Sài Gòn, tình yêu của tôi (Saigon my Love/Nhuận sắc)

12 Tháng Mười 20223:23 CH(Xem: 1195)

VĂN HÓA ONLINE – CỘNG ĐồNG 2 – THỨ BA 15 NOV 2022

Ý kiến/Bài vở vui lòng gởi về:  lykientrucvh@gmail.com


Sài Gòn, Tình yêu của tôi

(Saigon my Love/Nhuận sắc)

 image015

Lý Kiến Trúc

VĂN HÓA ONLINE

(Nhuận sắc 15/11/2022)

 

(Theo một số nhận xét và phê bình của các thân hữu gởi về email tôi, trích đoạn lần trước không hẳn là tùy bút, ký sự hay tự truyện, nên đổi thành truyện ngắn hay truyện dài thì tốt hơn; nay tôi đăng toàn bộ bài viết coi như một truyện vừa xin hầu chuyện quý thân hữu. Xin cám ơn các ý kiến quý báu. lkt)

 

1.

50 năm trước, cánh chim bằng C-7A Caribou từ độ cao hạ thấp dần, nghiêng cánh lượn một vòng chào phi trường, qua cửa sổ nhỏ thấp thoáng những mái nhà cao thấp lộn xộn đủ màu, những thửa ruộng ngang dọc xanh mườn mượt chạy dài xa tít; giòng sông Sài Gòn uốn lượn như con rắn đỏ oằn mình nổi bật in lên cánh đồng chẳng khác nào bức tranh sơn dầu trác tuyệt của thần Zeus, của Thánh Mẫu Địa Phủ. Tạ ơn trời đất. Cám ơn chuyến bay êm. Từ trên cao, Sài Gòn đẹp lạ lùng.

 

Cuối cùng, chiếc vận tải cơ hai cánh quạt chuyên tiếp tế vũ khí đạn dược thuốc men – người bạn thân thiết của chiến trường cao nguyên nhẹ nhàng đáp xuống đường băng, lăn bánh từ từ rồi đậu ở khu quân sự. Tôi nhìn thấy những người lính gác chung quanh mấy ụ chứa các loại chiến cơ, nhiều nhất là trực thăng. Tôi và những người lính khác, lính Việt, lính Mỹ, đủ các sắc áo, lần lượt bước ra khỏi bụng phía sau con chim sắt rảo nhanh về phòng kiểm soát. Phi trường bốc lên hơi nóng ngùn ngụt. Hơi nóng hầm hập phà vào mặt mũi lẫn mùi săng dầu ngột ngạt nhưng không lấp được niềm vui bồi hồi khó tả.

 

Kể từ lúc này tôi không còn là người của cao nguyên đất đỏ gió núi mưa rừng nữa. Tạm biệt chiến trường, tạm biệt căn cứ Doris quả đồi cô đơn, tôi sẽ “lột xác” để hòa mình vào thành phố, nơi có người yêu bé nhỏ của tôi đang chờ đợi tôi.

 

Nhìn xuống đôi giầy chiến trận còn lem màu đỏ, dấu tích của đất, của cái vùng khỉ ho cò gáy tôi đang đóng quân ngày đêm; tiểu thuyết một tí, lãng mạn một tí, vùng đất mà tôi đang sống, đang chiến đấu và sẽ … chết với tình yêu. Tôi mơ màng nghĩ về nàng, tôi sẽ khoe với nàng đôi giầy nhão nhoét dưới cơn mưa nặng hạt hắt vào mặt như những mũi kim châm chích, khoe đôi vớ nhà binh thối hoắc hàng bao nhiêu ngày đêm xa lạ với sà bông và tôi sẽ ôm nàng trong cánh tay rám nắng chai sạm, vài sợi râu lưa thưa không buồn cạo cạ vào mặt nàng. Ối chà, lúc ấy nàng sẽ ra sao nhỉ? Chắc hẳn là cười khúc khích vì nhột. Tôi sẽ chia tay không thương tiếc những ngày buồn thỉu buồn thiu dưới căn hầm phòng thủ tối ngày kêu sè sè từ cái máy PRC-25, những ngày nhấp nhổm chờ chuyến trực thăng tiếp tế nổ phành phạch đáp xuống, đẩy những thùng lương khô đạn dược thuốc men và xấp thư … Ôi! những bức thư tình ngong ngóng sốt cả ruột gởi về địa chỉ KBC đứng đầu mọi thứ.

 

Một người mặc sắc phục Quân cảnh từ đằng xa đến chào và yêu cầu cho xem giấy tờ. Tôi im lìm móc túi ra tờ giấy nghỉ phép, xem xong viên quân cảnh nện gót giầy xuống đất cái cộp, giơ tay chào tôi lần nữa rồi chỉ tay về cuối đường băng bê tông,

 

- Mời Thiếu úy theo lối cửa kia ra đón taxi về nhà. Về nhà! chà, nghe sao khoan khoái quá. Tôi cám ơn viên quân cảnh rồi vác ba lô lên vai nhanh chân bước ra khỏi cổng phi trường. Những con đường tráng nhựa phẳng phiu hai hàng me già rợp bóng lùi dần phía sau. Tôi đang về nhà. 

 

Gia đình tôi xúm lại vui mừng. Mẹ tôi nước mắt ngắn nước mắt dài. Tôi lôi trong ba lô ra vài món quà đặc biệt của núi rừng. Một thỏi cao hổ cốt cho Cha, một gói măng khô cho Mẹ, một cái gùi nhỏ của người Thượng đi rừng cho em, vân vân… Việc thứ hai là đi tắm một phát, cạo râu, diện bộ đồ lính sạch sẽ, rồi – đến gõ cửa nhà nàng.

 

2.

Nàng là cô học trò theo học ở ngôi trường nữ đẹp nhất xứ sở hoa anh đào miền cao nguyên đất đỏ -   Đà Lạt. Dáng dấp người nữ sinh nhỏ nhắn tay ôm cặp sách vở trên ngực nghiêm trang làm cho chàng Thiếu úy chùn chân dù sóng tình đang dâng lên phơi phới. Thật ra chàng đã biết nói gì với nàng đâu. Thời gian ấy, hết giờ lên lớp học Tham mưu, chiều nào chàng cũng ngồi trên bức tường “ngăn cách” nhìn qua con đường trước cửa trường nữ trung học Bùi Thị Xuân để chờ … cơn gió tình yêu.

 

Gió chiều Đà Lạt mát dìu dịu, sương thấm dần vào vai vào cổ. Mây lãng đãng vờn trên đỉnh Langbiang huyền thoại đổi màu theo tia nắng khuất dần dưới chân.

 

Về đêm, Mẹ núi Cha rừng nổi lên tiếng lửa kêu lách tách, lặng lẽ mỉm cười nhìn những đứa con trang phục cổ truyền dân tộc Rayde, M’nong, K’ho … say mê diễn khúc cồng chiêng, những con tim man dại rập rình với điệu múa Rom Wong, Kông tuôr, điệu Rom Wong, điệu Kông tuôr, múa chim Grứ huyền bí, múa võ Khiêl, nện những đôi chân rắn chắc xuống mặt đất báo cho Mẹ Cha biết rằng chúng con vẫn còn đây, chúng con vẫn hùng dũng truyền máu giống nòi Đại bàng trong sự hào phóng yêu thương của thiên nhiên hùng vỹ, đêm đêm những chàng trai trẻ Ja rai Ê đê miền cao sẽ cất lên khúc du ca thần thoại tình tứ đón tình nhân về nương về rẫy về với mái nhà sàn dài tranh nứa lồ ô, vui vầy bên đống lửa bập bùng trong những đêm trăng huyền ảo dị kỳ; ôi, tiếng hát sử thi Khan Đam san  âm u từ thủa hồng hoang của nàng sơn nữ vọng lên không gian bát ngát, kể lể về cuộc tình éo le của người con gái K’ho với chàng trai trẻ bị gia đình ngăn cản, người con gái ngồi bên sườn non khóc tỉ tê đợi ngày về của người tình bỏ xứ ra đi biền biệt, nước mắt của người con gái K’ho mờ nhạt ánh trăng khiến bóng cô Hằng nguyệt thẹn phải lẩn trốn sau quả đồi thông réo rắt khúc bi ai khóc cho mốt tình đầu diễm lệ, nước mắt của nàng tuôn ra đẫm ướt khu rừng nguyên sinh biến thành dòng thác Đambri mãnh liệt tràn xuống lũng sâu âm thầm trở về với đất. 

 

Tôi quá trẻ để có những lời thề duyên kiếp. Ngay cả chuyện chưa bao giờ thề sẽ ngồi lỳ như phỗng đá đợi tà áo nữ sinh về nhà sau giờ tan học rồi mới chịu chui vào giường ngủ; nhưng cuối cùng nàng có biết đâu trước khi chui vào giường thì tôi đã thơ thới tản bộ ra phố nhâm nhi ly cà phê Đà Lạt. Nghĩa là không cần thề thốt gì cả vì yên chí lớn ngày nào mà nàng chẳng đi học. Thế mà có bữa tôi rầu thúi ruột vì phải tham dự buổi tiệc với các quan lớn đến thăm, giảng bài, tiệc tùng chiêu đãi; thế là tôi có lý do chính đáng để bào chữa cho một buổi chiều xạo sự thề non hẹn biển.

 

Các vị quan lớn thao thao bất tuyệt về cuộc chiến ngoại lực đang chuyển dần sang cuộc chiến nội lực; các vị dẫn lời “Tông Tông” – bây giờ là lúc chúng ta bước vào cuộc đấu tranh chính trị, chúng ta phải đảm nhiệm hình thái một cuộc chiến mới, cuộc chiến ý thức hệ, lấy toàn dân làm ý chí chống chủ nghĩa cộng sản. Một cách nôm na, báo chí Mỹ gọi là “Việt Nam Hóa Chiến Tranh”, nghĩa bóng nghĩa đen của cuộc chiến này là đã tới lúc vào giờ thứ 25 người Mỹ phải bye bye Vietnam War.

 

Thế ra đây không phải là cuộc chiến của người Việt Nam? Người Mỹ sẽ nhường chiến trường mệt mỏi này cho chúng tôi, những người lính Cộng Hòa sẽ đánh nhau với bộ đội ngoài Bắc đang “hy sinh” vì chủ nghĩa xâm lược miền Nam. Hóa ra người Mỹ đến đất nước này là để thử lửa với cộng sản, đánh nhau chán rồi về nhà theo tiếng gọi của hàng triệu người phản chiến hùng hục xuống đường bên nước Mỹ, đòi con đòi cháu đòi chồng về nhà. Hai tiếng về nhà đối với người lính sao chua sót quá. Có người đâu còn nguyên vẹn thân xác để về nhà. 

 

Đối với chúng tôi đó là nhiệm vụ của người trai thời loạn. Hàng vạn người trai tuổi hai mươi từ giã học đường theo độ hâm của chiến cuộc ngày càng leo thang, ào ạt bước vào trường dậy bắn súng, dậy chỉ huy. Các ông “thầy” - huấn luyện viên huấn luyện cho sinh viên sĩ quan sau khi tốt nghiệp sẽ có đầy đủ năng lực để nắm sinh mạng một trung đội, một trung đội tác chiến tùy theo đơn vị hay ở địa phương, có chỗ từ 25 đến 40 người trang bị súng ống đầy đủ theo cấp số.

Nhưng đối với tốc độ của cơn gió tình yêu Đà Lạt thì không có bảng cấp số nào chạy theo kịp. Tức là phải ngậm tăm như ông bụt chờ “thiên đình” bổ sung thêm … người khác phái. Chiến tranh mà thiếu giống người này thì kể như vứt đi.

 

3.

Đôi khi ông Tơ bà Nhện đưa đẩy người ta yêu nhau một cách tình cờ.

Một lá thư tôi gởi về cho Mẹ tôi ở Sài Gòn kể chuyện nhà binh đi học ở Đà Lạt. Bà đem câu chuyện này kể với bà bạn hàng xóm. Hai bà là bạn nhau do cùng một đạo Hầu Thánh Mẫu Liễu Hạnh ở đền Ngã Năm và đền Quan Lớn Thủ Thiêm. Bà bạn hàng xóm kể với Mẹ tôi là bà cũng có người con gái học ở trường Bùi Thị Xuân và ông em họ của bà ở ấp Hà Nam Đà Lạt, bà nói rằng nếu cháu nó rảnh thì đến nhà chơi, rồi bà cho địa chỉ. Mẹ tôi viết thư báo cho tôi biết câu chuyện như thế. Nhận được thư, tôi cũng chỉ biết vậy thôi.

 

Số là bộ chỉ huy của tôi nhận được một khóa học về tham mưu Chiến Tranh Chính Trị ba tháng tại trường đại học Chiến Tranh Chính Trị Đà Lạt, bộ chỉ huy toàn quyền chọn một sĩ quan theo học. Tôi được chọn mà không xin xỏ, không phe cánh, không hối lộ. Niềm vui đến nhanh như cánh quạt trực thăng với tốc độ 200km một giờ bay cái vù qua Đà Lạt. Dĩ nhiên tôi không quên mượn trước hai tháng lương.

 

Đà Lạt, cái thành phố thêu dệt đủ mọi chuyện, từ chuyện ông Hoàng ăn chơi lập vương quốc Hoàng Triều Cương Thổ đến chuyện tình mê ly trên đồi ái ân. Thủa học sinh tôi thường đọc sách mơ màng về chuyện, Đồi thông Hai mộ, Bạch cung nguy nga, thác Cam Ly, những quả đồi thông vi vút ở Suối vàng, những căn nhà sàn mái cong vút lên tận mây chất chứa cổ tích thần thoại của người miền núi, và … trời ơi! tình nhân bên Hồ Than thở thề thốt yêu đương trong nước mắt.

 

Đà Lạt rất xa chỗ tôi “trấn thủ lưu đồn”, nó nằm gần biên giới Miên chục cây số, nhưng không xa bộ chỉ huy bao nhiêu. Từ căn cứ Doris tôi bay về chợ Gia Nghĩa, từ Gia Nghĩa tới chợ Hòa Bình chỉ độ hơn nửa giờ trực thăng UH-1 là đáp xuống bãi cỏ trước nhà thủy tạ Hồ Xuân Hương. Tôi tới đây vào mùa hè. Mùa hè rực rỡ. Vai ba lô dạo vài vòng phố chợ Hòa Bình, đập vào mắt tôi là phụ nữ Đà Lạt từ các cô buôn bán trong khu thương mại đến bà già ngồi bán rau trong chợ cũng đều mặc áo dài. Con người ở đây làm đẹp cho thành phố hay thành phố làm duyên sắc cho người ta trở nên thơ mộng hiền hòa đáng yêu. Lác đác có vài cái áo len tím đan màu thủy chung thướt tha bên hồ. Hình như con gái ở đây người nào cũng có đôi má hây hây đỏ. Lạ quá. 

 

Nhất định kỳ này tôi không là còn là chàng Thiếu úy trẻ măng có khuôn mặt trắng bóc hay bị mấy thằng bạn thân gọi là Thiếu úy sữa. Thiếu úy sữa thì nhất định không ngầu bằng mấy chàng lính hào hoa đậm nét phong trần chả là thần tượng của các em. Sữa thì chán chết. Âu cũng là cái thiệt thòi của tôi, nhưng tôi vẫn là tôi, chàng tuổi trẻ lắm chiều mơ mộng. 

 

4.

Chủ nhật được nghỉ học, tôi chợt nhớ đến lá thư của Mẹ. Tôi lân la tìm đến địa chỉ ở ấp “Hà Nam”. Ấp nằm dưới chân đồi kế cận gần trường tôi học. Vài con đường mòn đỏ ngoằn nghèo theo triền dốc như con rắn đỏ uốn mình lượn xuống chân đồi, lác đác mấy mái nhà màu xám quyện khói la đà chấm phá bãi ruộng rau xanh rì đẹp như bức tranh sơn dầu vẽ cảnh thôn dã đầm ấm.

 

Dường như chiến tranh bỏ quên Đà Lạt. Ấp “Hà Nam”, đó là một cái ấp nhỏ đúng nghĩa, chuyên trồng rau quả, nhiều nhất là bắp cải, về sau tôi mới biết thêm chung quanh thành phố Đà Lạt có nhiều khu vực đất đai thổ nhưỡng khác nhau, chỗ thì trồng rau quả, chỗ thì trồng mận, đào, dâu, nho, chỗ thì trà, cà phê, tơ dệt vải lụa, chỗ thì hoa. Kỳ quan nhất có lẽ là hoa, đủ loại giống hoa khoe sắc mầu lộng lẫy, hoa Mimosa, hoa hồng đỏ thẫm to gần bằng bàn tay cạnh tranh với hàng cây anh đào tới mùa cánh hồng nhỏ xíu phơn phớt như má cô gái dậy thì …  

Tôi tìm đến nhà ông chú mà Mẹ tôi cho địa chỉ không khó khăn lắm. Nhà nằm giữa một khu vườn rau bắp cải khá lớn, Những người làm vườn trên tay cái cuốc đang vun sới các luống rau thẳng hàng ngay ngắn. Tới cổng tôi gặp một người đàn ông trông không già lắm nhưng lộ vẻ rắn chắc, tay ông đang cầm điếu thuốc đang cháy dở đứng nhìn những người làm công, bộ dáng là người chủ khu vườn,

 

- Thưa ông đây có phải là nhà của chú Bình không ạ? Ông ngừng hút thuốc và hỏi,

 

- Tôi là Bình, cậu là ai mà hỏi tôi?

 

- Thưa cháu là con của bà Nhàn ở Sài Gòn bạn của bác Khánh hàng xóm với nhau.

 

- À, ra thế, cậu ở Sài Gòn vừa mới lên hả?

 

- Thưa không, cháu từ đơn vị bên kia mới qua đang học ở đây ạ,

 

- À, ra thế, trường gần đây thôi, tôi có nhận được thư của Mẹ cậu và mang lên trường nhưng không gặp cậu nên gởi lại cho ông Quỳnh chỉ huy; thế thì mời cậu vào thăm nhà, vừa nói ông vừa dắt tôi bước qua giàn hoa thiên lý dẫn vào cửa nhà mở sẵn.

 

Thoang thoảng mùi thơm hoa thiên lý chưa tan loãng hương đêm tỏa vào mũi tôi. Tôi hít một hơi thật mạnh, đầu óc lâng lâng như chưa bao giờ được thưởng thức mùi thơm kỳ diệu này, hương ngây ngất người lính trẻ. Nhà bằng gỗ đơn sơ nhưng ngăn nắp sạch sẽ, ông chú từ tốn mời tôi uống trà và hỏi thăm về đời lính của tôi. Xong, ông dắt tôi ra vườn chỉ những luống cải xanh thẳng hàng, ông có vẻ tâm đắc với mảnh vườn bắp cải xum xuê xanh mơn mởn. Tôi hỏi,

 

- Sao chú cho trồng nhiều bắp cải thế này?

 

- À, trồng rau theo mùa, mùa này bắp cải bán được giá,

 

- Bán ở đâu chú?

 

- Bán cho chợ Hòa Bình.

 

Tôi ngắm những luống bắp cải xanh non, trái nào trái nấy to bằng hai bàn tay chụm lại, tôi chợt nghĩ giá những người lính rừng chúng tôi ở Doris có được mảnh vườn nho nhỏ này, hái về luộc chấm muối cũng đủ đã đời cái bao tử thiếu rau. Độ hơn nửa giờ sau tôi xin phép ra về sau khi không quên “bốc thơm” nịnh ông chú mấy câu,

 

- Nhà chú ở cạnh chân đồi có giàn hoa thiên lý đẹp quá.

 

Nhưng trong lòng tôi hết sức cám ơn căn nhà của chú Bình có giàn hoa thiên lý, từ đó về sau mũi tôi mắc cái bịnh ghiền và nhớ, ghiền mùi thơm và nhớ rất đậm cái mùi quyến rũ, hễ gần vật thể nào có tâm hồn lai láng mà không thơm tho là tôi chán nản cực độ.

 

5.

Hình như kiểu ngồi của tôi kéo dài cả tháng lặng lẽ như tượng đá vô hồn, như con ác thú tinh ranh dán đôi mắt vào con mồi trong cơn đói khát. Tôi là con thú trơ tráo đến nỗi mỗi khi thấy bóng nàng bước ra cổng trường là tôi dán chặt vào người nàng. Có vẻ như nàng bén hơi thấy sự nguy hiểm, khi đi ngang qua chỗ tôi ngồi, nàng quay mặt đi chỗ khác, níu tay người bạn bên cạnh và bước thật nhanh.

 

Nhưng tôi lỳ lợm nuôi hy vọng mong manh như sương khói Đà Lạt la đà trên mặt bãi cỏ xanh tiếc rẻ giọt sương chưa kịp thấm vào đất đã từ từ tan rã dưới ánh nắng dã man không để lại dấu vết. Có lúc tôi chán tôi quá. Tôi là kẻ không biết cách tán gái hay mưu mô chinh phục người đẹp. Vả lại, tính tôi hay e dè ngượng ngập vì trái tim người trai tuổi trẻ đậm màu lý tưởng khi phải đối diện với nhan sắc. Tôi thầm nghĩ may ra đôi mắt si tình ngu muội của tôi, cái cửa sổ tâm hồn tôi, may ra có lần nào đó người đẹp thương tình mà trèo qua – như nàng Kiều muốn trèo qua tường để gặp chàng Kim nhưng còn mắc cở nên gài độ để lại cành kim thoa thấp thỏm cho chàng vớ phải. Cô nữ sinh tuổi học trò chắc chắn không dám trèo qua cửa sổ mà cũng không có cành kim thoa gài lại để kẻ si tình vớ được. Tội nghiệp cho tôi và cho em. Việc gì trên đời này mà chẳng có điều kiện đổi trao. Tôi là thằng vô sản tài sản rỗng tuếch lấy gì mà đổi lấy tình em. 

 

Rồi đến một buổi chiều thứ Bẩy, sau gần một tháng quan sát “địa hình và đối thủ”, một hôm chịu không nổi nữa, lòng bồn chồn, từng bước âm thầm tôi len lén đi theo.

Chỉ có mỗi một mình nàng đi về trên con đường này, con đường tình chan chứa mang tên em dù chưa biết em tên gì! con đường tình mơ ước sẽ có một ngày tôi đưa em về; nhưng khi em đi qua con dốc ngoằn nghèo thì mất dạng. Buồn quá, tôi ngơ ngẩn quay về. Hôm sau, tôi quyết chí mở cuộc “hành quân lục soát.”

 

Bờ tường chỗ tôi ngồi canh khá vắng vẻ, chắc không có ai dòm ngó. Mọi chi tiết trong cuộc “hành quân” tuyệt đối bí mật từ đêm hôm qua. Tất nhiên để thủ thế, để không ai có thể phát hiện tôi là thằng ăn trộm rình mò theo gái nữ sinh, tôi đi sau nàng không xa lắm, lại ra vẻ văn nhân thi sĩ ngắm trời mây nước, bộ quần áo lính trên ve áo đính một hoa mai đen làm tôi tự tin, nhưng tôi vẫn cảm thấy thiếu thiếu một cái gì…, à, khẩu Colt-45 quen thuộc trong tay. Rốt cuộc, khi đi tới con dốc quẹo, tôi lại lạc mất “địch” trong tầm tay. Rõ chán.

 

Sau bao nhiêu ngày đêm tương tư lẫn tức tối, lần này tôi bước hẳn ra cổng trường, canh chừng nàng vừa bước ra là tôi bám sát, nhất định tôi không rời nàng nửa bước, bộ quần áo lính nổi bật giữa bầy hạc trắng, mọi người ngạc nhiên nhìn tôi, có cô gái nào đó kêu lên,

 

- Ê kìa tụi bay, có ông lính nào lạc giữa rừng hoa.

 

 

Không! tôi không phải là ông lính bặm trợn chọc gái một cách thô bỉ, tôi là chàng tráng sĩ lạc giữa rừng hoa, mũi kiếm của tôi đã từng “hoa sơn luận kiếm” ngang dọc giữa rừng già ngàn xanh, nhưng hôm nay tôi thấy nó đã tà đầu vì chiêu pháp tuyệt luân “nhất dương chỉ” của tôi đã gục ngã trước cánh hoa rực rỡ, tôi đã khiếp nhược trước vẻ đẹp thiên thần.

Tôi tiến lại gần nàng hơn nữa, nàng tỏ ra sợ hãi, nét mặt lúng túng khi tôi đến gần bên cạnh, đôi má trắng hồng của nàng từ từ tái xanh, nàng ôm chặt cặp sách dí sát vào ngực, tôi cũng run run tay chân như thùa thãi, tôi xuống nước một cách thảm hại, mắt tôi buồn buồn thểu não, tôi ngập ngừng mở lời nhỏ nhẹ, hết sức nhỏ nhẹ,

 

– Cô ơi … cô cho phép tôi được làm quen nhé?

 

- …

 

Nàng không trả lời mà cứ rảo bước thật nhanh, nhanh như thỏ để tránh né ông lính lố bịch. Trời Đà Lạt một màu xanh ngắt, con đường đất đỏ tô điểm những tà áo trắng nhốn nháo vui nhộn, nắng ấm như ấm thêm hơn, không gian vọng lên những lời chọc ghẹo của mấy cô nữ sinh rót vào tai nàng, tai tôi,

 

- Ê tụi bay ơi, ông Thiếu úy này coi bộ đẹp trai, mặt trắng như con gái, ê, ráng nắm đầu ổng nghe mày …

Lối mòn đưa bước chân em cỏ hoang ngập lối, những cành hoa tím hai bên con dốc nhỏ ngả nghiêng cúi đầu đón nàng tiên Bạch Tuyết trở về sau chuyến đi xa. Này những đóa hoa cỏ dại kia ơi, đừng quên tôi nhé, tôi là kẻ dẫn đường đưa nàng về ngõ ngách thiên đường, sao không cúi đầu mừng rỡ thưởng ban, sao không ân cần khuyến khích, tôi là kẻ phàm phu biết rung động, biết thẫn thờ trước vẻ đẹp, biết yêu một người con gái đẹp, nếu tôi không mạnh dạn ngỏ lời cầu khẩn để nhận được dù một chút gì đó, đôi mắt đưa tình đầm ấm chẳng hạn, hóa ra tôi là kẻ ngu đần hạng nhất trên hành tinh này có trọng tội với hóa công, nếu tôi từ chối cái mỹ miều của thượng đế ban cho loài người tôi sẽ bị thượng đế trừng phạt, nếu nàng bảo tôi hãy quỳ xuống dưới chân để nhận lấy chút ân sủng, tôi sẽ quỳ xuống ngay. 

 

Trời! hóa ra nhà nàng ở ấp Hà Nam, chung quanh nhà đúng là những luống bắp cải xanh rì tôi đã thấy, trước cửa nhà nàng giàn hoa thiên lý tôi đã thấy. Gần đến cửa nhà, nàng xua tay như muốn đuổi tôi rồi bước vội vào trong. Kệ, tôi cứ đứng ì ra. Loáng thoáng tôi thấy trên đôi môi nhỏ bé của nàng lẩm bẩm gì đó, chắc nàng đang rủa tôi, anh chàng ngốc kia ơi, ai mà thèm tơ tưởng tới sự lỳ lợm của anh. Kệ, tôi cứ đăm đăm nhìn vào giàn hoa thiên lý. Nhà nàng đích thị là nhà ông chú Bình. Tôi sung sướng đến độ ngừng thở. Tôi cám ơn sự kiên nhẫn chịu đựng của tôi. Tôi cám ơn bác Khánh bạn Mẹ tôi đã se sợi chỉ hồng. Tôi sẽ đu vào sợi chỉ định mệnh đó leo vào cửa ngõ của tình yêu. Tôi cám ơn bà Tiên hàng xóm đã mở đường cho tôi “thắng trận đầu”. Tim tôi đập thình thịch như muốn vỡ lồng ngực, nó nói với tôi rằng khởi đầu của niềm tin chính là sự ngu ngốc.

 

Nhưng cách nào tôi vẫn không làm quen được nàng. Tôi thua đứt làn gió quấn quýt tà áo trắng dưới chân nàng. Gió hôn chân em còn tôi như thằng cù lần bị gió đá văng ì mặt ra đất. Tự an ủi, tôi nghĩ, đố ai bắt được đôi chân se sẻ nhảy múa tung tăng; nhưng tôi vẫn còn ấm ức, tôi đã theo bén gót nàng về đến nhà, vậy mà nàng lạnh lùng đóng cửa lại rồi biến mất, nàng tàn nhẫn bỏ rơi trái tim đang cao cung lên tột đỉnh giây văn giây vũ cung đàn thiên cung. Cú va chạm tình yêu ban đầu rơi tỏm vào cánh đồng bắp cải, mấy cành hoa cải lắc lư chế nhạo. Tôi thộn mặt đứng trơ vơ như trời trồng, nắng chiều chóe vào đôi mắt ngây ngây dại dại, giá ai thấy được mặt tôi lúc ấy nghệt ra rõ là thằng cù lần lần đầu gặp gái. Tôi đảo mắt tìm ông chú Bình may ra gỡ lại nhưng vắng lặng như tờ. Làm trinh sát theo dấu “địch” kiểu này thì bại đứt đuôi con nòng nọc. Tức tối, tôi lấy mũi giầy đá văng cục đá dưới chân.

  

Nhớ lại chuyện chàng Thiếu úy Biệt động quân học cùng lớp. Trong câu lạc bộ của trường, có một chàng Thiếu úy mũ nâu vung tiền như nước, nốc bia ừng ực, mua sắm lung tung lấy lòng cô bán hàng có lúm đồng tiền cười duyên đáo để, tháng sau đã thấy chàng ta dắt cô bé đi lượn ở khu chợ Hòa Bình. Hết ý. Thua.

 

6.

Lại một buổi chiều ngồi như phỗng đá chờ giờ tan học, chờ em chứ chờ gì mà ngại ngùng không nói. Tôi không còn e dè gì nữa, tôi đã lấy lại hùng khí của người lính biên thùy sau một đêm mất ngủ, tôi tiến sát đến bên nàng, mặc cho đám nữ sinh gần đó trợn tròn đôi mắt,

 

- Cho tôi đưa em về nhà nhé!

 

Nàng không nói gì cả, mặt đỏ bừng như gấc liếc mắt nhìn tôi thật nhanh rồi nhìn chung quanh. Nàng tỏ ra sợ hãi.

Tôi đi thong thả bên nàng, hết con đường nhựa là rẽ vào lối mòn nghiêng nghiêng thả dốc sườn đồi, những nhúm cỏ hoang mọc lối đung đưa cành hoa mỏng manh màu tím như chào đón người khách lạ, con dốc cuối cùng dẫn vào căn nhà có giàn hoa thiên lý. Tôi hồi hộp quá, nàng mở cửa,

 

- Mời anh vào nhà chơi.

 

Tôi rón rén bước vào phòng khách. Đứng một hồi lâu không thấy ai, tôi đánh liều bước qua cánh cửa dẫn vào chái nhà bên cạnh, tôi xô cửa nhè nhẹ bước vào, nàng đang ngồi bên cái bàn nhỏ, vai áo dài trắng lặng im, khuôn mặt ngây thơ dường như không gợn chút gì bận rộn. Nàng đang suy nghĩ những gì? Nàng đang thắc mắc về chàng lính lỳ lợm này là ai mà cứ bám riết theo nàng khiến nàng lo sợ ngạc nhiên lẫn bâng khuâng thích thú. Sao hắn không bám theo ai mà cứ nhè mình rồi theo đến tận nhà. Coi kìa, hắn lại bò vào tới đây. Táo tợn thật.

 

Tôi nhìn thấy cạnh bàn học có cái giường nhỏ trải vải trắng điểm vài bông hường, mùi thơm là lạ thoảng vào mũi tôi, phòng khuê nữ đẹp như bức tranh cổ. Tôi hít một hơi thật mạnh rồi bước thêm bước nữa,

 

- Em … em tên gì?

 

- Em tên … tên Khánh Băng,

 

- Tôi tên là Cường,

 

- Anh đừng làm em sợ, anh ra ngoài đi, chú em khó lắm, anh đi ra ngoài đi, em sợ lắm.

 

Mặc kệ chú Bình, xin chú tha thứ, tôi không kiểm soát được hồn tôi vào lúc này nữa, hồn tôi đang bay bổng đến tận đỉnh trời. Trước bao la cao cả, trước núi rừng thần thoại Đà Lạt, trái tim tôi từ nay trao về em, người nữ sinh áo dài trắng nhí nhảnh vui tươi thu hút hồn tôi kỳ lạ, sức hút mạnh gấp nghìn lần trái đất đang hút chân tôi chết đứng trước em. Trong khoảnh khắc trái đất ngừng quay, mọi vật nghiêng ngửa, tôi bay lên không trung, chới với, trái tim vỗ nhịp thổn thức. Không! Trái tim vang lên hồi trống hối thúc; này kẻ khờ khạo kia, ngươi là con người còn sống sót nếu đi theo tiếng gọi của tình yêu trước khi nó nhẩy ra khỏi lồng ngực tắt thở, nó thách thức lòng can đảm của ngươi, người chiến binh đang hiện diện trong cuộc đời. Can đảm lên! Tôi là một người lính. Người lính phải tỏ ra không hề run sợ trước mãnh lực của tình yêu.

 

Trong đắm say dáng dấp yêu kiều trùm lên mọi thần thức vây bủa ba tháng qua, tên phỗng đá ngồi lỳ ở con đường gọi gió tình yêu đã biến mất nhường chỗ cho mối tình chớm nở như đóa hồng gai lung linh khoe hương sắc giữa bình minh ló rạng; tôi yêu quá rồi, tôi say mê quá rồi, tôi mê muội giữa hiện thực và hư ảo, tôi không còn là tôi nữa, chút lý trí còn sót lại nhắc nhở gã si tình ngu muội phải biểu lộ khối tình chôn chặt, tôi phải hành động dù là một hành động vô thức, tôi bước tới nắm lấy bàn tay nàng, “Nhà em ở cuối chân đồi, có giàn thiên lý, có người tôi thương.” (Yên Thao).

 

Có lệnh tôi phải trở về Doris. Lớp học đã mãn khóa. Tôi không còn ở Đà Lạt vương vấn với mùi hương giàn hoa thiên lý nữa.

 

- Khánh Băng … em … tôi ấp úng nghẹn lời, tôi đến chào em, mai tôi phải trở về đơn vị. 

 

7.

Ngồi uống ca trà “sâm nam” bốc khói trên nóc hầm chỉ huy, cái ca nhôm nhà binh ấm hai bàn tay tôi lạnh ngắc. Món trà “sâm nam” chỉ có ở Doris, nó không mọc ở độ cao mà mọc ngầm dưới bãi đất đen bên con suối nhỏ dưới chân đồi. Vùng đất đai lạ, trên đồi đất đỏ, hai bên khe suối dưới chân đồi thì đất lại đen. Tôi đã nhiều lần tắm rửa ở con suối nhỏ róc rách này vào mùa hè, cây sâm nam mọc dưới làn đất đen. Vào mùa hè tắm suối thì mát lắm, nhưng tới mùa đông thì chẳng dại gì mà ngâm mình dưới làn nước lạnh như băng đá, thà để dành cái của nợ bụi đời ấy cho nó tự do ngủ vùi trên thân thể mùa đông, chờ đến mùa xuân rồi cho nó thức dậy tha hồ kỳ cọ. Vả lại, trời rét thì khó ngửi thấy mùi hôi nách lại có cái áo Jacket dầy cộm kín mít. Sá gì ba cái chuyện nhỏ hôi hám cho mệt.

 

Đà Lạt ơi, hồn tôi gởi về em chỉ có một giờ trực thăng là bay qua bên kia ranh giới. Tôi đang ngồi ở chỗ cao nhất trên ngọn đồi Doris. Đoàng! Một tiếng nổ khô khan, viên đạn bắn lén từ khẩu CKC bay với tốc độ cực cao ghim thẳng vào tim tôi. Viên đạn chính xác nhắm vào mục tiêu ngon ơ. Viên đạn trị giá 10 xu hạ gục được một tên sĩ quan trưởng đồn dễ dàng mà không tốn công tốn của.

 

Đối với người lính, viên đạn vô tình hay cố tình không thành vấn đề, vấn đề là cái chết trong nháy mắt của người thanh niên chưa biết yêu, chớm yêu hay đã yêu. Nó có vợ chưa? Bọn lính ưa hỏi nhau như vậy khi tính tiền tử tuất. Căn hầm chỉ huy ở Doris không có bóng dáng người tình, ở đây tôi chỉ có tình đồng đội chia sẻ ngọt bùi và triền miên cô đơn. Tôi, thằng lính đang khao khát yêu đương, đang yêu thương người con gái xứ hoa anh đào, tình yêu đang bơm sức mạnh vào trí óc cho tôi hăng hái vật lộn với chiến tranh, với mưu toan của kẻ thù “Nam nhi sự nghiệp ư hồ thỉ, “sự nghiệp không bằng đôi mắt người con gái xứ hoa anh đào” (Nhại theo Nguyễn Bá Trác Chiêu Lì Phạm Thái Trương Quỳnh Như).

 

Tôi hớp thêm ngụm trà rồi phóng con mắt về chân trời, nhìn về đông Biển Đông bao la, “Lòng Mẹ bao la như biển Thái Bình dạt dào” (Y Vân); nhìn về Tây, bên kia biên giới lũ giặc Xiêm la từng xâm phạm đất nước ta cướp bóc cách đây hàng mấy trăm năm; nhìn về Bắc, máu lính nhà Thanh vẫn còn bốc mùi ở gò Đống Đa; nhìn về Nam, Sài Gòn em tôi đang cắp sách đến trường.

 

Những đám mây chiều lững thững lững lờ trôi, nó trôi về đâu như tình tôi? Tia nắng chiều cao nguyên rọi vào dải mây thẫm đỏ như lụa lơ lửng trên đầu nhấp nhô rừng ơi là rừng, một mầu xanh thẫm như tấm thảm khổng lồ bao phủ mặt đất chạy dài xa tít. Ráng chiều báo hiệu cơn mưa lớn. Bầu trời từ từ đen kịt, không gian u ám không một bóng người. Bọn lính trốn hết vào lô cốt. Mưa rừng như cơn bão ập xối xả xuống quả đồi Doris gồng mình chịu đựng. Cao nguyên với những cơn mưa rừng nhiệt đới từ sáng đến chiều tối, đến khuya vẫn còn rải rắc có khi kéo dài ba bốn ngày. Mưa kèm với gió, gió hú từng cơn rợn người. Căn hầm chỉ huy đang chứa một tâm hồn ướt nhẹp đang thả hồn về Đà Lạt dấu yêu. Người yêu ơi! Em có biết tình yêu biên kia biên giới khô khan không đủ ấm người lính đa sầu đa cảm bên này.

 

Tiếng sè sè của cái PRC-25 nhắc nhở tôi đừng quên toán viễn thám đang nằm phục ở tọa độ bí mật cạnh cánh rừng bọn Miên lá mặt lá trái, lúc thì nó theo ta lúc thì nó phản thùng. Đó là khu rừng hiểm độc, nhưng đáng sợ nhất là tiếng mưa lộp bộp trên cái poncho nhựa đang trùm kín người lính, nó tố cáo người lính, mũi súng đen ngòm sẵn sàng nhả đạn.

 

Hơi lạnh từ vách đất căn hầm dã chiến khiến tôi run run, hơi thở phà ra khói, cái áo Jacket không tài nào đủ ấm cánh phổi về đêm, chân tay tôi bắt đầu lập cập, tôi húng hắng ho, tôi đang nhớ em trong cơn mưa gió rét thấu xương, tôi sờ lên ngực trái túi áo Jacket, lá thư xanh của em vẫn còn đây, nó chưa bị thủng bởi viên đạn thù.

 

Tôi tin Thánh Thần phù hộ cho tôi gặp nhiều may mắn, chưa có viên đạn nào của người anh em phương bắc chọn tôi. Lá số tử vi Mẹ tôi nhờ cụ Phán già bốc cho trước khi tôi lên đường về cái xứ chim kêu vượn hú đang đánh nhau loạn xạ; cụ bảo rằng bà yên tâm, số cậu cả này thọ, bổn mạng được Thánh Mẫu Mẹ Quán Thế Âm độ trì, chỉ có cái là phải bôn ba đây đó và gặp nhiều nghiệp chướng ái tình.

 

Hút hết điếu thuốc tôi định lăn vào ghế bố dỗ dành giấc ngủ, bỗng tai tôi nghe có một tràng tiếng súng vọng ra từ máy PRC-25. Viên Trung sĩ truyền tin nằm kế bên la lên, - Ông thầy, tổ Tây đụng, nói xong liền đưa ống combine cho tôi,

 

- Ông thầy, tổ Tây đụng,

 

- “Doris” đây, nghe rõ trả lời, “Doris” là danh hiệu truyền tin của tôi. Không có tiếng trả lời ngoài tiếng súng nổ vang,

 

- “Doris” đây, nghe rõ trả lời,

 

- Ông thầy, nghe 3 trên 5, tụi em đang bị phản phục kích. Tiếng người Hạ sĩ Thượng trưởng toán viễn thám nói tiếp, - Tụi nó đông lắm.

 

Tiếng nói bỗng tắt ngang, tiếng nổ của các loại súng liên hồi rền rền trong máy truyền tin.

 

Chết cha tôi rồi! Toán lính đi kích bị lộ điểm phục kích. Nội tuyến trong đồn? Hay tọa độ phục kích đã bị giải mã. Tiếng AK nổ khô khốc lẫn tiếng M-15 dòn dã. Có tiếng nổ lớn, tiếng lựu đạn, ầm, ầm.

 

- Doris, Doris, ông thầy … tụi em … chết hết rồi.

 

- Ông thầy …

 

Tôi hét lên,

 

- Tổ Tây nghe rõ trả lời, nghe rõ trả lời,

 

- …

 

Tôi không còn nghe gì nữa. Nước mắt tôi ứa ra. Tôi nghiến hàm răng đau đớn. Độ mươi phút sau, tôi vẫn không nghe gì cả. Bất ngờ, một tiếng nổ lớn khủng khiếp trên đầu tôi, lô cốt rung rinh, vài bao cát che đậy nứt ra đất cát. Những tiếng nổ lớn tiếp theo, đùng! đùng! Tụi nó dội pháo xuống Doris, tôi gào lên,

 

- Tư, mở tần số gọi bộ chỉ huy,

 

- “Thái dương”, “Thái dương” nghe rõ trả lời,

 

- Tôi “Thái dương” đây, 5 trên 5,

 

- Đây “Doris”, tụi em đang bị pháo kích,

 

- “Thái dương” đây, tôi đã nghe rõ trong máy, bình tĩnh, bình tĩnh, nghe chừng tiếng nổ loại nào?

 

- Có lẽ cối 61.

 

Đùng! Đùng! Đùng! Cát bụi bắt đầu lùa vào cửa hầm,

 

– “Thái dương”, tụi nó pháo liên tục. Đùng! Đùng!

 

- “Doris”, bình tĩnh, cỡ 61 không nhầm nhò gì đâu, cứ thủ cẳng dưới hầm, yên chí, tôi sẽ cho con chuồn chuồn lên ngay.

 

Tôi bình tĩnh trở lại, cầm ống combine gọi các toán đi kích khác,

 

- Đây “Doris, Doris” “nghe rõ trả lời,

 

- Tổ Đông nghe 5 trên 5 ông thầy,

 

- Mấy đứa Ok?

 

- Dạ, Ok ông thầy,

 

- Nhắm theo tia lửa phọt lên lên từ điểm nào báo ngay,

 

- Xa lắm ông thầy, nó ở hướng khác chỗ tụi em đang nằm,

 

- Ok, ằm im đó chờ lệnh,

 

- Ok ông thầy.

 

Tôi khá yên tâm, như vậy chỉ có tổ Tây viễn thám bị phản phục kích. Tiếng nổ trên đầu tôi cũng im. Tai tôi vểnh lên lắng nghe. Cái im ắng ngạt thở. Tôi lệnh người lính bảo vệ,

 

- Theo giao thông hào liên lạc với các chốt rồi về đây báo cáo,

 

- Dạ ông thầy.

 

Tôi giơ tay trái xem đồng hồ, cây kim dạ quang chỉ đúng 12 giờ đêm. Một lúc sau,

 

- “Doris, Doris”, đây “Thái dương” nghe rõ trả lời,

 

- “Doris” nghe 5 trên 5 “Thái dương”,

 

- Chuồn chuồn đã lên tới.

 

Bọn điếm chảy, nó dội pháo cầm canh, nó dội pháo khủng bố tinh thần. Người lính trở về báo cáo đa số pháo rơi vào ngoài hàng rào phòng thủ, chỉ có một hai quả rơi gần hầm chỉ huy, nó chấm tọa độ, nó dò phản ứng xong rồi chuồn. Nó muốn giết tôi bằng pháo.

 

Xếp lớn nói đúng, quả cối 61 ly gãi ngứa cái lô cốt bê tông vững như đồng, trên nóc hầm chỉ huy lại chất thêm năm lớp bao cát. Không có tiếng AK, đại liên hay B-40. Đó là điều quan trọng nhất cho biết tụi nó không tấn công đồn. Tụi nó tính gì đây. Quả đồi im lìm chờ đợi. Độ nửa tiếng sau không còn nghe pháo hú trên không, tôi vẫy tay gọi viên Trung sĩ truyền tin theo tôi bước lên mấy bậc cửa hầm, cần ăng ten PRC-25 thẳng lên bầu trời, tôi đảo mắt nghe ngóng trên cao, tiếng ù ù trong màn tối nghe rõ dần, con chuồn chuồn đã đến, nó đang lượn trên đầu Doris. Tách! tiếng nổ của hỏa châu, trái châu phủ sáng quả đồi và lân cận, chiếc dù trắng nhỏ đong đưa theo gió đêm. Tôi đưa mắt quan sát các nơi, trên đầu tôi con chuồn chuồn tiếp tục lượn trên đầu, có lẽ nó đang tìm mục tiêu đặt khẩu pháo, ánh sáng hỏa châu mờ dần. Tách! lại thêm cánh dù trắng bung ra lung linh. Tần số con chuồn chuồn sè sè gọi vào máy PRC-25 của tôi,

 

- “Doris, Doris”, “Chim ưng” đây, nghe rõ trả lời,

 

- “Doris” tôi nghe 5 trên 5, chào “Chim ưng”, ông thấy chỗ đặt pháo của tụi nó không?

 

- Không.

 

Tiếng sè sè trong máy PRC-25, 

 

- Ok, Doris, tụi nó lủi rồi, lâu lâu nó gãi ngứa ông bạn, tặng ông bạn thêm trái châu nữa, chúc may mắn, Good by, Tách!

 

Viên phi công này coi bộ rành nghề yểm trợ phe ta.  

 

Một đêm trắng mắt. Trời sáng bảnh, tôi cho lính xuống đồn lục soát, tìm chỗ toán Tây đi kích. Hai giờ sau, lính vác về đồn ba xác lính của tôi, cái máy PRC-25 đeo trên lưng người lính truyền tin vỡ nát. Tôi cho ba người nằm ngay ngắn cạnh hầm chỉ huy. Mấy người vợ Thượng xúm lại khóc ỉ ôi. Tiếng khóc nhức nhối tim tôi, nước mắt tôi chảy ra lúc nào không biết. Đây là cú đấm đầu tiên của người anh em phương Bắc đánh dằn mặt trưởng đồn Doris. Bất giác tôi chua chát cười khì - Hừ! đây là cuộc chiến thứ nhất vượt khỏi sự kiểm soát của tôi. Được, không sao, đợi đấy.

 

Tôi trở vào hầm làm tờ trình hành quân báo cáo chi tiết trận đụng độ về bộ chỉ huy. Toàn bộ lính đồn trú trong trại không ai bị thương. Viên Thượng sĩ Thượng thường vụ, tôi coi như phó đồn xin đưa ba xác về buôn làng chôn theo tục lệ người M’nông. Tôi gật đầu nhưng phải báo về bộ chỉ huy.

 

8.

Những bức thư tình theo cánh chim sắt bay qua bay lại. “… Anh ạ, hình như người đưa thư cứ chờ em đi học về là tặng cho em lá thư gởi từ KBC. Em mừng quá, không kịp cởi áo dài, em cẩn thận lấy con dao nhỏ xíu dọc bao thư ra rồi lăn ra giường. Anh yêu ơi, lá thư lấm màu đất đo đỏ, lá thư ướt nhòe nước mắt em, anh biết không, sao vậy anh? Nghe anh kể về quả đồi của anh được ăn pháo, ăn pháo là ăn cái gì vậy anh, anh nói ăn pháo là ăn đạn pháo kích của Vi Xi bắn vào Doris. Trời ơi, Doris là nơi anh đóng quân. Em sợ quá, em lo quá, em úp lá thư xuống mặt, nước mắt em bỗng tuôn ra. Em thương anh quá, em làm được gì cho anh, anh chỉ cho em đi, có cái gì che được pháo không anh, em có che pháo cho anh được không. Anh ơi, đêm qua em nằm mơ thấy hai đứa mình lang thang trên con đường mòn dẫn về căn nhà có giàn hoa thiên lý, bỗng nhiên em vấp phải hòn đá té nhào, em gọi tên anh, gọi tên anh nhưngy anh ở đâu không giang tay ra đỡ em… Em hiểu rồi, anh xa em quá mà, mà em cũng xa anh nữa. Hai đứa vẫn còn xa nhau quá chưa biết đến bao giờ mới được gần nhau. Không, không bao giờ em quên được anh, em luôn ở bên anh, chỉ có anh là quên em thôi, mấy cô Thượng quyến rũ anh rồi phải không? Anh cứ mải ở cánh rừng heo hút, làm cách nào mà em có thể đến được bên anh trong lúc em chỉ là cô học trò yếu đuối bé bỏng, em ghen với mấy cô Thượng đó nghen. Anh còn thuốc lá hút không? Tháng này em để dành được nhiều tiền Má cho, em sẽ mua bịch Craven-A loại 10 điếu gởi cho anh nhé …

 

Những dòng mực tím của nàng làm cho tôi quên đi trận pháo kích vừa rồi, tim tôi bừng lên niềm tin mãnh liệt, em vẫn yêu tôi, em vẫn nhớ tôi. Tôi sẽ đền bù cho em dù biên giới cách xa vời vợi. Ai cấm chúng ta thương nhau tìm nhau trong cơn bão lửa hận thù. Tình yêu của em sẽ làm cho anh sống sót trong trận chiến này. Tình yêu không bao giờ chết khi người ta còn sống, không có một thứ vũ khí tàn bạo nào có thể chia lìa những kẻ yêu nhau.

 

“… cuối thư, em báo cho anh một điều quan trọng, em không còn ở căn nhà có giàn hoa thiên lý nữa, em đã về Sài Gòn học ở trường gần nhà. Mùi thơm của hoa thiên lý không còn vương trên tóc em, anh ơi, anh có còn nhớ mùi tóc em khi hai đứa mình đi bên nhau trong cơn gió tình yêu Đà Lạt không?

 

9.

Năm sau, đợt nghỉ phép đầu tiên của tôi rơi vào mùa hè. Mùa hè rực lửa yêu thương đang chờ đón tôi.

Hai đứa ngây người đứng lặng nhìn nhau. Nàng trợn tròn đôi mắt khi thấy tôi lù lù xuất hiện. Không đứa nào nói được một lời nào. Không gian chùng xuống nghẹn ngào ngấn lệ. Một tiếng nho nhỏ thốt ra trên cửa miệng nàng,

 

– Anh!

 

– Em!

 

Nhìn quanh không thấy ai, tôi nhào tới ôm chặt nàng, mắt tôi rưng rưng, tai tôi ù điếc, mũi tôi nín thở, tim tôi ngừng đập, tôi không còn là người lính chỉ biết súng đạn, cái chết và hận thù. Tôi, chàng trai hai mươi hai tuổi đang thổn thức ôm em trong vòng tay ngờ ngệch. Em, người con gái trăng tròn lẻ hiền hòa như trái đào tiên khép nép trong vòng tay ân ái. Nàng từ từ gỡ tay tôi ra rồi nhanh nhẹn chạy vào bên trong gọi bà Mẹ,

 

- Má ơi, anh Cường mới về, anh Cường mới về.  Bà Má nàng bước ra tươi cười,

 

- Ủa, cháu mới về hả,

 

- Dạ, tôi cúi đầu chào bà rồi thưa con mới được về phép.

 

Mẹ nàng chỉ bộ sa lông bảo tôi ngồi rồi gọi nàng pha trà. Bà ngó tôi chăm chăm. Sau một hồi tra hỏi vấn đáp, tôi dạ thưa rất cẩn thận rồi ấp úng xin phép bác cho tụi con ra phố chơi. Bà vui vẻ cười nhưng lên tiếng dặn dò,

 

- Nhớ đứng đi đâu xa nghen chưa.

 

Hồi đó, cái giấy phép đi phố của bà Mẹ cô con gái cưng nặng ký gấp trăm lần cái giấy phép của lính. Bà Mẹ “vợ” tương lai nào mà chả hắc ám, bả cho đi nhưng dặn tới dặn lui. Ối trời! miễn sao bả Ok là trăm sự đều xuôn sẻ đẹp trời. Tôi sướng mê tơi. Thật là tuyệt được đi bên em. Em đúng là Sài Gòn của tôi mong ước. Sài Gòn của tôi áo dài đen tuyền khoe làn da trắng nuốt như vì sao hôm lấp lánh giữa màn tối cao nguyên. Sài Gòn của tôi vội ôm chặt eo ếch người lính ào ào phóng cái xe Lambretta màu trắng như con bạch mã lồng lộn xổ chuồng trên phố.

 

Thế là ngày đầu tiên “mối tình đầu” Đà Lạt đi bát phố Sài Gòn. Đúng. Không có cái gì trên đời này có thể xóa mờ mối tình đầu. Nó khắc vào tim những nét gì đó chưa thể tả được, nó đóng con dấu son vào giây phút đầu tiên ấy một chữ: Yêu.

 

Mấy ông tiểu thuyết gia chế ra mấy chữ tiếng sét ái tình nghe hay tợn. tiếng sét ái tình xé toang con tim người lính trẻ phát ra ngọn lửa phát thệ yêu thương. Nàng là mối tình đầu của tôi từ lúc nào nhỉ? từ con dốc ngoằn nghèo ở ấp Hà Đông hay từ tiếng hát tình ca của người con gái Ê đê con của Mẹ núi Langbiang nhập hồn. Tất nhiên phải là mối tình đầu vì tôi thất điên bát đảo hàng tháng trời, vì có tiếng sét vớ vẩn nào đâu ngoài đôi mắt xanh như hồ than thở và mái tóc thề vi vu như cánh rừng thông của cô nữ sinh Đà Lạt.

 

Có lẽ hình bóng người trai thời loạn khiến quả tim nàng nữ sinh đổi nhịp, hay nàng đã bị miểng tiếng sét ái tình của tôi văng vào xiểng niểng. Cứ cho là như thế đi. Tôi trông cũng oai ra phết chứ bộ. Nàng chẳng “tán” thế ư trong những bức thư tình nắn nót dòng mực tím. Chẳng bù với Doris của tôi, nản quá, đàn bà Thượng không có mùi thơm, tóc cháy khét nắng lửa cao nguyên, đôi vú thì xệ xuống tận rún.

 

- Em à, mình đi phố ăn kem nghen.

 

- Dạ.

 

Hai đứa tôi chen vào hàng người ở phố vỉa hè sách đại lộ Lê Lợi. Người ta chen chúc nhau chọn sách, chọn tác giả, sách lền khên bày trên các quầy tạm. Cái vỉa hè độc đáo nhất thủ đô Sài Gòn đã thôi miên giới văn chương, giới nghệ sĩ, giới thi sĩ, giới triết gia, kể cả các tên tuổi viết lách ngoài Bắc cộng sản cũng nở rộ ở cái vỉa hè này. Chưa hết, hàng đống truyện tiếu lâm, truyện kiếm hiệp, tử vi bói toán cũng chen chân vào làng tác giả tên tuổi. Nói tóm lại, cái vỉa hè chở đạo “không khẳm” làm nở mặt nở mày bao nhiêu nhân vật qua những câu chuyện rôm rả ở quán cà phê vỉa hè của cánh dân ghiền đọc sách. Cái vỉa hè độc nhất vô nhị ở đại lộ Lê Lợi đưa giới văn học giới văn nghệ sĩ lên hàng danh vọng. Lý do: vỉa hè bán sách chạy như tôm tươi, bộn bạc hơn, rẻ hơn, so với các nhà sách sang trọng nghiêm cẩn. Saigon là thế đó.

Chọn lựa chán, nàng, người nữ sinh áo trắng lớp đệ Tứ mua tặng chàng “quan một vốn dòng thư sinh” cuốn tiểu thuyết “Mặt trận miền Tây vẫn yên tĩnh”. Cái tựa hay hay hợp với lính.

“Mặt trận miền Tây vẫn yên tĩnh” của tác giả Erich Maria Remarque – người Đức, viết năm 1939, năm thế giới bước vào Đại chiến lần II. Dịch giả tài hoa Phạm Trọng Khôi chuyển ngữ sang tiếng Việt. Nhà xuất bản Lá Bối in tại Saigon năm 1969 – năm chiến sự Cao nguyên trung phần Việt Nam bùng nổ dữ dội. Phe Bắc quân gọi là mặt trận Tây nguyên.

Đó là cuốn tiểu thuyết thời ấy gọi là phản chiến. Truyện kể về một câu chuyện tình thời loạn. Tôi không biết chuyện tình của người lính bên kia trời Tây có giống như chuyện tình của nàng và tôi bên trời Đông hay không, nhưng xem ra ý người đẹp muốn nơi cánh rừng heo hút đó, nơi quả đồi trơ vơ đó, mong cho tôi vẫn bình yên, mong hằng đêm tôi vẫn nằm mơ thấy nàng. 

Sài Gòn vui như tết. Nhất hạng là tôi thấy em vui. Em có vui không khi cùng tôi sóng bước trên đường? Có những con đường gập ghềnh mà em chưa biết. Em có bao giờ tưởng tượng ra được cuộc chiến ở biên giới cách xa em hàng trăm cây số nó như thế nào không. Chắc chắn là không. Hình ảnh cao nguyên rừng rú lạ hoắc lạ hoe đối với người nữ sinh thành phố. Tôi nghĩ cũng chẳng nên nói về chiến tranh làm gì cho em nghe. Chiến tranh và rừng rú của bọn tôi đúng theo nghĩa đen là nơi chỉ có súng đạn gào thét khét lẹt, là nơi hầu như chưa có bước chân người, nếu có, chỉ có loài râu tóc tua tủa man rợ như loài dã nhân. Nhưng nói làm quái gì thứ đó cho em sợ, nỗi sợ đó dành riêng cho chúng tôi. Ra trận ban đầu đứa nào mà chẳng sợ, có thằng vãi đái ướt cả quần. Tôi không biết bộ quần áo trận tôi cố tình mặc hôm nay dắt tay nàng đi phố có mùi rừng rú không nhỉ? Thây kệ! cho nó lãng mạn nên thơ một tí – áo anh mùi thuốc súng ngoài mưa khuya lê thê qua ngàn chốn sơn khê … (Nguyễn Văn Đông).

Ai chết thì chết, ai khổ thì khổ, những cái chết của người lính trận được chở về nhà thân nhân trên chiếc xe cam nhông nhà binh chạy qua con phố. Cái mùi chiến tranh ác nghiệt nó phảng phất Sài Gòn đâu đây.  

Cầm cuốn “Mặt trận miền Tây vẫn yên tĩnh”, tôi hỏi, em đã đọc nó chưa? - Dạ chưa!

10.

Dạo hàng sách chán, chúng tôi chui vào rạp xinê Rex xem phim “Romeo và Juliet”. Phim này do Mỹ sản xuất năm 1968 dựa theo vở bi kịch tình mãnh liệt của đại văn hào William Shakespeare viết từ cuối thế kỷ 16 bên nước Ăng lê.

 

Thời ấy, cái thời của Sài Gòn với những chàng trai tuổi độ hai mươi, cái gọi là tình yêu nó lãng mạn không thể tưởng tượng nổi, nó trắng như tờ giấy học trò mỏng manh, gan góc lắm cũng chỉ đến mức cầm tay người yêu mà run run như “thần tử thấy long nhan” (Hàn Mặc Tử). Ôi, cái lằn ranh đỏ tình yêu thời ấy nó bao trùm người trai biên thùy. Nó là quả núi gia phong của mấy bà Mẹ “vợ” đặt trước mặt chàng rể tương lai. Không thể cãi được.

 

- Này cháu, đi chơi gần đây rồi nhớ về sớm nghen chưa.

 

- Dạ.

 

Bà quay lại cô con gái cưng,

 

- Nhớ về sớm nghen con,

 

- Dạ.

 

Vậy mà trong ánh sáng mờ ảo của màn ảnh đại vĩ tuyến, đúng lúc Romeo hôn đắm đuối nàng Juliet, tôi hít một hơi thở mạnh nắm chặt tay em, tôi vân vê mái tóc nhẹ như tơ thơm thơm mùi bồ kết, tôi choàng qua vai em kéo sát vào tôi, tôi ghé vào tai em nói qua hơi thở, – em đã đi xem xinê với ai chưa? Nàng quay mặt lại đôi môi sát vào mặt tôi, – dạ chưa. Thân tôi tê dại, tôi tẩn mẩn tần mần nẩy ra ý định hôn nàng nhưng ngần ngừ chưa dám. Hôn là thế nào ấy nhỉ! Chỉ hôn lên má thôi mà sao khó khăn hơn cả việc cầm súng đánh nhau. 

Hết phim, hai đứa tôi dắt tay nhau đi lò mò qua mấy con phố, nhìn thấy bảng hiệu Brodard to tổ bố,

- Mình vào đây ăn kem nghe em, 

- Dạ.

Tôi mở cửa nghía vào trong, các mệnh phụ phu nhân diện a la mốt soiree bó sát người, áo trắng giầy cao gót trắng, áo đỏ giầy cao gót đỏ, không có cái váy nào dài tới đầu gối, hai vai hở nách trông mát mẻ hơn cả cái máy lạnh rù rì, trên đầu bà nào bà nấy quấn bộ tóc to như cái ổ quạ, tay các bà chen nhau chỉ vào dẫy bánh ngọt sau tủ kính; coi bộ không xong, tôi kéo nàng lên tầng trên, tôi gọi cho nàng ly kem dừa, chúng tôi ngồi im lặng bên nhau nhìn những người khách xa lạ ồn ào. Tiếng hát của Andy Williams với ca khúc Love Story nhức nhối. Một hồi lâu, nàng ăn hai ba muỗng kem rồi nói,

- Anh à, mình đi chỗ khác đi anh, chỗ này em không thích, em chỉ thích có bản Love Story thôi.  

Hai đứa tôi xuống đường, Love Story vọng theo nho nhỏ. May quá, nhờ em không thích ồn ào, tôi bèn rút lui trong vòng trật tự. Thiệt ra, vì thấy các bà móc tiền ra trả tiền bánh nhiều quá, tôi đâm hoảng.

Tôi dắt nàng đi tới quán Givral đối diện nhà hát lớn của Tây thực dân để lại sau đại bại trận Điện biên Phủ, lố nhố đám phóng viên Tây Tầu Mỹ Pháp ngồi tụm năm tụm ba lỉnh kỉnh máy ảnh máy quay phim ngó chằm chặm vào hai đứa tôi cứ như sắp bắt được con mồi lạ; coi bộ không êm, tôi rút dù cho lẹ.

Nghe nói các chính trị gia cò mồi lẫn đối lập trong tòa nhà Quốc Hội thường ra Givral ngồi bàn “mao tôn cương” nghiêm trọng sau những giờ nghị trình văng nước bọt; gần kế bên là khách sạn Caraven nổi tiếng với chú “bồi” mặc com lê trắng sọc dưa đỏ đứng oai vệ trước cửa chẳng kém gì ông tướng quảng lạc. Các ký giả phóng viên quốc tế nườm nượp đến Sài Gòn thường mướn phòng đóng đô ở đây săn tin chính trị tin cường độ chiến sự ngày càng leo thang. Chiến tranh lan rộng cả nước. Rất may cái đồn Doris heo hút của tôi còn nguyên vẹn. Nghe nói Caraven nổi tiếng với câu chuyện tiếu lâm truyền khẩu kể rằng sau một đêm say sưa ca hát ở một phòng trà ca nhạc, đám văn nghệ sĩ tranh nhau lé mắt nhìn vào lỗ khóa trên lầu Caraven xem chàng văn sĩ phòng trà nổi tiếng đang “đ” em ca sĩ trứ danh trên salon. Sài Gòn là thế đấy. 

Coi bộ cũng không êm, tôi lại dắt tay em băng ngang qua thềm cửa Quốc hội, nghếch cổ lên nhìn tượng đài chàng Thủy quân Lục chiến đang chổng cái mông to tướng vào mặt – Ê cha nội! đừng cho tụi tui ngửi bom khinh khí Little Boy-Hiroshima nghe cha nội. Tôi dợm bước vào Continental Palace, thấy toàn mấy ông tây bà đầm thoải mái ngồi uống bia phì phà khói thuốc như đang ở Paris, tôi lại hoảng. Hình như tôi có đọc đâu đó câu chuyện của bà Kim Lefevre, một nhà văn cha Pháp mẹ Việt từng sống ở thủ đô Sài Gòn lâu năm, nói những chính trị gia quốc tế thường giao thiệp với những phụ nữ thanh lịch nhất của Sài Gòn ở Continental.

Gió đường hắt vài sợi tóc lòa xòa lên khuôn mặt bỡ ngỡ của nàng, tôi thấy lấm tấm mồ hôi rịn trên trán nàng, tôi nôn nao quá. Hai đứa tôi đi ngược lên con dốc thâm thấp hướng về phía nhà thờ Đức Bà, dừng lại trước cái quán có tên hay hay – La Pagode. A! quán cái chùa, cái tên nghe vui vui, 

- Anh ơi,

- Gì em,

- Em khát nước,

- Ồ! anh tệ quá, anh xin lỗi em, vào đây vào đây.

Nghía thật lẹ vào dẫy bàn sau lớp kính dầy, coi bộ êm, tôi mở cửa dắt nàng vào trong, người ta đang râm ran nói về sách này sách nọ tác giả này tác giả nọ, đúng là nơi hợp với tôi. 

Ra vẻ một anh nhà văn nhà thơ “nhà báo hại”, với con mắt của người lính, tôi liếc một vòng tiệm, chọn được một chỗ ngồi ở góc quán sát cửa kính nhìn qua bên kia đường, tôi kéo ghế cho nàng ngồi, ở vị trí này tôi có thể quan sát khá rộng, bên kia đường một công viên nhỏ khá đẹp giữa phố nhộn nhịp, hàng cây me tỏa bóng mát vỉa hè dành cho khách đi bộ, có cái ghế đá đá trống vô duyên lọt thỏm dưới lùm cây bông giấy, chắc là nơi “thằng nhạc sĩ vàng chơi guitar đỏ” nghễnh cổ nhìn đời than thân trách phận. Có tiếng hát vừa đủ nghe phát ra từ cái máy băng nhựa Akai, Ghế đá công viên, dời ra đường phố, người già co ro, chiều thiu thiu ngủ, người già co ro, buồn nghe tiếng nổ, em bé loã lồ, khóc tuổi thơ đi…”  Tôi nhìn qua công viên, không thấy em bé lõa lồ nào nằm ở đó; tiếng hát ma quỷ lại cất lên, “Đại bác đêm đêm dội về thành phố” … À, kể ra thì người thành phố cũng nao nao vì tiếng đại bác của quân ta hay quân thù, nghe nói có thằng lá gan to bằng thỏ đế mới nghe đùng một phát hai hột mít đã lộn lên cổ rồi lẹ làng chui tọt xuống gầm bàn.  

- Em uống gì anh gọi,

- Em thích nước chanh đường. 

La Pagode, cái quán mà nhà văn Văn Quang viết rằng “Nói đến La Pagode, Givral, Brodard… chắc chắn những người đã từng sống, từng ghé qua Sài Gòn chưa ai quên. Nhất là những văn nghệ sĩ, nhà báo, dân biểu, thường ngồi ở đấy làm nơi trao đổi tin tức nghề nghiệp. Còn một số lớn khách du lịch, sĩ quan, quân nhân, công tư chức làm việc tại “thủ đô miền Nam” và các bạn trẻ Sài Gòn thập niên 60-75 cũng hay lui tới nơi này.”

Ông nhà văn nổi tiếng của giới văn chương Sài Gòn quên khuấy mấy chàng lính từ miền xa về thành phố. Hóa ra cái thành phố này không phải của bọn tôi, Cái thành phố nghe nói có đứa chế nhạo bọn lính rừng là bọn “mán về thành.”

11.

Không sao! cứ cho là như thế đi.

Em sẽ “lột xác” tôi trở thành thị dân mấy hồi. Tôi sẽ cởi bộ Treyji “anh hùng bạt mạng” ra khoác vào bộ Civil bảnh chọe, sắn tay áo sơ mi vải soa ngà ngà hàng hiệu Pháp khoe cái Longine vàng chóe, quần tây Tissu de gaze xám, chiến đôi giầy da nâu hỉnh mũi, chải Briantin bóng mượt mái lên tóc loăn xoăn, xức Eau de Cologne mùi đàn ông lên mặt lên tay, tỉa bộ ria mép lún phún, móc cái Dunhill ra châm điếu Dunhill, vân vân, đố bọn khỉ nó biết hồn cốt tôi là lính rừng, bọn khỉ đột nó quên rằng những người lính trẻ tụi tôi giã từ đại học mà lên đường theo tiếng gọi của núi sông.

Đối với bọn nó, Sài Gòn là cái ghetto của bọn con cái nhà giầu, của bọn trốn quân dịch, bọn văn nghệ sĩ nhát như thỏ đế dựa hơi ông tướng bà lớn, những triết gia vĩ đại dằn vặt triết lý gió đông gió tây giữa bề bộn chiến tranh và hòa bình đang diễn ra ở mảnh đất miền Nam, bọn con buôn thi nhau kiếm chác, bọn chính khứa ba hoa chích chòe áo mão cân đai rượu nồng gái đẹp, nhà lầu xe hơi, rất bén hơi kiếm tiền tham nhũng; buồn cười nhất là mấy nhà luân lý học đạo đức học chính trị học làu làu kinh điển Socrate, Aristotle, Marx Engel Stalin với cây gậy thần thông chuyên chính biện chứng duy vật sử quan trước khi lên lớp giảng bài đêm trước đã làm dấu chùn chụt, lâu lâu bị nghẽn tầm tư tưởng siêu việt vì cái chủ nghĩa “chàng hảng” cứ nhè cữ canh ba đồng khởi vùng dậy. Thế là ngài triết gia tầm vóc lãnh đạo bế tắc đường công danh, nhưng so ra thì đều chào thua bà tiến sĩ “nuật” cứ thích lăn kềnh ra lề đường công chúng qua lại, banh cái “mu rùa tuyệt thực” ra khoe với đám “nuật gia” thộn mặt đạo đức, rồi bà gào lên khản cổ đả đảo “thiệu kỳ khiêm độc tài tay sai bán nước”, bà gào lên đòi lính Mỹ về nước, bà chống Mỹ cứu nước đến thế là cùng.

… nhưng tôi vẫn không quên trong tận cùng cái bóng tối xã hội lắm chuyện, không gian trầm mặc của thư viện cặm cụi những mái đầu trên những trang sách nghiêm cẩn, bóng dáng gầy ốm của người Thầy tận tụy trên bục bảng đen, Thầy đã cho ra lò không biết bao nhiêu thanh niên trang bị lòng di hận nước non. Tôi nhớ hồi còn học lớp Đệ Tam, giờ của Thầy dậy sử, gần hết giờ, Thầy cao hứng hát cho bọn học trò chúng tôi nghe, “Tôi yêu tiếng nước tôi từ khi mới ra đời người ơi, Mẹ hiền ru những câu xa vời, à ạ ơi! tiếng ru muôn đời”, tiếng nước tôi! bốn ngàn năm ròng rã buồn vui, khóc cười theo mệnh nước nổi trôi, nước ơi! (Tình ca/Phạm Duy). Cả lớp ngồi im phăng phắc như cóc trong hang, có đứa gục đầu suy tư.

… lại càng tức khí cho bọn “mán về thành” nghèo rớt mùng tơi “rách” như cái mền phải đi chơi ở xóm nhà lá ngã năm. Lính muốn chơi đẹp mà chơi không nổi. Hừ! cứ cho là như thế đi. Được cái giấy phép về thành phố là mừng hết lớn, “thủ tục đầu tiên” là phải đắn đo tính toán cái bóp, tiền đâu mà hiên ngang dắt em vào cao lâu Chợ Lớn, hay buồn đời đen bạc chui vào Dancing lắc lư với mấy em vũ nữ thơm nức mũi. Tôi nhếch mép, không có gì ngạc nhiên với cái thành phố này, đó là cái thành phố hủ lốn pha trộn màu sắc đáng yêu, đáng ghét, đáng ngẫm suy. Sài Gòn là thế đấy. 

Sài Gòn về đêm với những cái villa hách xì xằng kênh kiệu, trong đêm tối thì nó cũng chẳng khác bao nhiêu cái xóm kênh đen nồng nực mùi sình, chỉ khác là villa có cổng sắt còn nhà lá không cần cổng. Bên trong kín cửa cao tường thì khó ngửi thấy được mùi sình, nhiều khi thối hoăng lan từ thời triều đại này sang triều đại khác nhưng cố che đậy đắp điếm. Ối giời! đêm đen thì nhà ngói cũng như nhà tranh.

Sài Gòn về đêm bà con dắt tay nhau đi hưởng gió từ bến sông Bạch Đằng thổi vào mát rời rợi, những mái tóc tung lên theo chiều gió vô tư. Bọn trẻ con tụm năm tụm ba xí xô xí xào bên chiếc xe bò khô gan cháy đu đủ xanh cay xé miệng. Dọc dài dãy phố là hàng loạt quán cà phê xập xình bolero, rên rỉ người chết hai lần thịt da nát tan. ĐM! nghe đến buồn nôn. Đám nhóc hippy quần loe áo hở rốn đang bí bốp bờ lu la quay cuồng, chắc học được luồng tư tưởng siêu hiện thực của ông triết gia hiện sinh Jean-Paul Sartre đang nổi như cồn ở vỉa hè Lê Lợi nhập vào nên mê man.

… nhưng hấp dẫn nhất vẫn là ánh đèn neon lập lòe xanh tím đỏ vàng từ mấy cái snack bar lượn lờ các em cave váy bó váy xòe mông tròn cún cỡn, bộ áo ngực rách gần đến rún rúng rính rung rinh khoác tay mấy chú GI chui vào hộp. Các chú mắt xanh mũi lõ độ tuổi hai mươi ở mãi bên trời tây bay qua cái nước nhỏ xíu viễn đông xa xôi lạ hoắc để … đánh nhau tơi bời và lõ mắt thèm nhỏ dãi gái Việt. Những mối tình thời đại Việt-Mỹ chớm nở. Tôi nhớ xưa còn là học trò ưa đi xem phim ở cái rạp  rẻ tiền nhất, rạp Văn Cầm Phú Nhuận; hôm đó rạp chiếu phim Sayonara (Japanese Goodbye), kể chuyện một chàng sĩ quan Mỹ mê cô gái Nhật có cành hoa đào cài trên mái tóc, mối tình đẹp như thơ trong cơn ác mộng chiến tranh, niềm thù hận dân tộc nhường chỗ cho tình yêu xuyên biên giới, người con gái Nhật thể hiện vai diễn không quên phong tục lễ giáo gia đình và nền văn hóa Hiệp sĩ đạo đã ăn sâu vào trí óc và nhân cách; phim chinh phục khán giả, mê cả Mỹ phong lưu lẫn gái Nhật gia phong. Tôi nhói lên niềm chua xót cho cái đất nước khốn khổ khốn nạn đang học đòi hay bị học không thuộc bài chủ nghĩa tự do dân chủ nên xả láng “xài” thân xác người phụ nữ con cháu bà Trưng bà Triệu bà Bùi Thị Xuân bà Đoàn Thị Điểm rẻ rúng. Không có cái ác nào bằng cái ác xài người.

… ngẫm cho cùng, các chú GI nhiều khi còn chung tình hơn chàng trai tuấn tú nước Việt, nhiều chú GI nặng tình nặng nghĩa tìm đủ mọi cách truy tìm người Mẹ và đứa con lai bảo lãnh qua Hiệp chủng Quốc Hoa Kỳ. Từ năm lính Mỹ đổ bộ vào bãi biển miền Trung rồi tràn ngập hang cùng ngõ hẻm thì con lai ra đời bộn, tùy theo cấp số địa phương mà thống kê, nhưng có lẽ ở hòn ngọc viễn đông các cháu đẹp đẽ hơn, thông minh hơn nhờ các bà “văn minh hơn, láng lẫy hơn, thơm hơn.”

… ngẫm cho cùng, các chú qua đây cóc cần biết gì về “Vietnam War”, về “Việt Nam hóa chiến tranh”, về “Thay đổi màu da trên xác chết”, vân vân và vân vân… của bọn phản chiến già mồm ra rả trên báo chí, các chú đến đất nước này xả thân nơi chiến địa vì Tự do, vì lời hiệu triệu của Tổng thống, yêu Dân chủ là phải đi đánh nhau, đánh nhau tối ngày với bọn Vi Xi, thế thôi. Nhưng đi đến đâu thì cái bóp trong túi các chú lúc nào cũng phải căng phồng. Tôi không hiểu các em cave cặp tay các chú vì tình hay vì tiền, chắc chắn những bàn tay nhỏ nhắn kia khi thò vào là phải moi cho bằng được cái của “nợ” ấy. Nhưng công bằng mà nói, phải hết lòng ca ngợi sự hy sinh vô bờ bến của chị em ta. Các chị em ta coi cái của thìu biu ấy như đồ phế thải, miễn sao “móc” cho được đô xanh đô đỏ dồi dào về nuôi chồng nuôi con xây nhà xây cửa đóng góp quê hương giầu mạnh. So ra cái của thìu biu ấy làm chuyện công đức vô lượng hơn gấp vạn lần bọn trí thức quan viên mũ ni che tai tự nguyện đi làm “bồi” cho đế quốc.

… chiến tranh ở đất nước này sao lạ quá. Thành phố có những hình ảnh kỳ quặc quá. Ôi chao, tội nghiệp những tối cao nguyên của bọn tôi mịt mùng dưới chiến hào và đại bác. Tội nghiệp những giấc mơ dưới căn hầm dã chiến. Bọn tôi đâu có thì giờ thắc mắc vì ba cái chuyện lăng nhăng ở thành phố. Bọn tôi còn phải lo đánh nhau tối ngày với người anh em bên kia chiến tuyến. “Mt trn min tây” trong trí óc tôi không lúc nào được yên tĩnh. Vi Xi quấy phá liên miên, lâu lâu lại cho ăn vài quả pháo. Điên người.

Trên môi đọng lại vị ngọt ly nước chanh đường, tôi bước đến cái máy hát ở trong góc quán cái chùa bỏ vào ít đồng rồi nhấn nút. “A Time for Us, A time for us, some day there'll be, when chains are torn by courage born of a love that's free, A time when dreams so long denied can flou/rish, as we unveil the love we now must hide. A time for us, at last to see, A life worthwhile for you and me”.  Em quay lại yên lặng nhìn về tôi, dáng ngoan hiền. Tôi đưa mắt vào mắt em, như thầm gởi về em tiếng hát của Engelbert Humperdinck, tiếng hát của Barratt Waugh tha thiết nồng nàn. Thỉnh thoảng tôi thấy em ngượng ngùng đưa mắt ngó quanh, xếp lại tà áo viền hoa đài các ngay ngắn, vén mái tóc mai bò vô trật tự trên má. Tôi lại nhấn nút. Tìm nhau trong hoa nở, Tìm nhau trong cơn gió, Tìm nhau trong đêm khô hay mưa lũ… (Phạm Duy). Tiếng hát liêu trai Thanh Thúy, “Mưa buốt lạnh trong đêm, đứng trên thềm ga vắng, hắt hiu ngọt đèn vàng em tiễn anh, mưa ướt mềm đôi vai, biết bao điều chưa nói, biệt ly sầu vời vợi có gì vui …” (Đêm giã từ/Y Vân). Này em, em có nghe không, lời tỏ tình khổ đau của âm nhạc, trong đó có anh chờ em trong cơn gió tình yêu Đà Lạt. Tiếng hát bỗng ngưng bặt, tôi táy máy tìm cái nút. ĐM! Cái máy cà chớn, hết tiền là hết hát.

 

… có lúc tôi bối rối nhìn em, mái tóc buông hờ ngang vai, tà áo dài trắng nổi lên vẻ đẹp lạ lùng giữa đám người văn minh thời trang đủ kiểu. Tôi cảm thấy vẻ đẹp đơn sơ của người nữ sinh e thẹn thu hút hồn tôi hơn là những cảnh hào nhoáng náo nhiệt chung quanh. Vẻ đẹp đơn sơ chỉ ở lại thời nữ sinh con gái, giản dị tưởng như không có gì giản dị hơn, đẹp như không có gì đẹp hơn. Vẻ đẹp nào bằng vẻ đẹp của người thôn nữ, chỉ có cái quần Mỹ A lãnh đen gồ lên đôi mông tròn lẳng, cái áo bà ba trắng sẻ tà kín đáo lộ ra chút xíu da bụng trắng hếu … bấy nhiêu thôi cũng đủ thương nhớ suốt đời. Tôi căm ghét thời gian không dừng lại ở thủa thơ ngây mà dọn sẵn những gai góc buồn phiền trên đường đời dằng dặc. Hình như mối tình đầu nào bắt nguồn từ giản dị, mong manh, chất phác, sẽ nuôi kiếp người tình không bao giờ gặp phải hai chữ phản bội. 

 

12.

 

Xem ra nàng có vẻ thích thú cảnh nhộn nhịp phố phường. Tôi ngầm lên tiếng bênh vực cho em, phải rồi, ở đây, không có tiếng đại bác ì ầm, không có tiếng chửi thề của bọn lính, không có những căn hầm tối om lạnh lẽo, không có những bữa cơm nửa đói nửa no, tênh hênh bát đũa lạnh ngắc; ở đây người ta bình thản hưởng thụ cuộc sống hậu phương được cung phụng từ hàng triệu cây số mảnh vườn quê nghèo chăm chỉ. Nhà quê phải cung cấp gạo nước thực phẩm rau cải cho đầy chợ Sài Gòn. Hàng hóa ở trong những cái kho PX phải đổ vào sau những tấm kính bóng lộn. Sài Gòn phải làm dáng cho những ông chủ lớn, xoa tay, chễm chệ trên ghế salon, cho các chính khách ngoại quốc đến thăm, hậu hĩnh đón đưa, cho đám phóng viên “phản chiến” lé mắt. Nghe đâu có ông nghị sĩ hòa bình nào đó phán một câu xanh rờn khi dạo trên vỉa hè Catinat: “Saigon là cái ổ điếm!!!”

 

Ông chính khách cuốc tế ơi, ông quên hàng vạn người lính của ông bỏ mạng sa trường ở cái đất khổ này; ông quên tội nghiệp em tôi, người nữ sinh áo trắng Việt Nam lành như con giun đang làm dáng cho quán cái chùa La Pagode. Tôi bật ra tiếng chửi đỏng, tổ cha cái đám phản bội linh hồn người lính chỉ giỏi ăn nói lăng nhăng. Nó móc “lò” gái Việt, nó bứt cọng ngò trịnh trọng mang về làm “quỷ liệm” gối đầu giường rồi chửi đổng Sài Gòn. Thiệt ra trong đôi mắt lim dim những đêm mất ngủ, nó nhớ đắm đuối Sài Gòn.

 

- Anh nói gì thế anh?

 

- À không. Em nhìn kìa. 

 

Một chiếc xích lô tắp trước quán cái chùa, một phụ nữ bước xuống kiểu cách, dáng vẻ kiêu kỳ với bộ quần áo thời trang, váy hoa phủ hơi quá đầu gối một chút, giầy cao gót đen mũi nhọn đúng mốt, áo hở cổ xẻ sâu cố tình phô bày bộ ngực no phình, nhan sắc tô điểm toát ra vẻ đẹp của mẫu người giầu có, ăn chơi, nhìn chung là đẹp và hấp dẫn, dân thành phố gọi là tầng lớp thượng lưu quý tộc.

 

Người phụ nữ điệu nghệ bước xuống xe không nhìn một ai. A! phụ nữ thượng lưu được giáo dục khi bước ra đường không được ngó quanh ngó quất.

 

Bà ta đẩy cánh cửa kính bước vào quán, đứng một lúc rồi có vẻ như tìm được chỗ thích hợp, cái bàn trống bên cạnh cửa kính sát vỉa hè. Bà ta tỏ ra tần ngần lộ vẻ bực dọc, lại đứng một lúc rồi tự kéo ghế ngồi xuống. Mùi nước hoa Chanel- N°5 đắt tiền lan tỏa nhanh chóng đến những cái mũi phập phồng. Dĩ nhiên mũi tôi lúc ấy cũng giống như cánh chuồn chuồn hít vào thở ra. Giới ăn chơi Sài Gòn hễ ngửi thấy mùi nước hoa trên người đàn bà thoáng qua là có thể đoán ra “em” thuộc giai cấp nào, các em cave thì thích nhất Tabu. Kể ra thì trên cái giường mờ mờ ánh đèn mật ong thì Tabu vẫn đê mê hơn Chanel.

Một người bồi lễ phép tiến đến bên cạnh đứng chờ, bà ta giơ hai ngón tay lên nói nhỏ điều gì đó nhưng không nhìn người bồi, một cử chỉ rất Tây rất Mỹ rất sang cả. Có thể bà ta đang chờ người tình mà phải là người ngoại quốc, thường thì người ngoại quốc hay có phong cách đến trước giờ hẹn và lịch sự kéo ghế cho phụ nữ ngồi, khác với phe ta thì luôn đi trễ giờ, ngồi trước, vợ khép nép theo sau tự kéo ghế mà ngồi. Mọi con mắt trong quán dường như đổ dồn về người phụ nữ thơm lừng. Nhưng rõ ràng tự nãy giờ, tôi chú ý, có một thằng chó đẻ nó cứ xoáy đôi mắt láo liên vào khuôn mặt em, vào bàn tay em, vào cổ chân trắng nuốt trên gót giầy nho nhỏ của em, rồi nó thì thầm với nhau. Tôi khó chịu đứng dậy, quăng tờ giấy bạc lên bàn. 

- Mình đi đi em. Anh đói bụng rồi.  

- Sao đi vội vậy anh?

- Em không thấy thằng khốn nạn nó nhìn em như con chó săn mồi à!

- Dạ không. Em không thấy.

Bước ra khỏi cửa quán cái chùa, tôi choàng tay qua vai nàng ghì chặt vào lòng, tôi hôn phớt nhẹ lên mái tóc nàng nhưng cố tình giữ thật lâu. Thật ra lúc ấy tôi chỉ muốn thoát cho nhanh cái quán cà chớn, thoát khỏi những đôi mắt cú vọ xỏ lá đểu giả, nhưng tôi muốn cho bọn nó thấy rằng nàng là của tôi, em là của tôi, tôi là chủ, không có con mắt láo liên nào được “địa” vào em. Tôi rủa thầm trong bụng, cỡ tụi chó đẻ này chỉ mới nghe đùng một phát đã chạy như vịt. 

Hai đứa tôi đi tìm một quán ăn nhỏ trong hẻm khu phố Eden, bàn ghế kê sát lối đi. Mùi chả giò thơm phức, mùi phở bò lừng lừng cồn cào cái dạ dầy lâu lắm đã phải chia tay với nó, có khi cả năm cũng không ngửi được nó đừng nói đến húp. Thức ăn bốc khói mang ra, niềm vui mau chóng trở lại với chúng tôi. Nàng ngồi bên cạnh ra chiều vui sướng, chúng tôi tràn ngập hạnh phúc, chúng tôi không còn biết những gì bận bã xung quanh, không cần biết những gì về cuộc đời xôn xao này nọ, chúng tôi chỉ cần biết là đang ăn với nhau ngon lành, chúng tôi đang là của nhau từng giây từng phút những ngày lính về phép,

- Này em, hồi còn ở Đà Lạt, anh đi theo em tới con dốc thì em mất tiêu, em đi đâu vậy, nàng cười, nụ cười tươi như hoa hàm tiếu,

- Em ngồi thụp xuống đất trốn anh, anh biết không hồi đó em sợ hết hồn, em méc với Má cái ông lính này ở đâu cứ bám theo em như đỉa, Má cười tủm tỉm.

Tôi khoái chí quá cười ha hả, hai cô gái ngồi bàn bên cạnh quay lại nhìn tôi. Tôi muốn cắn vào đôi môi chúm chím, nhưng giả lờ che thói gian manh, tôi gắp miếng chả giò để vào chén nàng và nốc một hơi ly bia lạnh khoan khoái,

- Em à, nghe nói có ông lớn nào đó ở Sài Gòn ngày ngày đi xe ô tô mỗi tháng kiếm cả trăm ngàn, 

- Em không biết, nhưng lương của anh được bao nhiêu?

- Hai mươi lăm ngàn, ồ, em cũng biết lương lậu à?

- Em nghe Má hỏi thế,

- Má hỏi sao,

- Má hỏi lương sĩ quan được bao nhiêu?

- Lương sĩ quan thì khá hơn lương lính một chút, em không nghe câu tiền lính tính liền à,

-  Sao em thấy lon của người ta màu vàng còn anh thì màu đen?

- Ồ, người ta ở thành phố đeo mai vàng cho đẹp, còn anh ở rừng đeo mai đen để đạn nó không nhìn thấy,

- Đạn nói cũng biết nhìn sao anh?

- Trời ơi, đạn nó là ma mà em, nó tránh người chứ người đâu tránh được nó, nó nghía vào sổ thiên tào thấy tên nào vắn số thì đâm vào.

Thấy nàng có vẻ thắc mắc về đời lính, tôi bèn kể cho nàng nghe cái ngày đầu tiên tôi được thả xuống quả đồi Doris, quả đồi máu…

13.

“… Mùa hè năm 1971, chiếc trực thăng UH-1 chở anh bay là là quanh mấy quả đồi, nhìn xuống toàn là đồi thấp đồi cao và rừng là rừng một màu xanh thẫm, người xạ thủ đại liên trên trực thăng giơ ngón tay chỉ cho anh, quả đồi đập vào mắt anh là quả đồi có màu đỏ ối. Nó như cái bát úp xuống đất giơ cái đế lên đỏ ngầu. Trực thăng từ từ đáp xuống khu đất nhỏ bằng phẳng, cánh quạt quay tít, bụi bay mù mịt. Viên phi công Mỹ ra hiệu cho anh nhảy xuống rồi đưa tay ngón cái lên chào Goodbye! Trực thăng từ từ bốc lên cao bay về hướng Bắc. Lúc đó anh phấn khích lắm, không sợ hãi nhưng rất bỡ ngỡ trước cảnh núi rừng hùng vĩ trùng điệp bạt ngàn màu xanh tưởng như kéo dài vô tận đến chân trời và … trời ơi! quả đồi đỏ chót. Anh hơi choáng váng, nhưng khi nhận được sự vụ lệnh bổ đi làm trưởng đồn thấy cũng oai lắm chứ ... anh cảm thấy trách nhiệm nặng nề đè lên hai vai.

… đây là một căn cứ nhỏ của quân đội Mỹ bàn giao lại cho quân đội ta. Lưng đeo ba lô, khẩu Colt-45 ngang lưng, anh đứng quan sát chung quanh. Trước khi bay đến đây anh đã nghe thuyết trình nhiệm vụ ở phòng 3 hành quân. Đọc trên bản đồ tác chiến, quả đồi này cao khoảng năm trăm mét, từ độ cao này anh có thể quan sát tứ phía. Bỗng có hai người lính chạy vụt ra, một người lính Thượng và một người lính cũng đen thui như Thượng, chỉ khác là lưng đang đeo cái máy truyền tin cần ăng ten lủng lẳng. Hai anh lính đứng nghiêm chào rồi dẫn anh đi vào cái lô cốt ngầm gần đó. Một người lên tiếng,

- “Thiếu úy”, đây là hầm chỉ huy, “Thiếu úy” ngủ ở đây. Tôi khoác tay hỏi ngay cái thắc mắc đầu tiên,

- Sao trại toàn màu đỏ thế này? Anh lính Thượng cười nói,

- Tụi em mới bắn được một con voi đi lạc vào buôn làng, xẻ thịt tại chỗ rồi khiêng về trại, rồi lại xẻ thịt ra thiệt nhỏ phơi nắng trên hàng rào phòng thủ cho khô để dành ăn.

- Ồ! Anh tên gì? Chức vụ?

- Dạ em tên S’rô, Thượng sĩ.

Người lính thứ hai, trông trẻ hơn người kia, đứng nghiêm giơ tay lên trán,

- Trình diện “Thiếu úy”, em tên Tư, Trung sĩ truyền tin. 

À! Hóa ra anh chàng này là người Kinh, hèn chi đeo máy truyền tin. Thế là anh có bạn cùng tiếng nói rồi. Thiệt ra khi mới ra trường sĩ quan Bộ Binh, chỉ là Chuẩn úy thôi, nhưng hầu như ở mặt trận lính gọi là Thiếu úy, vì chữ Chuẩn úy hơi khó gọi, vả lại, độ hơn năm sau là tự động lên Thiếu úy.  

 … Em biết không, bữa nhậu đầu tiên của anh ở cái đồn có tên là Doris camp, ông Thượng sĩ người Thượng khai báo. Ông Thượng và ông Kinh mời anh cụng ly. Trên bàn nhậu là cái bình toong rượu đế, dĩa thịt voi luộc, vài hạt muối đá, ba cái ly nhỏ, một ca trà nóng. Viên Trung sĩ truyền tin nói,

- “Thiếu úy”, cái vòi con voi là chỗ thịt mềm nhứt, tụi em được lịnh từ Chi khu ra đón Thiếu úy nên nấu sẵn món này “chào hàng” Thiếu úy.

Trời ơi, em biết không, lần đầu tiên đời anh được thịt voi chào hàng. Không biết nó ngon cỡ nào, trong bụng thì ơn ớn, nhưng cũng phải ráng nhai, nuốt theo luật chào hàng của Doris camp. Mấy bữa sau lại có măng luộc chấm muối với thịt trăn, thịt trăn trắng như thịt gà, ngon lắm. Anh hỏi người lính Thượng,

- Ai là thường vụ ở đây? Người lính Thượng đáp,

- Dạ em Thiếu úy.

- Có bao nhiêu quân số?

- Dạ 40 không kể vợ, trại này trước đây do sĩ quan biệt kích mũ xanh Mỹ chỉ huy và có một khẩu đại bác 105 ly, họ câu đi rồi.

- Từ nay trở đi anh em đừng bắn giết loài vật ở rừng nữa. Tội nghiệp lắm.

Anh lính truyền tin nói,

- Thiếu úy, ở đây phải uống rượu đế để chống sốt rét, ở dưới chân đồi hơi xa có con suối nhỏ, có bãi sâm nam, tụi em đào củ lấy về nấu nước trà uống. Nói xong hắn cười tủm tỉm,

- Em tên gì?

-Dạ em tên Tư.

- Có vợ chưa?

- Dạ độc thân vui tính.

Nghe hai thuộc cấp báo cáo một hồi anh hớp vài hơi đế xay chừng. Mở tấm bản đồ hành quân ra xem lại. Ừ, đúng, nó là Doris camp, nó là căn cứ tiền tiêu gác giặc biên giới.

Tôi bước ra căn hầm đi đến nóc cái công sự cao nhất quan sát tứ phía, những dẫy hàng rào đỏ chót thịt voi chằng chịt quanh đồn. Bài học chiến thuật đầu tiên của Trường Bộ Binh đào tạo sĩ quan chỉ huy Trung đội là địa hình. Phải nắm cho chắc địa hình trong mắt trong tay trong óc. Sống hay chết phần lớn là do địa hình. Các căn cứ của Mỹ để lại cho Việt Nam thường chọn đóng ở những điểm cao chiến lược, xạ trường quan sát rộng khống chế các vị trí nghi ngờ chung quanh. Họ xây rất chắc chắn các công sự phòng thủ, chiến hào sâu tới vai chằng chịt từ hầm chỉ huy ăn thông tới các công sự tác chiến. Hầm chỉ huy vừa là nơi anh ngủ vừa là trung tâm truyền tin, nó được coi là chỗ vững chãi nhất của Doris camp. Đêm đầu tiên anh ngủ ở đây, gió hú rợn người từ hai ngọn Chư Yang Sin và đỉnh Tà Đùng thổi về ù ù, từng cơn gió rít qua lớp bao cát che chở cửa hầm như tiếng chém của lưỡi Thanh long Yến nguyệt đao thời Tam Quốc của nhà văn võ hiệp Kim Dung, nghe mà phát ớn.

… trại lính này trước đây do một toán biệt kích Mỹ Green Berets trấn thủ cùng với gần trăm người lính Thượng phần lớn là dân tộc M’nông và Ê đê. Nó là một căn cứ dã chiến, ngênh ngang mọc lên giữa bạt ngàn, hỏa lực nhỏ, nhưng vị trí khá quan trọng, nó là tai mắt của bộ chỉ huy. Trên bản đồ hành quân và trên địa hình thực tế, Doris là tiền đồn cuối cùng của quận Đức Lập tỉnh Quảng Đức nằm gần ranh giới tỉnh Ban Mê Thuột. Theo đường chim bay, về phía Tây, Doris cách biên giới Miên khoảng mười cây số, về hướng Nam dọc theo con đường 14 chiến lược là căn cứ lớn Đức Lập và căn cứ Núi Lửa, núi cao nhất của quận Đức Lập, hồi năm 1968-1969, hồi còn Mỹ đóng quân, Đức Lập và Núi Lửa đã diễn ra những trận đánh kinh hồn ghi vào chiến sử, Vi Xi chết như rạ, ngược lên hướng Bắc sẽ gặp thành phố Pleiku có những cô gái mềm như mây chiều trong, phía Đông Bắc là thành phố buồn muôn thủa cách Doris hơn 20 cây số.  

… anh “trấn thủ” ở đây vào mùa hè, khi hoàng hôn buông xuống sau dãy Trường Sơn, mây vờn lưng chừng những quả đồi lướt nhẹ như bông qua Doris, nếu anh biết vẽ thì Doris đẹp lắm, đẹp ngạo nghễ cao ngạo so với những quả đồi xung quanh vì nó cao hơn tất cả. Ngồi trên nóc lô cốt nghe gió hiu hiu, sương rừng đổ nhanh xuống hai vai thấm lạnh, nhìn về thành phố buồn muôn thủa ánh điện lập lòe mà lòng buồn thỉu buồn thiu. Trong niềm cô quạnh, mơ về phương Nam mờ mịt, anh nhớ em, nhớ người con gái có đôi mắt sáng như ánh sao đêm, sáng hơn cả ngọn đèn 500 watts ở Sài Gòn …

- Xạo, anh nói xạo, chỉ khéo nịnh,

- Thiệt mà. Nàng nhoẻn miệng cười.

… em biết không, quả đồi hầu như cách biệt khỏi xã hội con người. Mọi phương tiện di chuyển đều bằng trực thăng, nhưng đối với những người lính Thượng và vợ con họ, họ có những con đường mòn riêng của họ dẫn vào con suối dẫn vào buôn làng. Thời gian qua trại lính này được sử dụng trong khu vực hành quân chiến thuật ngắn hạn, xong chiến dịch rồi họ kéo đi. Rất may là Doris chỉ là căn cứ tiền tiêu nhỏ, tai mắt của Đức Lập, hơn nữa khi trận Đức Lập xẩy ra, Doris chỉ ăn pháo hơn là điểm tấn công chính, không có cảnh tràn ngập biển người như Đức Lập.

… khi Mỹ bàn giao lại cho quân ta thì ta giữ lại một số lính người Thượng, họ trở thành lính của ta, quân số địa phương, cộng thêm vợ con của họ. Tất nhiên vợ thì làm gì có quân số có cấp bậc có lương, công việc chính của mấy bà Thượng là đeo gùi đi lấy nước ở suối, lấy củi và chặt măng. Theo bảng cấp số đồn, tụi anh chỉ ở cấp trung đội nhưng được bổ sung thêm nên trại viên khá đông, hỏa lực cũng khá. Anh vừa là trung đội trưởng vừa là đồn trưởng, lại có được mấy chàng lính nói tiếng Việt thân thương bên cạnh, coi như ban chỉ huy. Không hiểu vì lý do nào mà quả đồi mang tên Doris. Nghe nói lúc trước viên sĩ quan biệt kích mũ xanh chỉ huy chết trận pháo ở đây.

… vui nhất là cái ngày anh tập họp điểm danh quân số. Lố nhố bên cạnh hàng quân đứng dưới cột cờ Doris là một đống trẻ con ở truồng, mấy bà Thượng nhe hàm răng cà răng căng tai cười toe toét, ngực để trần cặp vú lòng thòng thỗn thện luôn tay chỉ vào ông quan mới toanh mới đến trấn nhậm. Từ thời cổ đại hàng vạn năm trước thời ông tổ ông sơ họ cùng họ hàng với anh, người thì lên núi người thì về xuôi người thì xuống biển. Nghe họ nói chuyện với nhau bố ai hiểu nổi, nhưng hầu như ánh mắt của họ rất nhu hòa và tỏ ra thần phục. Coi bộ họ rất thích thú vì có một tên trắng bóc ở đâu lọt về đây sống với đám đồng đen.

… anh nhớ có lần viên Trung sĩ nói nhỏ với anh, ông thầy chớ có đụng vào mấy em Thượng nghen, nó “thư” bùa yêu vào bụng cho ông thầy mấy cục đá là hết đường chạy.

Có vẻ thắc mắc điều gì bí hiểm, nàng hỏi,

- Bùa yêu là bùa gì anh?

- Ồ, bùa yêu Thượng kinh lắm, lúc nó mềm lúc nó cứng như đá thẳng đứng chiều không độ, khi nó thư vào bụng là đơ người ra bất tỉnh.

Nàng hỏi tiếp,

- Thành phố buồn muôn thủa là thành phố gì vậy anh?

Tôi cười. Là thành phố Ban Mê Thuột; b, m, t lính gọi là buồn muôn thủa. Nàng nhoẻn miệng cười, nụ cười hiền ngây ngô, mắt long lanh sáng như con nai tơ.

- Thế Vi Xi là cái gì anh?

- Là Việt Cộng chứ là cái gì.

Nàng định hỏi gì nữa nhưng nửa chừng ngưng tỏ ra suy nghĩ. Tôi nói tiếp, anh mới “trấn thủ lưu đồn” được mấy tháng, anh bị một trận sốt rét rừng gần chết. Viên Trung sĩ truyền tin cấp báo, nửa tiếng sau một chiếc trực thăng nổ phành phạch ở bãi đất nhỏ, hai người lính Thượng khiêng băng ca anh nằm lên sàn chiếc trực thăng, lúc đó anh mê man rồi không biết trời đất gì nữa, mặc cho nó muốn chở đi đâu thì đi, về sau, tỉnh dậy mới biết đang nằm trong bệnh viện của Sư đoàn 23, hậu cứ thành phố buồn muôn thủa. Một anh thương bệnh binh nằm bên cạnh nói, “Thiếu úy hên lắm đó, nếu trễ vài ngày nữa là ông đi đoong, ngỏm tù tì, sốt rét ác tính mà lỵ”. Lúc đó, anh mệt và yếu sìu, mặt thì vàng khè, chân tay run lẩy bẩy, đi phải có người đỡ, không hiểu sao mấy ngày sau tóc nó cứ rụng dần, riết cái đầu trọc lóc.

… nằm ở bệnh viện nghe văng vẳng tiếng hát của mấy em ca sỹ Sài Gòn phát ra từ cái ra dô nhỏ xíu, hát bài gì đó có câu chờ ngày dệt xong áo chung tình, em mang tới đồn mà tặng anh”, đám lính tráng cười lên hô hố rồi ồ ề hát nhái lại, “em đem cái lờ - ồn mà tặng anh … em đem cái lờ - ồn mà tặng anh”. Bảo đảm trăm phần trăm không có em nữ sinh hay cô ca sỹ nào sức mấy mà leo lên tới cái đồn cao cả trăm mét để tặng anh cái đó. Tôi vừa cười hề hề vừa nói tiếp, 

- Em có dám leo tới cái đồn để tặng anh cái đó không?

- Cái đó là cái gì anh?

- ….

- Mấy củ sâm nam nó hại anh, em có biết không?

- Hại sao anh?

- Uống trà sâm nam riết, lâu lâu súng bắn nước trời.

- Nước trời là nước gì vậy anh?

- Là nước … ờ, … là nước của trời. Người nữ sinh thành phố nghe chuyện lính vô tư như học trò dốt nghe thầy giảng bài.

Câu chuyện lính ở Doris tạm chấm hết. Nàng đòi về, con đường Pasteur đèn vàng lên bóng, hàng cây me già hắt hiu bóng tối. Tôi vòng tay ra sau lưng nắm lấy tay em để vào bụng tôi, em ôm chặt cái eo ếch người lính, đầu nàng áp sát vào ngực tôi, tôi cố tình vặn tay ga thật nhẹ, con bạch mã ngoan ngoãn hiểu ý chủ, nó đồng lõa với ngọn gió chiều hôm hất tung mái tóc của nàng, mùi thơm của tóc em tỏa dài con đường rộn ràng ghi dấu tình tôi, sợi tóc đang quấn lấy hồn tôi buộc chặt tim tôi giam vào lầu tía. Em có biết không. 

14.

Làm như tôi có duyên với mùa hè nắng cháy. Nắng hạ bơm lửa tình tôi. Nắng kích thích thân xác tôi hào hứng tột độ, mọi huyết quản hâm hấp mặt trời bừng lên sức sống. Tôi cảm thấy yêu đời mùa hè hơn đời mùa đông giá rét, nó hành hạ người lính đủ trò, nhớ khủng khiếp người yêu kèm theo cái bao tử lép kẹp, thèm ghê gớm ly cà phê sữa nóng thơm lừng ngồi nhả khói vu vơ trong góc quán nhạc; ôi, ly cà phê sữa nóng thần tiên không xuất hiện ở ngọn đồi Doris mặc dù sáng nào người lính hầu cận cũng lo cho một ly đen nóng. Nhưng quan trọng bậc nhất là thèm thuốc lá. Thuốc lá Ăng lê Craven-A ở đâu mà có ở cái xứ khỉ ho cò gáy này.

 

Theo bảng cấp số, tôi được một cái ghế bố nhà binh, một cái mền dạ màu xám xịt và một khẩu Colt-45, khẩu phần lương khô gạo mắm muối đủ thứ giao cho viên hạ sĩ quan hậu cứ. Hết. Thân tôi vốn mảnh khảnh, ngày đêm co ro trong chiếc áo Jacket dưới căn hầm lạnh như tiền. Căn hầm vô cùng quan trọng, nó che chở cho tôi sống sót qua cơn mưa pháo thù, nó vắng bóng người tình nhưng vô cùng thân thiết với người lính, nó là nơi tôi mơ giấc mơ nhỏ bé bên ngọn đèn 5watt nhỏ bằng ngón tay soi những trang sách “Mặt trận miền Tây vẫn yên tĩnh”, cái máy cassete player rỉ rả ru tôi những đêm không ngủ. Bạn duy nhất của tôi là cây đàn guitar hạng bét, tôi nâng niu ôm nó ngủ như ôm người tình.

 

Tôi ngán quá mùa đông cao nguyên. Sương núi đất trời che mờ con mắt, đồi núi chập chùng xanh thẫm mờ mờ ảo ảo dưới đám mây xám xịt. Doris camp chịu đựng những cơn mưa rừng tầm tã sấm sét ầm ầm gieo xuống đầu như thác, giao thông hào ngập nước nhưng rất hay là công binh Mỹ thiết kế tài tình cho nước luồn lách trôi xuống chân đồi. Núi ở cao nguyên có một đặc điểm là khí núi. Khí núi vô hình chờ đến chiều xuống tỏa ra len vào từng kẽ hở chân lông. Từ hai ngọn núi cao nhất cao nguyên thổi về Doris, rét căm căm thấu vào da thịt xương, chân tay lạnh ngắc môi tím ngắc. Nhóm lính Thượng còn chịu không nổi, họ đốt cái bếp nhỏ dấu kín trong lô cốt để sưởi, mấy tên có vợ hủ hỉ bên nhau chắc ấm hơn mấy tên chưa vợ.

 

Viên Trung sĩ truyền tin có lần “khuyên” tôi đi uống rượu cần ở “sóc” Thượng cũng gần đây thôi. Rượu cần thường là gạo nếp núi, bắp già, chứa trong cái ché ướp với các loại lá cây đặc biệt chỉ có người Thượng mới biết. Sướng nhất là trong dịp lễ hội đâm trâu, khách được mời uống rượu cần có cô em gái Ê đê xinh như mộng ngồi bên cạnh tiếp, dĩa thịt trâu sống máu đỏ quánh ghê người na ná như món tiết canh vịt; nàng đo tửu lượng của chàng qua cái khay nước, cứ mỗi lần chàng hút rượu từ cái cần trúc nhỏ xíu cong cong là cô con gái lại đổ khay nước vào. Độ của rượu cần không cao lắm, hơi chua chua, lính quen chơi rượu đế tỏ ra khi dễ rượu cần, hút hoài giờ này qua giờ khác nhưng đùng một cái ngã lăn chiêng. Thế là các nàng khiêng vào phòng.

 

Trong các buôn làng có nhiều thiếu nữ Thượng học tiếng Việt, lớp Việt, có cô đậu cả bằng sư phạm ra trường đi dậy học, cô nào cũng đẹp mặn mà, hình như được máu Việt hòa huyết vào nền truyền thống văn minh văn hóa buôn làng nên nhan sắc trở nên huyền hoặc. Mùa gặt, vào đêm trăng sáng, trời trong vắt, hàng triệu ngôi sao lấp lánh, những cái mông hồng hoang đẫy đà sinh ra trước cả thời bà Eva nẩy lên nẩy xuống theo nhịp chày giã gạo, ngực để trần mát rười rượi dưới ánh trăng khuya, khoe cặp vú căng tròn sinh lực, hai đầu vú đen nhánh nghểnh lên như sừng.

 

Đứng xa xa nhìn thì thích lắm, nhưng cho kẹo tôi cũng không dám thách thức tình yêu Rhađê. Tôi biết ở cái xứ vượn hú chim kêu này khối chàng sĩ quan Việt ngã ngựa trước cái “bùa yêu bùa ngải”.

 

Cái quan trọng nhất viên Trung sĩ nói nhỏ vào tai tôi là đi thăm “sóc” bên kia xa hơn sóc chỗ này một cây số, ở đó có cô con gái của Già làng đẹp mê ly. “Sóc” bên kia giầu có hơn “sóc” bên này, ông Thầy tới xem dung nhan mùa hạ của cô con gái Già làng, nếu ưng thì nói với Già để em “cưới” về làm chồng cho ấm cái tấm thân mùa đông ốm yếu.

 

Tôi chợt nhớ có lần một binh sĩ Thượng xin tôi nghỉ một ngày để đi rừng. Hỏi đi làm chi vậy, hắn nói đi lên núi hái cái lá về cho vợ uống ngừa thai hay bổ thai gì đó tôi nghe không rõ. Tôi thấy hay hay, cho đi. Người Thượng ở đây bịnh họ đi hái thuốc trong rừng, trên núi, chỉ thiếu ký ninh chống sốt rét, đẻ con ra là cho xuống suối tắm liền.

 

Khó mà tìm thấy cô gái Thượng nào có đôi môi hồng thắm, nếu có cũng chỉ hiện trong trí tưởng tượng về đêm nếu lỡ uống trà sâm nam vào thời kỳ quá độ. Nghe viên Trung sĩ truyền tin dụ dỗ quá tôi đâm ra tò mò. Thôi cũng đành lỡ bước sa chân.

 

- Thiếu úy à, coi bộ cô con gái Già làng đẹp à nghe, nghe nói cô ấy dậy học ở trường tiểu học ngoài Chi khu, nói tiếng Việt giỏi lắm, biết làm toán nữa. Thiếu úy mà chịu thì nói cô ấy “cưới” về làm rể Già làng.

 

- Ừ, đi thì đi, sợ gì. Thế là một bữa, thầy trò xuống núi, để cho an toàn tôi kéo thêm Hạ sĩ K’beo trưởng toán viễn thám ngon lành nhất của tôi vác theo cây AR-15. K’beo dẫn đường băng tắt qua khu rừng thưa độ nửa tiếng thì đến “sóc”.

 

Dân tộc Thượng ở cao nguyên theo chế độ mẫu hệ, dù thuộc sắc tộc nào, Ê’đê, M’nông, Gia’rai hay Ba’na, nàng đi cưới chàng chứ chàng chỉ cần có cái bộ vó ngon lành là được. Bọ vó như tôi thì kể như thua, không chẻ củi nổi. Viên Trung sĩ nhiều chuyện kể tiếp, nghe nói Già làng ngày xưa là một chàng trai M’nông giỏi nhất làng đi theo tiếng gọi du kích chống Tây, trong đám có một em du kích người Việt, chàng phải gió, em phải lòng, hủ hóa ra rít với nhau, nhưng nàng du kích chết trong một trận ác chiến khi bọn Tây dương càn vào làng vừa đúng lúc nàng khai hoa nở nhụy. Cô con gái lai hai dòng máu nên nước da hơi trăng trắng hơi nâu nâu, nhỏ nhắn, xinh đẹp và môi màu hường hường.

 

- Ngộ lắm ông Thầy, ông thầy mà chịu em dẫn đi coi lén mấy em sơn nữ tắm suối, ở trần trùi trụi, lông đen mướt … Viên Trung sĩ nói, mắt mơ màng nhìn xa xăm về cõi trên cõi dưới.

 

Việc đầu tiên là Hạ sĩ K’beo dẫn tôi đi chào Già làng. Già ở trên căn nhà sàn (nhà dài) rộng rãi, chân cột nhà to lớn vững chãi, nhà khá cao, mái cong vút, kể như đẹp và oai nhất “sóc”. Cả ba leo lên thang gỗ bước vào sàn nứa. K’beo nói mấy câu bằng tiếng M’nông hay Ê đê gì đó với ông già Thượng râu tóc lùm xùm đang ngậm cái tẩu dài, ông cầm cái tẩu trên miệng xuống rồi ngó tôi chăm bẳm, tôi vội nói,

 

- Chào Già làng,

 

- Chào Thiếu úy. Trời, ông nói tiếng Việt sõi quá. Ông hỏi,

 

- Có muốn uống rượu cần không? Tôi nói,

 

- Không, tôi muốn đi thăm buôn làng thôi. Già làng dắt chúng tôi xuống thang rồi nói một tràng dài bằng tiếng của ông, ở đâu đó bỗng chạy lại ba cô gái. Ba cô sán lại quanh tôi, những đôi mắt ngơ ngác như bầy nai tơ bên suối tình cờ bắt gặp gã thợ săn đi lạc. Tôi hỏi Già làng,

 

- Tại sao người Thượng chỉ ở nhà cao mà không ở dưới đất? Già làng lấy ngón tay chỉ lên trời,

 

- Mưa, gió, bão. sấm. Ngón tay ông chỉ xuống đất,

 

- Ông Hổ ở rừng dữ lắm, lâu lâu ổng về bắt heo, bắt người,

 

Chợt nhớ đến một bài thơ về rừng của ông đại thi hào miền Bắc, tôi hỏi Già làng, cây nào già nhất ở đây?

 

- Cây sao cây gõ cây thông… cây cẩm lai cây kơ nia,

 

- Ủa chứ không phải cây lim à?

 

- Rừng ở đây không có cây lim, chỉ có cây kơ nia sao vàng gõ đỏ cẩm lai và cây thông nhiều lắm à Thiếu úy.

 

Tôi dang hai cánh tay ra hỏi tiếp,

 

- Rừng có nhiều cây bự cỡ này không?

 

- Có chớ Thiếu úy, phải sống trăm tuổi mới to cỡ đó Thiếu úy,

 

- Thế Vi Xi có hay về làng không?

 

- Lâu lâu có mấy người về xin thức ăn rồi đi luôn. Nói xong Già làng quay về ba cô gái nói một tràng dài tiếng M’nong hay tiếng Ê đê gì đó tôi không hiểu lắm, ba cô đồng thanh lên tiếng,

 

- Em chào Thiếu úy.

 

Trời, mấy cô nói tiếng Việt như người Việt. Tôi thấy ba cô gái Thượng tuổi độ 16, 18, khá ngộ nghĩnh, xinh xinh, tiếng chào nhỏ nhẹ thanh thanh, tóc đen nhánh chảy từng sợi xuống vai mượt mà, các cô đều áo sơ mi dài tay theo lối người Việt, cái váy đen điểm hoa quấn kín phần dưới. Viên Trung sĩ tin cẩn của tôi nói đúng. Ngộ thiệt, chắc lông … Tôi không dám nhìn kỹ, nhưng thoáng qua thấy cô nào cũng khá đẹp, mặt trái soan nét hiền lành. Một cô lên tiếng,

 

- Em tên là Nai’ Chư, hai cô kia tiếp lời, 

 

- Em tên là Y’ Plot,

 

- Em tên là Từ Nhung,

 

Tôi ngạc nhiên hỏi, - ủa em là người Việt?

 

- Dạ không, em là người Chăm ở Phan Rang, em theo ba mẹ lên đây làm rẫy trồng cà phê, em làm cô giáo dạy lớp tiểu học ở ngoài Đức Lập, hai cô này cũng là cô giáo dậy chung với em, lớp đang nghỉ hè nên tụi em về làng Y’ Plot chơi,

 

- Ồ thì ra thế, tên mấy cô đẹp lắm. Nghe tôi khen mấy cô cười khúc khích; bỗng cô có tên Y’ Plot lên tiếng, giọng nũng nịu,

 

- Thiếu úy đẹp giai ơi … lấy em đi!

 

Tôi thấy mắt nàng tình tứ nhìn tôi, cười cười với tôi, hàm răng trắng bóc,

 

- Đừng lấy nó, lấy em nè Thiếu úy đẹp giai ơi, cô Nai’Chư ỏn ẻn – em nè Thiếu úy!

 

Tôi ú a ú ớ … á khẩu. Tôi đâm ra hoang mang, “ta thấy em đang ngồi hát khi rừng về nhiều mây… rừng xưa đã khép, em hãy ra đi, rừng xưa đã khép, em hãy ra đi”. Tôi muốn ứng khẩu câu thơ, Em, cành lan rừng lửng lơ treo trong gió, phấn rộ hương nồng chết ngất hồn tôi. Em, những loài hoa rừng tới mùa rộ chín phấn hương buông theo gió bám chặt vào cây hút màu sương khói mà thành lan. Em, nàng sơn nữ tinh túy của cao nguyên hình như sinh ra để yêu để mời gọi.

 

Trời ơi! Hương thơm của người sơn nữ cứ nhậy vào cái mũi ỡm ờ không chịu rời bỏ, tôi là thằng ghiền mùi thơm, mũi tôi thính như cọp, beo rình mồi, nhưng coi bộ tình hình “chiến sự” tăng lên nguy hiểm quá, ngoài vòng kiểm soát, tôi bèn lảng ra chỗ khác châm điếu thuốc lấy lại “nửa hồn thương đau” (thơ Thanh Tâm Tuyền nhạc Phạm Đình Chương). Má ơi! gái Thượng bạo quá, hai cô sơn nữ Phà Ca muốn “cưới” con làm chồng, Má tính sao! Tôi quay người nhìn lại, cả ba cô ôm nhau cười ngặt nghẽo, hai tai tôi nong nóng, viên Trung sĩ truyền tin đi theo “gà” tiếp,

 

- Em thấy cô Y’ Plot chịu đèn ông thầy, ông thầy mà Ok thì rước em về đồn cho ấm cái mùa đông cô đơn. Sống lâu lên lão làng, mai mốt ông Thầy lên chức Tù trưởng cai quản hết thảy giang sơn buôn làng tha hồ mà say sưa,

 

- Thôi cha nội, em “thư” bùa yêu vào bụng thì rồi đời.

 

Thiệt tình, tôi bé cái lầm về mấy cô gái Thượng ở “sóc” Già làng. Cô Y’ Plot đẹp nhất trong ba cô, là con gái cưng của Già làng, hèn chi Trung sĩ truyền tin nhà ta mê mẩn, thôi, chắc ăn nhất là tôi phải xúi hắn thực hiện “chiến lược đồng hóa”, bộ vó của hắn ngon lành hơn tôi nhiều, chẻ củi khỏe như trâu, hắn mà không cướp lấy thì trước sau gì cành lan cũng về nguồn khu rừng nguyên thủy với những chàng trai Ê đê, Mnông, Giarai, Bana, Chăm để duy trì nòi giống.

 

Cái máy PRC-25 bỗng kêu lên sè sè,

 

- Dạ thưa em nghe. Viên Trung sĩ khều nhẹ vào vai tôi, “Thái dương”.

 

- Dạ thưa có Doris đây ạ,

 

- Đây “Thái dương” gọi nghe rõ trả lời,

 

- Dạ “Doris” nghe 5 trên 5,

 

- Trong vòng 24 tiếng về trình diện bộ chỉ huy, có trực thăng tới đón, có sĩ quan tới bàn giao.

 

Chết mẹ! Chuyện gì nữa đây? Tôi tá hỏa tam tinh. Tôi có phạm lỗi nào nặng đến độ bộ chỉ huy gọi về trình diện gấp? Hay tôi đã khinh suất làm chết ba người lính Thượng trong trận phục kích trước đây? Hay chắc sắp đánh nhau to, thường là khi có tin tình báo cho biết ViXi sắp mở trận đánh lớn, các đơn vị trưởng được trực thăng đón về bộ chỉ huy nghe lệnh hành quân trực tiếp mà không qua khẩu lệnh truyền tin. Tôi không là cấp chỉ huy lớn nhưng là trưởng đồn trấn giữ một vị trí có trọng trách chính là quân báo. Toán viễn thám của tôi mới cung cấp một nguồn tin khá quan trọng ở biên giới. Thế là ba thầy trò chúng tôi chào Già làng chào ba cô rồi bôn bả về đồn gấp gấp. Mới đi được một quãng lại nghe tiếng kêu ơi ới,

 

- Thiếu úy đẹp giai ơi lấy em đi,

 

- Lấy em nè Thiếu uý.

 

Coi bộ hơi còn tiếc rẻ, tôi quay lại thấy mấy cánh tay đưa lên vẫy vẫy cười tíu tít với nhau. Tôi cắm đầu đi thẳng một nước. Hai tiếng sau, tiếng trực thăng kêu phành phạch từ xa rồi từ từ đáp xuống bãi đất đỏ vuông vức trên đồi Doris.  

 

Hóa ra khi bay về bộ chỉ huy vào trình diện xếp lớn trong bộ quần áo đất đỏ bám đầy, tôi nhận được tờ giấy phép thường niên, mười lăm ngày phép Sài Gòn. Trời ơi! Cầm tờ giấy phép trên trời rơi xuống, tôi sướng điên người. Tôi đứng nghiêm nện giầy cái cốp chào xếp lớn, xếp bắt tay tôi nở nụ cười rồi nói,

 

- Chiều nay có chuyến Caribou tiếp tế đậu ở phi trường dã chiến rồi quay về Sài Gòn, lên đó gặp sĩ quan trực cho ghé một chỗ, nhớ gởi khẩu Colt-45 lại. Ok! vui vẻ nhé. Tôi sướng tê tái cả người, bèn đi mượn gấp trước hai tháng lương rồi thả bộ xuống chợ mua mấy món quà cao nguyên. Đây là kỳ phép thứ hai của tôi. Sài Gòn đẹp lắm Sài Gòn ơi Sài Gòn ơi!

 

15.

Cái buổi trưa hè hôm ấy. Ái tình rực lửa mối tình tôi tưởng như cháy thành than. Đã hai cái mùa hè tôi chưa được hôn em, đã hai cái mùa đông tôi co ro trong nhung nhớ. Bao giờ thì tôi được hôn lên đôi môi mọng đỏ nhỏ xíu thơm tho như trái sim rừng, như trái cà chua dại ven đồi chín rục. Đi phép lần này nhất định tôi phải hôn nàng. Trời ơi, không hẹn, em đến thăm tôi. 

 

Trên căn gác xép, tôi lột trần nàng ra. Tôi muốn biết sự thật về người con gái tôi yêu. Tôi muốn bóc trái tim của nàng ra xem nàng cất tôi trong ngõ ngách nào, – Em có nhớ anh không? Nàng ngoan ngoãn nhắm đôi mắt lại cho tôi muốn làm gì thì làm. Mái tóc đen huyền bồng bềnh trên gối đồng lõa chiếu chăn. Ngoài sân, đám ve sầu tấu lên bản hợp xướng không tên inh ỏi dưới cành phượng vĩ đỏ rực.

 

Lần đầu tiên tôi ôm ấp tấm thân trần truồng. Thiệt là khác với khẩu súng trường AR-15 cứng ngắc đen thui. Ôi sao mềm mại lạ thường. Thơm nức lạ thường. Mũi tôi phập phồng đánh hơi như những lần dẫn quân đi phục kích đánh hơi kẻ thù. Mùi thơm dị thường từ da thịt người con gái khác với mùi lá cây mục nát, mùi hăng hắc của đất đỏ khô ran oằn mình dưới cơn mưa ập xuống.

 

Tôi say mê ngửi mùi thơm tóc em, tôi ngây ngất ngửi mùi da thịt. Tôi liên tưởng tới Doris camp chỉ ngửi thấy mùi thịt rừng nướng cháy nướng sống. Tôi chăm chú nhìn đôi vú tròn trĩnh trắng mịn có hai núm nhỏ xíu như hạt đậu đỏ. Nó khác hẳn vú Thượng. Không gian như ngừng thở, trái đất như ngừng quay, mọi hoạt động trên cõi đời này chết đứng. Tôi cảm thấy rõ ràng tim tôi bốc lên ngọn lửa quái dị, người tôi nóng ran. Tôi rón rén nhìn em từ đầu đến chân sợ ngọn lửa trong tim tôi đốt cháy. Lần đầu tôi thấy một người con gái. Trí óc tôi không thể tưởng tượng ra được hình hài này. Tôi mân mê chỗ này chỗ nọ như tìm tòi một báu vật mới được đào lên từ kho tàng huyền bí. Lúc ấy tôi chợt hiểu vì sao cái thằng chó đẻ ở quán cái chùa nó soi mói vào em.

 

Hừ! nó làm sao bằng tôi được, nó làm sao được nằm bên em như tôi đang nằm bên em, nó làm sao có được tình yêu đang dâng con sóng bão biển cuồn cuộn khổng lồ ngẩng cao thách đố bầu trời – con sóng ngoài khơi lượn thẳng vào bờ tranh nhau vùi đầu vào bãi cát mơn man. Đã bao nhiêu ngày tháng qua chúng tôi chưa hề hôn nhau, chưa hề biết hôn nhau. Nụ hôn gió chỉ xuất hiện ở những lá thư tình bay trên không gian bao la. Nhưng tôi không dừng lại. Tôi khám phá từng đường cong mỹ miều từng kẽ hở âm u của tạo hóa một cách ngạc nhiên tột độ. Người yêu của tôi đây sao. Em đây sao. Cô học trò áo trắng tuổi trăng tròn đây sao. Những sợi lông măng nép dưới cặp đùi trắng nõn, hơi thở dịu dàng thơm tho còn nguyên e ấp thẹn thùng. Em ôm chầm lấy tôi như muốn che dấu kho tàng kim cương vô giá. Tôi cứng người như pho tượng đá đần độn. Tôi ghì lấy em và không thể hãm được vết chân ngu muội dấn sâu dần vào khung cửa mùa thu có giàn nho xanh che chở. Chúng tôi vùi đầu vào nhau, môi tìm môi, trao nhau nụ hồn đầu đời, mê đắm.

- Anh yêu em vô cùng, anh nhớ em muốn điên lên, em có biết không? Em có yêu anh không?

- Dạ có.

- Thiệt không?

- Thiệt. Em yêu anh nhiều lắm, nhưng … anh ơi … không được không được. Em đau.

Mấy con ve sầu bỗng im bặt. Tôi chìm người xuống vểnh tai lắng nghe. Dàn nhạc đang hòa tấu khúc ái tình sao lại im bặt. Lạ thiệt. Hay chúng đang tò mò thập thò qua khung cửa sổ mở toang. Thời gian như ngừng lại trên căn gác xép thiên đường. Tôi bàng hoàng sợ hãi nghe tiếng em kêu lên. Bỗng nhiên tôi lạnh toát châu thân, tôi bần thần nhìn qua cửa sổ bầu trời xanh ngắt, tôi cảm thấy tôi sắp phạm tội gì ghê gớm lắm. Tôi nhìn xuống nơi bí mật nhất của người con gái. Tôi đang thi hành động tác tự nhiên của một con người nhưng tại sao lại hoảng hốt trước tiếng kêu của em. Tiếng kêu phản xạ từ trái tim non hay lẫn lộn trạng thái vật lý của một cơ thể đang tới mùa đơm bông kết trái bỗng bị một bàn tay thô bạo vặt hái.

 

Lúc ấy tôi không tài nào hiểu nổi tôi. Đâm ra hoảng hốt, tôi thẫn thờ buông lơi tấm thân ngọc ngà ngọc châu báu Sài Gòn. Em là người vợ sắp cưới của tôi kia mà. Tôi đâu cần vội vã làm những chuyện mà tôi chưa bao giờ làm. Tôi chợt nhớ lại dưới căn hầm trú ẩn bọn lính nó kháo nhau ồn ào cái chuyện đàn ông đàn bà, rồi cả bọn cười lên hô hố lén nhìn tôi như chọc ghẹo chàng Thiếu uý trẻ. Giờ thì tờ giấy trắng học trò tinh khôi đang lồ lộ trước mắt tôi. Em đang nồng nàn yêu tôi, ôm tôi, hôn tôi. Em không nói một lời nào, tôi thì câm như hến. Ừ! khi tình yêu lên tiếng gọi thì không cần lên tiếng nói, không cần có những động tác vô tổ chức, những cử động vô thức, những cái nhìn sững sờ bối rối đê mê. Tất cả đều thừa. Thừa. Tình yêu là gì? Là trái tim thổn thức sự thiếu thốn sự cô đơn sự xa cách, nhưng khi nằm bên hình hài trần truồng trong mộng liêu trai thì trái tim bỗng trở nên hờ hững, máu khô cứng. Những lá thư tình mực tím có bao giờ nói đến chuyện này.

 

Âm thanh của bản Love Story man mác bên tai. Where do I begin? To tell the story of how great a love can be? Where do I start? Where do I start? Tôi bắt đầu làm gì với tờ giấy trắng học trò? Vấy mực vào nó ư? Đâm thủng nó ư bằng nhát dao vô thức liều lĩnh? Hay sẽ như chàng hiệp sĩ Romeo hào hùng chết gục bên nàng Juliet kiều diễm ngây thơ? Yêu là gì? Yêu trong ánh sáng hay trong bóng tối? Không thể yêu như vậy được. Tôi không thể yêu em thô tục vì tôi sẵn sàng chết đẹp bên em kia mà. Tôi là chàng hiệp sĩ si tình trước tượng đá mỹ nhân và không bao giờ được phép hủy hoại bất kỳ đường nét nghệ thuật vô song của thượng đế. Tôi tìm cách cưỡng lại mãnh lực vô hình của ông thần xác thịt ẩn dấu trong huyết quản tuổi hai mươi. Bằng cách nắm chặt hai bàn tay, tôi nghiến răng cho đôi mắt dại đi. Tình dục là gì? Tình dục là làm tình! Làm tình là làm gì? Là phải làm gì trước nhan sắc lõa lồ đẹp như thiên thần sẵn sàng dâng hiến? Không. Tôi cương quyết chống lại sự quyến rũ ghê gớm của nhục tình. Hai tay tôi ôm chặt lấy mái tóc nàng ghì đôi má nàng vào ngực,

 

- Em ơi,

 

- Dạ,

 

- Em có biết là anh thương em tới nhường nào không?

 

- Dạ không,

 

- Thế em có yêu anh suốt đời không?

 

- Dạ có. Em yêu anh suốt đời.

 

- Thề đi,

 

- Thề, em nhớ lúc anh ngồi với em ở quán cái chùa anh cứ ngó mấy người khác,

 

- Anh thương em vô cùng. Em có hiểu tình thương và sự độc đoán của anh như thế nào không?

 

- …

 

À! Thì ra nàng đang nhớ đến quán cái chùa. Nàng có vẻ giận hờn, nàng chẳng thèm để ý đến tâm can tôi đang u uẩn đau đớn. Tôi lẩm bẩm những câu gì đó tôi cũng không biết. Xót thương dâng lên tràn ngập hồn tôi. Tôi ngồi bật dậy nhìn vào đôi mắt em nhưng rồi lại nằm vật xuống ôm chầm lấy em như sợ em tan biến. Tôi phải làm gì? Tôi nhìn sâu vào đôi mắt em. Em có biết trong mắt tôi đang nói những gì với em không. Người em bé bỏng đang mở lòng ngàn vàng dâng hiến cho gã thanh niên tối dạ vụng về đang cố sức chống lại cơn biển động gào lên đợt sóng ái tình.

 

Không! Em là người đẹp hồn nhiên trong những giấc mơ mộng mị dưới căn hầm dã chiến cô đơn. Tôi phải giữ lấy niềm cô đơn tuyệt trần của một thằng lính giữa rừng hoang. Tình yêu tuyệt trần là tình yêu cô đơn. Nhưng tôi không thể không ngất ngư trước hình hài sõng xoài tuyệt mỹ của thượng đế. Thượng đế là em đó ư? Thượng đế là vẻ đẹp trác tuyệt nõn nường hiện sinh bắt loài người phải hàng phục. Đàn bà là kiệt tác vô song của Thượng đế mà hàng triệu nghệ sĩ tinh hoa đều muốn sáng tạo và quỳ phục dưới chân. Tôi chứng tỏ tôi là một nghệ sĩ xứng đáng được ân thưởng huy chương của Thượng đế? Ngu muội hay không ngoan? Tôi là loài bẩm sinh có mầm cỏ thơm cây lành ở giữa khu rừng hoang hiểm độc? Tôi nhất định không phải là con thú điên vật vã cơn khát sục sạo tìm vũng nước cho giã cơn khát vọng. Không! Tôi là cây sậy Pascal yêu thương vượt lên trên tất cả mọi lý trí ghen ghét nhỏ nhen tầm thường. Trong ảo giác mơ hồ từ quá khứ, tim tôi dào dạt hạnh phúc khi nhìn thấy người con gái quấn quít tà áo trên đường tan học về nhà một mình, ngập ngừng gót chân mỗi khi vô tình chạm vào mắt tôi chan chứa đắm say. Ôi! Thời gian xa xôi ấy, giấc mơ nhỏ bé của tôi quá lâu rồi đã bị từ chối trong cõi hiện thực đọa đầy và đau khổ trước bộ ngực trắng hồng nhấp nhô hơi thở. Tôi rối loạn đến cực độ. Tôi tê liệt đến mức không dám chạm vào em nữa.

 

Bất giác tôi trở thành người lính phản kháng yếu đuối. Xuội lơ.  

 

16.

Hai tháng lương quan một mới một tuần đã bay cái vù. Tôi còn một tuần phép nữa mà cái bóp đã xẹp lép. Buồn thiu. Bộ vó về phép nghênh ngang của chàng sĩ quan trẻ đính cổ đóa mai đen cũng xẹp như cái bóp. 

 

Ngày vui nào mà chẳng qua mau. Ngày về đơn vị cũng là ngày của thằng lính bại trận, bại trận vì yêu thương. Tôi khóc ê ẩm cay đắng ê chề vì đã đánh rơi mất viên ngọc quý vô ngần. Tụi nó sẽ thắng tôi khi tôi xa em ngàn dặm. Tôi ở rừng, nó ở thành phố, nó mua đứt bà Mẹ vợ tương lai của tôi, nó mua chuộc bà Mẹ thành phố đang choáng ngợp trước xa hoa, địa vị và vì chữ “thọ” của thằng rể, dù tầm nhìn của nó chỉ xa một thước nhưng lại rất hợp với bà. Bà chán mớ đời cái thằng chết tiệt nay sống mai chết ở chiến trường cả năm mới thấy mặt.

 

Dĩ nhiên tôi thua tả tơi không còn manh giáp. Tình yêu thuần khiết không thể thắng xã hội kim tiền. Người ta được đo bằng tiền, danh vọng và sự an toàn. Tôi thằng ngu muội nhất trần gian vì không biết chiến đấu để giữ lấy em, mà tôi có cái gì để chiến đấu, khẩu Colt-45 của tôi đã để lại Doris. Mẹ kiếp! hết súng hết đạn hết tiền tôi trở nên bất lực. Tôi không thể thắng được bất cứ cái gì ở Sài Gòn. Sài Gòn, tình yêu của tôi chỉ là giấc mơ thôi.

 

Rốt cuộc tôi cũng phải trở về rừng thôi. Tôi vác cái mặt mo lủng túi về với núi rừng Doris. Rừng là người bạn ngày đêm thân thiết nhất của bọn tôi. Rừng không đòi gì cả. Rừng không chê những người lính quanh năm lăn lộn với bụi bặm đất cát gió mưa quần áo bốc mùi kỳ quái. Rừng quen thuộc hơi hám bọn tôi, chỉ cho bọn tôi từng con đường mòn lẩn khuất, từng bụi cây ẩn dấu, từng hốc đá kín bưng che chở, từng chỗ sống và chỗ chết mìn bẫy, rừng mọc lá mưu sinh nuôi sống chúng tôi. Bọn tôi đã hòa mảnh đời vào thiên nhiên hoang dã từ lúc nào không biết. Những câu chuyện cổ tích hoang đường thay thế bằng những bụt măng hòa huyết vào máu bọn tôi trong những bữa cơm đạm bạc, những giọt nước mưa hứng trên poncho chảy ngọt ngào thẳng vào ruột.

 

Trong thách đố của cây cổ thụ vút lên vách đá cheo leo hùng vĩ, bọn tôi thử sức với núi non trùng điệp, di hành qua những dẫy đồi hoang vu vô tận, trượt ngã lăn chiêng dưới chân đám rễ trơn trợt rong rêu, cong đít bám vào những hòn đá nhọn hoắt leo lên chiếm cho bằng được ngọn đồi sinh tử. Chiếm được thì sống, bằng ngược lại sẽ tan thây vì hỏa lực không thương tiếc của đối thủ. Thiên nhiên là kho báu vô tận ban thưởng cho loài người nhưng cũng là địa bàn hiểm trở giăng mọi hiểm nguy chụp xuống. Thiên nhiên ở lại với bọn tôi, chung thủy với bọn tôi rong ruổi trên đường hành quân mệt nhọc, nghỉ chân giữa cánh đồng thảo nguyên bát ngát hay ngủ yên mãi mãi trên ngọn đồi khói lửa pháo bom cày nát như tương.

 

Bọn tôi ẩn hiện như ma trơi đi ăn đêm giữa bóng tối mịt mùng. Bọn tôi hào hứng thức dậy khi mặt trời ló dạng bên kia ngọn núi tóe lên những vầng sáng đổi dần màu sắc theo chiều cao của núi. Mùi thơm ngây ngất của loài hoa dạ thảo không tên nở về đêm thoảng như sương mai lùa vào mũi. Bọn tôi chẳng khác gì bầy nai phỉnh mũi ngơ ngác tìm đồng loại bên bờ suối vắng và luôn khụt khịt canh chừng hơi thối của loài cọp dữ rình mồi. Bọn tôi chẳng khác gì bầy nai hiền lành vô phúc lọt vào họng súng vô hình phục kích. Tôi đã học được bài học phục kích ở rừng về cái lẽ sống lẽ chết, trong giây khắc tử thần chỉ có cách liều mạng phản công hoặc chạy thục mạng thoát thân. Từ từ tôi hiểu ra chiến thuật tối ưu của người anh em phương bắc, đó là pháo khủng bố, cao xạ phòng không và biển người. Tôi phân vân, sao họ sử dụng người lính phí phạm đến thế, tàn nhẫn đến thế. Kết quả của cuộc chiến đâu chỉ đếm trên xác người. Đó là sai lầm lớn của mấy ông tướng sát quân.  Nhưng tôi ghi khắc trong đầu cái đồn Doris của tôi chỉ có cố thủ mà không có chỗ thoái lui nếu bị bao vây tứ phía.

 

Thú thật, có những lúc tôi không muốn trở về cái đồn Doris chán chường. Vì em chăng? Vì Sài Gòn với bánh cuốn chả giò phở bò cà phê bốc mùi hấp dẫn? Nghĩ tới những ngày gạo sấy cá khô kinh niên mà ảo não. Thiệt ra đối với lính tráng như bọn tôi ăn uống là chuyện nhỏ, nhằm nhò gì ba cái chuyện lặt vặt. Chuyện lớn là đánh nhau. Ở cái thành phố này có người em gái nhỏ đang yêu người lính rừng bụi bặm. Tôi so bì đấu súng với bọn rệp làm quái gì cho mệt. Hèn. Như muốn chứng tỏ con tim “rừng rú” của tôi hiện diện, tôi giẫm mạnh gót giầy bê bết bùn giữa Sài Gòn hoa lệ để cho em thấy mối tình đầu mãnh liệt trong trái tim người trai chinh chiến – gởi về em – gởi về Sài Gòn. Sài Gòn, tình yêu của tôi.

 

Một ngày nào đó trước khi tàn hơi tắt tiếng, tôi sẽ không bỏ phí một giây phút nào cho em. Em tức là tình yêu. Tôi vét hết hồn tôi đắp vào tình em như cây đinh đóng vào quả tim rướm máu. Quả tim đã một lần thử thách vượt lên trên tất cả mọi ham muốn ái ân tầm thường. Ngoài trận địa hung hiểm, tôi là viên sĩ quan trẻ trung phương Nam cùng với đồng đội xông lên dưới cơn mưa pháo tàn bạo của người anh em phương Bắc – mà không hề run sợ. Tôi đã khóc uất lên khi nhìn thấy người lính ngã xuống – mắt mở trừng trừng; nhưng tôi sẽ ra sao nếu em không còn yêu tôi, quên lãng tôi, lìa xa tôi, chán nản tôi? Tôi sẽ ra sao nếu mối tình đầu chết trong tôi? Tôi yêu em như yêu người lính chan chứa tình nhân loại thái hòa bàng hoàng sau cơn bão lửa.

Làm sao tôi quên được ngày em tiễn tôi ra phi trường, – “từ nay cách xa nghìn trùng, người em bé bỏng, tầu bay cánh vươn mịt mùng, đường bay não nùng …”. Em yêu ơi, người nữ sinh áo trắng tuổi mười lăm yêu ơi, anh sắp đi vào khung trời mênh mông, “anh sẽ ra đi nặng hành trang đó, đem dấu chân soi tuổi đời ngây thơ, đem mối thương yêu vào niềm thương nhớ, anh sẽ ra đi chẳng mong ngày về ...”- (Phạm Duy). Không! Ngày về của tôi phải là “Ngày về ươm ướp thơm mùi tóc, mắt biếc đưa say những luống tình, lơ thơ tơ liễu buông mành chỉ, một đóa hương trinh đã để dành.” Trời ơi. Mùi trinh nữ tôi đã để dành. Xa vời.

Tôi linh cảm tình tôi sẽ không giữ được chân em. Mỗi bước chân em là mỗi bước hiện ra ánh sáng, mỗi bước chân tôi là mỗi bước âm thầm của người lính nhấn vào phím đàn có dấu tròn lặng. Lặng như tiếng hát chấm dứt từ trong cái máy bỏ tiền ở quán cái chùa. ĐM cái máy cà chớn. Hết tiền là hết hát. Dẫu sao đời đời tôi cám ơn em. Tôi đã có một thời để nhớ, nhớ và nhớ đến tận cùng chân mây khung trời khói lửa đang đổ cơn mưa ầm ầm trên ngọn đồi gió hú. Doris, Doris, quả đồi máu. Ta thương ta hay ta thương em?   

Thế là tôi đã đánh mất em ở cái buổi trưa hè định mệnh. Khốn khổ khốn nạn cái thân tôi. Cái thân hèn mọn nhút nhát mà cứ tưởng mình là hiệp sĩ. Em đã từ từ mất hút trong mối tình tôi – tình đầu. Có lúc tôi nghĩ đến ngày hôn nhân xa vời vợi. Mà tôi có còn sống sót không khi quả pháo 130 ly rót lọt thỏm vào căn hầm tôi trú ẩn. Dù sao Mẹ tôi cũng đã mang lễ dạm trầu cau đến gặp Mẹ nàng rồi. Hôm ấy, em mặc chiếc áo dài nhung đen thêu kim tuyến trắng vàng óng ánh phô bày làn da trắng nuốt. Tôi yên tâm lên đường vì “dăm miếng trầu cay một buồng cau trắng”, em đã thuộc về tôi. Ngày tôi theo Mẹ trịnh trọng mang trầu cau đến nhà em dạm lễ hỏi, tôi thắc mắc sao em lại mặc áo màu đen đón tôi?

 

Dí nát mẩu thuốc cuối cùng trong cái bao Craven A loại mười điếu em đã mua cho tôi. Tiếng đại bác từ căn cứ lớn ở phía nam rít qua đầu căn hầm trú ẩn, bắn vu vơ bay qua đầu quả đồi máu voi. Tôi bật dậy viết vội cho em mấy hàng chữ quê mùa nguệch ngoặc. Tôi ép nó vào bao thư không tem. Tôi sẽ để dành nó trong túi áo Jacket bẩn thỉu nặc nồng khói thuốc cho đến ngày cuộc chiến lụi tàn.

 

Tôi là lính. Đừng yêu tôi em nhé

Em là gió. Là sương pha mắt ướt

Em là mây. Sà nóng pháo đam mê

Là ánh sáng. Tóc xõa gối ngổn ngang

Là góc tối. Tương tư đồn biên giới

Là rì rào. Ngóc ngách chảy về xuôi.

Và đó cũng là lần đi phép cuối cùng tôi trả lại em – tình đầu. Em thuộc về hoa lệ Sài Gòn. Em thực sự thuộc về Sài Gòn mơ ước. Cái bạc bẽo của thị thành lập lờ trước mắt. Tôi chắc lưỡi, Sài Gòn đâu cần một thằng lính bại trận trên trường đua tình ái. ĐM cái thị thành chó đẻ.

17.

Mặt trận Cao nguyên không yên tĩnh. Chúng tôi, những người lính ngày đêm lo âu và sẵn sàng bóp cò. Dưới ánh sáng tù mù của ngọn đèn năm watt phát ra từ cục pin cũ máy truyền tin PRC-25, hình bóng em ảo ảnh trên những trang sách lật qua lật lại. “Mặt trận miền Tây vẫn yên tĩnh”, nó đã cũ nhàu từng đêm dưới căn hầm dã chiến lạnh toát mùi khí đất, nó đã cùng tôi day dứt một chuyện tình thời chinh chiến không giống ai.

 

Đêm nay trăng tròn vành vạnh treo lơ lửng trên bầu trời trong vắt. Không một đám mây, một giải lụa mỏng vắt ngang che lấp vẻ đẹp huyền ảo của hàng triệu triệu vì tinh tú lấp lánh, không gian bao la lành lạnh tỏa ra thứ ánh sáng ma quái của núi rừng cao nguyên trùm lên quả đồi trơ trọi. Một tia sao chổi từ hướng đông xẹt qua quả đồi rồi hòa tan vào khoảng không tối mịt. Bọn côn trùng đi ngủ sớm. Yên ắng lạ thường. Linh tính người lính cho biết đó là cái yên ắng bất thường. Ngày hôm qua có con mang chạy lạc vào đồn, viên Thượng sĩ người Thượng báo cáo,

 

- Thiếu úy, xui lắm.

 

- Không được bắn, lấy cái tay lấy cái chân lấy cái mồm la lên xua nó ra khỏi hàng rào.

 

Như mọi khi, tôi cho các toán đi kích. Toán viễn thám cừ khôi nhất tôi cho bố trí ở nơi xa nhất, ăn dầm nằm dề mấy ngày sát biên giới Miên, chủ yếu là nghe ngóng tình hình di chuyển của Vi Xi, viễn thám báo cáo về phát hiện có con lộ xẻ rừng khá lớn còn dấu vết bánh xe nghi là xe Molotova, những cành cây bị gẫy hai bên và khu đất lớn trống nghi là trạm nghỉ của luồng di chuyển ngược xuôi nam bắc.

 

Lần này lòng tôi bồn chồn dao động. Tôi dặn dò rất kỹ các toán đi kích, tuyệt đối cấm hút thuốc, im lặng vô tuyến trừ phi chạm địch. Tin tình báo cho biết Vi Xi đang kéo quân về tập kết lớn ở khu vực biên giới. Ngoài toán viễn thám, cứ ba người một tổ, tôi bố trí ba hướng cách xa chân đồi độ hơn trăm mét, cự ly xạ trường tính từ khẩu đại liên 60 có thể quét tới yểm trợ cho toán đi kích rút lui vào đồn theo đường mòn bí mật; còn một hướng trên bản đồ hành quân tôi cho là hiếm khi nào ViXi mò tới vì địa hình rất hiểm trở, rãnh sâu dốc thẳm, kẽm gai, mìn claymore. Vả lại, ở lỗ châu mai lô cốt tiền tiêu có khẩu đại liên dũng mãnh.

 

Tiếng sè sè của máy PRC-25 bên tai, người hiệu thính viên khẽ chạm vào tay tôi,

 

- Ông thầy, tổ Nam Ok.

 

- Ông thầy, tổ Bắc Ok.

 

Bỗng có tiếng súng nhỏ vọng ra từ máy truyền tin, người hiệu thính viên la lên,

 

- Ông thầy, tổ Tây chạm địch.

 

Tổ Tây là tổ hoạt động ở đường biên giới Miên. Từ biên giới, tôi cho là hướng nỗ lực chính của Vi Xi nếu tấn công đồn và là khu vực di chuyển quan trọng của địch. Tôi vắt tay lên trán nhớ lại kinh nghiệm trận phục kích tháng trước, tôi quyết định chơi trò “mèo vờn chuột chuột vờn mèo”. Tôi lại chấm tọa độ chỗ ba người lính Thượng chết tháng trước, lệnh cho toán đi kích phục đúng vào chỗ đấy. Trò chơi của tôi đúng. Toán phục kích đã bắn chết ba bộ đội mặc quần áo chính qui Nam Định, có lẽ là nhóm tiền sát viên pháo binh. Rất tiếc không bắt sống được người lính nguy hiểm này, họ là tai mắt cho bộ đội chủ lực, họ là thông tin cuối cùng cung cấp cho bộ chỉ huy trước khi mở ra những trận đánh quyết tử.

 

Sáng hôm sau tôi cho một toán lính đi lục soát vác về đồn ba cái xác tím ngắt, trông mặt họ còn trẻ măng như học sinh; toán lính thu nhặt được một máy bộ đàm làn sóng ngắn, một ống nhòm hai khẩu AK-47. Tôi đã trả thù cho ba người lính Thượng. Lính nào cũng là lính thôi. Tôi cho ba cái xác không hồn nằm sát nhau gần bãi đáp trực thăng. Cả bầy vợ con Thượng bu lại xem tay chân chỉ trỏ chí chóe liên hồi, họ có vẻ ngạc nhiên, chỉ trỏ ba xác chết rồi chỉ vào tôi. Trong cái ngạc nhiên của họ, ba người lính cộng sản từ miền Bắc vào sao trông cũng giống người miền Nam, giống tôi, cũng nhỏ con như tôi, trắng trẻo như tôi, học hành “văn minh” như tôi.

 

Những người đàn bà Thượng chỉ về tôi. Ông sĩ quan chỉ huy tác giả của ba cái xác Vi Xi, tôi đâu có muốn bắn những người này, những người bị xúi lao vào cuồng vọng, nếu tôi không bắn họ, họ cũng bắn tôi thôi. Bất giác tôi cười khì khinh mạn! Cái ác đã toa rập giết chúng tôi, giết hàng triệu tinh hoa của dân tộc. Nhưng đây là cuộc chiến thứ hai trong sự kiểm soát của tôi. Sự trả thù nào mà không man rợ.

 

Không có trực thăng thu hồi xác và chiến lợi phẩm. Chiến trường miền tây biên giới đang thu hút không quân ở chỗ khác lớn hơn. Hôm sau, tôi cho lính vác ba người anh em phương Bắc xuống đồn đi chôn ở chỗ kích đêm trước. Tôi nói lớn như ra lệnh,

 

- Tìm chỗ đất cao đào một lỗ chôn chung, lấy đá lấp vào kẻo mưa rừng vài ngày nó cuốn phăng đi hoặc cọp nó ngửi thấy mùi nó đến nó sơi. Hai cú trả thù của người anh em phương Bắc phương Nam coi như huề.

 

Tôi chiêu thêm một ngụm trà sâm nam nóng. Quả đồi tịch mịch giữa thinh không đêm tối đi vào giấc ngủ mê mệt sau một ngày vất vả. Trăng đã lên tới đỉnh đầu, thằng Tư Trung sĩ truyền tin bỗng hét lên,

 

- Ông thầy … nó tấn công ở hướng Đông. Tiếng súng đại liên 60 ly nổ dòn liên tục. Đùng! Một tiếng nổ lạ rồi lại đùng! đùng!

 

Hướng Đông là hướng sau lưng chúng tôi. Những tiếng nổ chát chúa vọng vào hầm chỉ huy. Tiếng nổ của beta. Bọn đặc công chuyên xài thứ này mỗi khi công đồn về khuya. Đám này thiện nghệ trò đánh đêm, đánh đúng vào cái lúc chúng tôi ngủ gà ngủ gật. Nó rất khôn, nó dấu mặt trong hang hốc, nó thúc sau lưng bọn tép riu, nó vẽ vời chuyện bố láo lừa phỉnh rao trên hệ thống truyền thông. Doris là trung tâm giao thoa của những bộ óc chiến lược nam bắc đông tây, là viên hồng ngọc sáng ngời giữa cánh rừng huyền thoại, Doris đổ mồ hôi xương máu chăm chỉ làm công việc của người lính mà không bao giờ nghĩ đến “chiến công”, nhưng lại là cái mụn ngứa khó chịu của bọn ghẻ. Đánh sập ngọn cờ Doris là đánh gục một đối thủ bướng bỉnh. ĐM! Tụi âm binh. Nó tìm cách trả thù tôi trong đêm tối. Chúng như bầy cáo hè nhau xông vào hang nai.

 

Nghi binh từ hướng tây, đặc công từ hướng đông bò vào chỗ sơ hở nhất của Doris, mục tiêu chính là hầm chỉ huy. Tiếng AK47 xen lẫn tiếng AR15 tiếng đại liên nổ liên hồi, tiếng bêta đùng! đùng!

 

- Ông thầy, chết em rồi. Người hiệu thính viên hét lên rồi im bặt. Người Trung sĩ truyền tin duy nhất của tôi liên lạc với thế giới bên ngoài đã tắt tiếng. Thằng Tư nó ráng lết ra gần miệng hầm để cần ăng ten vô tuyến bắt sóng rõ hơn. Tôi nhào tới, cái máy PRC-25 đã vỡ toang trên lưng em, máu tuôn ra đỏ thẫm.

 

Đùng! Tai tôi lùng bùng, u u u … hàng ngàn con ve sầu cựa quậy, chúng nó đang chuẩn bị dàn hợp xướng mùa hè khói lửa? Cửa lô cốt vỡ toang, ánh trăng quỉ quái lọt vào, đất cát mù mịt, thuốc nổ nặc nồng nghẹt thở.

 

Đùng! Sức ép của tiếng nổ xô tôi ngã lăn ra. ngực tôi như bị một tảng đá khổng lồ đập vào, tôi đau đớn tột cùng, miệng tôi ươn ướt, tôi cố giương mắt ra nhìn những mảnh giấy “Mặt trận miền Tây vẫn yên tĩnh” tung lên lả tả, cuốn sách mà tôi ôm vào ngực hằng đêm tan tác như cánh hoa trước cơn bão lửa, cái máy cassette player rơi xuống đất vẫn lải nhải bản “Romeo & Juliet”.

 

Tôi lấy hết sức bình sinh đứng lên quơ lấy những mảnh giấy nhưng lại ngã vật xuống. Cơn đau chạy buốt lên óc, tôi không còn chỉ huy được đôi chân nữa, nó đã bại liệt.

 

Đùng! Tiếng nổ xé tai rung chuyển rất mạnh khiến cửa hầm sụp xuống, tối om om, tôi bắt đầu mê man … Tôi thua tan nát trận cuối này. Người anh em phương Bắc đã thắng một cách tàn bạo.

 

Tôi cảm thấy những mảnh giấy từ từ rơi xuống mặt tôi, một màn đen kịt phủ lên đôi mắt lịm dần lịm dần, nước mắt tôi ứa ra, miệng tôi khô ran mằn mặn.

 

Ảo ảnh chập chờn bóng người con gái sáng lòe như đóa hỏa châu đêm nhẹ nhàng tiến đến hôn lên môi tôi, - Em yêu Anh!

 

Trong khoảnh khắc, sự đau đớn đột nhiên mơ hồ tan biến, ôi Thượng đế từ bi, xin người mở cửa cho hồn tôi chắp cánh bay vào cõi trời hoan lạc. Ảo giác sót lại chút ánh sáng nhỏ li ti chớp chớp nhạt dần nhạt dần rồi mất hút vào màn tối.

 

Cơn gió dạt dào tình yêu nhẹ nhàng nâng tôi lên lâng lâng như cánh chim hồng lướt vào khung trời mênh mông thăm thẳm, tôi mỉm cười thấy em giang rộng cánh áo nữ sinh trắng toát lồng lộng, tôi cố giơ tay ra nắm lấy nhưng bóng em mờ dần mờ dần … rồi biến mất.

 

18.

Chiếc trực thăng từ hướng nam bay tới quả đồi Doris. Trên tầng mây xám xịt, viên Pilot lượn vài vòng như tránh tia lửa xanh lè phòng không của địch, vị sĩ quan tư lệnh ngồi trên băng ghế con tàu gọi lớn,

 

- Doris Doris, nghe rõ trả lời,

 

- …

 

- Doris Doris Doris…

 

Tếng phành phạch của cánh quạt trực thăng UH-1B xé gió bạt qua cửa con tàu át tiếng sè sè của cái máy PRC-25. Vị sĩ quan nấc nghẹn giọng thở dài, đôi mắt ông nhòe theo đám mây xám lùa khí lạnh hắt vào mặt; ông đã hiểu, trại Doris vỏn vẹn chỉ có một trung đội lính Thượng, chàng sĩ quan hai mươi hai tuổi trưởng đồn với vài thuộc cấp người Việt trong ban chỉ huy không bao giờ lên tiếng nữa; một đại đội đặc công tấn kích đêm qua với lựu đạn, bêta, B40, AK47, không một căn hầm, lô cốt, công sự, giao thông hào nào chịu nổi. Doris là trận thử lửa về chiến thuật và kỹ thuật công đồn của đặc công; nhưng sẽ còn điều gì khác nữa tiếp diễn trong cuộc chiến này?

 

Thoại đàm hoàn toàn im bặt vô tuyến. Viên Pilot sau khi quan sát một lúc không thấy tia lửa nào từ dưới đất phọt lên, trực thăng chúi mũi vào chỗ trống của đám mây xám, hạ thấp dần độ cao, lượn vài vòng sát trên đầu quả đồi điêu tàn, những vũng máu loang lổ khắp nơi, máu đỏ-bầm-đen ở các công sự chiến hào khô quánh, súng ngổn ngang.

 

Chiếc UH-1B từ từ đáp xuống bãi đất đỏ, bãi đất gồ ghề lởm chởm, đất đá văng vãi khắp nơi, tốc lực cánh quạt giảm hẳn, cánh quạt quay chầm chậm; vị sĩ quan tư lệnh bước xuống, cách bãi đất con tàu đậu không xa, cây cột cờ Doris đã gẫy ngang.

 

Đoạn nửa trên cây cột cờ rơi ập xuống đất kéo theo lá cờ vàng nhưng sợi dây cột lá cờ vẫn không đứt, hơi gió nhẹ của cánh quạt trực thăng tung lá cờ lất phất rung rung như linh hồn của những người lính trấn thủ Doris còn phảng phất đâu đây; những linh hồn “vị quốc vong thân” không bao giờ yên tĩnh, ôi, chẳng khác bao nhiêu những cái chết “sinh Bắc tử Nam” không toàn thây, để lại nắm xương tàn trên mảnh đất quê hương nghèo khổ bứt rứt với dòng chuyển động vật vã của đất trời sau cơn bão lửa.  

 

Vị sĩ quan già lấy tay hất mạnh những bao cát nát vụn lấp cửa căn hầm chỉ huy, bụi đỏ tung lên bám vào đôi mắt nhòe nhoẹt của ông.

Chợt ông dừng tay lại như suy nghĩ ra điều gì, ông tìm xác chàng Thiếu úy trẻ tuổi ư?

 

Cái lô cốt hoàn toàn sập xuống kín mít. Hai giọt nước mắt chảy dài xuống đôi má nhăn nheo đen sạm, vị sĩ quan già quay mặt nhìn về chỗ mô đất cao nhất của quả đồi, một lá cờ màu đỏ bằng bàn tay được cột dính vào đầu cây cột cờ đã gẫy làm đôi.    

 

Lý Kiến Trúc 

California, Little Saigon

(Nhuận sắc 16 Nov 2022)
13 Tháng Mười 2022(Xem: 832)
15 Tháng Chín 2022(Xem: 616)
08 Tháng Sáu 2022(Xem: 1434)
(Mặt trận miền Tây vẫn yên tĩnh)