều đình bất lực, thiếu hẳn chính nghĩa của một quốc gia, một cuộc khởi nghĩa của toàn dân. Đã thế, để nuôi quân, đôi khi họ phải đi ăn cướp khiến dân tình ca thán, oán trách.

Và ở giữa hai lằn đạn ấy có thể là những người giáo dân quê mùa, nghèo nàn đến đáng thương hại.

Đến lượt người cộng sản sau này trước khi lên nắm chính quyền thì đã có chiến dịch bắt cóc, thủ tiêu các ông Trùm, ông Chánh Trương trong các xứ đạo. Và các linh mục thừa sai Pháp bị bắt cầm tù trên khắp các tỉnh miền Bắc và miền Trung. Có cả thẩy 33 thừa sai và linh mục VN tại địa phận Vinh đã bị bắt giữ ngay từ ngày 20-21 tháng 12 khi chiến tranh Việt- Pháp bùng nổ. Họ bị bắt làm tù binh cho đến năm 1952, tại Khu 4-do chính quyền Việt Minh hoàn toàn kiểm sóat.

Khi chiến tranh Việt-Pháp có nguy cơ không tránh được thì trước tiên Việt Minh sát hại các thừa sai người Pháp. Có 5 thừa sai bị Việt Minh giết chết. Đó là các thừa sai Fourmier và Vacquier vào tháng 9-1945, Vibert, vào tháng 5-46, Magnin, tháng 6-1947, và Laurent, tháng 11-1947.

Dòng Đa Minh có hai vị bị giết Brebion và Maillet, tháng 10-1947.(12)

Tất cả họ đều là những nạn nhân vô tội của cuộc tranh chấp Việt-Pháp.

Tại Nam phần, nhiều sinh viên du học tại Pháp bị trục xuất trở về Việt Nam, trong đó Tạ Thu Thâu, vào thập niên 1930. Người ta thấy trên đường phố Saigon nhiều truyền đơn với khẩu hiệu: Đả đảo Tạ Thu Thâu. Nhưng Tạ Thu Thâu vẫn xuất hiện đăng đàn diễn thuyết.

Dưới đây là mấy dòng tường thuật của ký giả Nguyễn Kỳ Nam, người có mặt tại chỗ những năm biến động của Saigon dưới thời Pháp cai trị.(13)5 Năm 1930. Xin ghi nhận vài dòng về cái chết của nhưng người cộng sản đệ tứ do đệ tam ám hại, Ký giả Nguyễn Kỳ Nam viêt trong hồi ký của ông như sau:

“Cái chết cả Trần Văn Thạch, Phan Văn Chánh, Phan Văn Hùm như đã báo trước trong phiên khoáng đại Hội Nghị của Ủy Ban Hành Chánh Nam Bộ ngày 30-8-2945 […] Tôi không bao giờ quên những câu hỏi và những câu trả lời của Trần Văn Giàu. Tôi cũng không quên khi Trần Văn Giàu mặc áo sơ mi đứng lên, tay mặt đập mạnh vào khẩu súng lục nhỏ mang ở bên hông, để trả lời một câu chất vấn của Trần Văn Thạch.”

Nghe và thấy vậy ai mà không sợ.(14) Ngoài những cuộc thanh toán, ám sát giữa đệ tam và đệ tứ cũng áp dụng và cả những người Quốc gia cũng áp dụng thời đệ nhất, đệ nhị cộng hòa.

Nguyễn Văn Trung khi viết cuốn “Chủ nghĩa thực dân Pháp ở Việt Nam- Thực chất và Huyền thoại” do thiếu tài liệu tham khảo về chính sách của thực dân Pháp cuối cùng cũng là nhắm phê bình tay sai của Pháp như Phạm Quỳnh, Trương Vĩnh Ký. (Sau này, ông đã rút lại phần phê bình Trương Vĩnh Ký.

Chính Đạo thì quyết liệt và cực đoan hơn cả. Tất cả những ai là người Thiên Chúa giáo có đính dáng với Pháp thì đều bị ông xếp vào loại Việt gian cả như: Nguyễn Trường Tộ, Petrus Ký, Trần Lục, Ngô Đình Khả, v.v.

Ở một mức độ ngoại hạng có Lê Trọng Văn, Trần Chung Ngọc.

Đối với tôi có sự xác tín rằng: sự khôn ngoan của một người, của một dòng họ và của một đất nước, chính là ở chỗ biết ứng xử, biết tìm ra lối thoát, giải đáp được một tình thế. Cái mà ngày nay người ta gọi là quyền lực mềm, quyền lực thông minh (smart power).(15) Cái quyền lực thông minh ấy giúp một quốc gia đạt tới sự thành công về chính trị: The means to success in world politics.

Đó là cái lý do cắt nghĩa tại sao Nhật, Thái Lan, Singapore dành được độc lập và Việt Nam thì không.

Kết luận phần biên khảo này, tôi chỉ xin được trích dẫn quan điểm của sử gia Taylor, nó tóm tắt tất cả cái trách nhiệm của một đất nước trước sự xâm lăng của người Pháp là sự bất lực của một triều đình.

Trong cuốn “A History of the Vietnamese”, sử gia K. W. Taylor đã nhận xét tóm gọn như sau về triều Nguyễn:

image035

Hình vẽ Vua Minh Mạng. Nguồn: John Crawfurd, “Journal of an Embassy – From the Governor-general of India to the Courts of Siam and Cochin China”, 1928, trang 509

“Historians have faulted the Nguyen Dynasty of the nineteenth century for its rigid and unimaginative response to changing conditions, but the passivity of leadership at Hue during this time also reflected the palace-bound routines and limited perspectives of men in a quiet corner of the country while the northern and southern plains people were experiencing dramatic encounters with the forces of a new age. Gia Long’s successor, Minh Mang, ruling from 1820 to 1840, understood the problem and endeavored to centralize the dynastic system, but his ambition to enforce unity led to rebellion and confrontation with Siam. His successors, overwhelmed by court politics and befuddled by unprecedented seaborne threats, stiffened into spectators at the palace windows.”(16)8

Các sử gia đã chê trách nhà Nguyễn ở thế kỷ XIX vì phản ứng cứng nhắc và thiếu óc sáng tạo của họ trước thay đổi của hoàn cảnh, nhưng sự thụ động của giới lãnh đạo ở Huế trong giai đoạn này cũng phản ảnh những thói quen gò bó ở cung điện và quan điểm hạn chế của những người sống trong một góc yên bình của đất nước trong khi ở các đồng bằng miền Bắc và miền Nam người dân đã kinh qua những cuộc đụng độ thảm khốc với các sức mạnh của một thời đại mới.

Minh Mạng, người thừa kế Gia Long, cai trị từ 1820 đến 1840, hiểu rõ vấn đề và cố gắng tập trung hệ thống triều chính, nhưng tham vọng của Minh Mạng để áp đặt sự thống nhất dẫn đến cuộc nổi loạn và sự đối đầu với Xiêm La. Những vị vua kế vị ông, choáng ngợp vì chính trị ở triều đình và bị mụ đi vì những mối đe dọa chưa từng có ngoài biển, bất động thành khán giả nhìn thơi cuộc qua khung cửa sổ của hoàng cung.

© 2016 DCVOnline

trích từ DCVOnline.net”


Nguồn: Bài và chú thích của tác giả. DCVOnline hiệu và minh họa.

(9) “Dùng sái nghĩa”, Lục tỉnh Tân Văn số hai

(10) Nguyễn Khắc Ngữ, “Tây Phuong tiếp xúc với Việt Nam”, trang 58.

(11) Nguyễn Khắc Ngữ, Ibid., trang 58-59.

(12) Tran Thi Lien, “Les Catholiques Vietnamiens pendant la Guere d’Indespendance” (1945-1954, 1996, Thèse doctorat

(13) Nguyễn Kỳ Nam, “Hồi ký”, 1925-1964

(14) Nguyễn Kỳ Nam, Ibid., trang 27

(15) Xem thêm Joseph S. Nye, Jr, “Soft Power”.

(16) K. W. Taylor, “A History of the Vietnamese”, nxb Cambridge, The Dysnaty Nguyen, trang 399

02 Tháng Mười Hai 2018(Xem: 241)
22 Tháng Mười Một 2018(Xem: 293)
Sự kiện Bắc Kinh - Manila hợp tác khai thác
18 Tháng Mười Một 2018(Xem: 273)
Chiến lược Ấn Độ - Châu Á - TBD
13 Tháng Mười Một 2018(Xem: 242)
04 Tháng Mười Một 2018(Xem: 326)
Chiến lược Ấn Độ - TVD khởi động