Việt Nam làm phim tố cáo tội ác Đặng Tiểu Bình năm 1979&1984

27 Tháng Tám 20207:14 SA(Xem: 1094)

VĂN HÓA ONLINE - CỘNG ĐỒNG - THỨ THỨ NĂM 27 AUG 2020

Ý kiến-Bài vở vui lòng gởi về:  lykientrucvh@gmail.com (VănHóa Online-California)


Ban tuyên giáo đảng làm phim tố cáo tội ác Đặng Tiểu Bình đòi "dậy cho VN một bài học" năm 1979


image007image008

29/01/1979: Đặng tiểu Bình và TT Mỹ Carter ký thỏa thuận lịch sử tại W. DC. Vào ngày này năm 1979, Đặng Tiểu Bình, phó thủ tướng Trung Quốc, đã gặp Tổng thống Jimmy Carter, và họ cùng nhau ký các thỏa thuận lịch sử mới, qua đó đảo ngược hàng thập kỷ chống Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa của Hoa Kỳ. Vào tháng Giêng năm 1979, Đặng đã ký một hiệp định với Tổng thống Jimmy Carter, và cuối năm đó, Hoa Kỳ công nhận ngoại giao nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.


image009

Ngày 17/2/1979, Trung Quốc đưa 600.000 quân tấn công toàn tuyến biên giới Việt Nam. Số quân Trung Quốc tham chiến lúc này được cho nhiều hơn các đạo quân xâm lược trước đó. (Thời điểm cao nhất, quân Mỹ huy động trên chiến trường Việt Nam gần 550.000 quân, Pháp 250.000 quân...). Tại phiên họp mở rộng ngày 31 tháng 12, 1978 Đặng Tiểu Bình cử Tướng Hứa Thế Hữu, tư lệnh đại quân khu Quảng Châu được cử làm tổng tư lệnh cuộc chiến tranh, trực tiếp chỉ huy hướng xâm lược Cao Bằng - Lạng Sơn. Tướng Dương Đắc Chí, tư lệnh đại quân khu Côn Minh chỉ huy hướng Lào Cai.


Phạm Viết Đào: Chiến tranh Biên giới Trung-Việt: 'Tôi chỉ đi tìm sự thật lịch sử'


Quốc Phương BBC News 24/ 8/2020


image010

Chiến dịch MB 84, Trận đánh Bình độ 400 ở Lạng Sơn là một vị trí trọng yếu ở Đông Bắc Lạng Sơn, Trung Quốc chiếm từ 17/2/1979. Nguồn hình ảnh, Getty Images


Việt Nam và Trung Quốc đánh dấu 20 năm ký kết Hiệp ước Phân định Biên giới Đất liền và 10 năm triển khai ba văn kiện pháp lý về biên giới trên đất liền Việt-Trung.


image011

Phó Ủy viên Quốc vụ, Bộ trưởng Ngoại giao Trung Quốc Vương Nghị bên cột mốc biên giới Móng Cái - Trung cộng. Ông Phạm Bình Minh đang tô sơn cột mốc 1369 (2) tại khu vực cầu Bắc Luân II - cột mốc biên giới đầu tiên được cắm trên tuyến biên giới đất liền Việt Nam - Trung Quốc vào ngày 27-12-2001.


image012

Nhân dịp này, nhà văn, blogger Phạm Viết Đào từ Hà Nội đưa ra một số bình luận nhìn lại quan hệ giữa hai nước, đặc biệt là những thăng trầm qua cuộc chiến Biên giới khởi đầu từ 17/2/1979, mà mới đây đài truyền hình quốc gia của Việt Nam, VTV, đã phản ánh khi công chiếu một phim tài liệu do truyền hình báo Nhân Dân của đảng Cộng sản Việt Nam sản xuất với sự chỉ đạo nội dung của nhiều quan chức cao cấp trong Ban Tuyên giáo và Hội nhà báo của đảng và nhà nước.


‘Tích tụ lâu rồi’


“Việc đề cập tới các cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam của Trung Quốc sau năm 1975, kể từ sau 1990 thì loại thông tin này bị khép lại, xếp vào loại gần như cấm kỵ.


“Tôi thấy đã có cơ quan báo chí bị kỷ luật do vô tình hay cố ý đưa tin dính dáng tới chiến tranh Trung-Việt; có người đã bị bỏ tù, bị đàn áp khi nêu, bày tỏ vấn đề này ra với xã hội, công chúng dưới các hình thức như đăng viết lên mạng xã hội hay tham gia các cuộc biểu tình tự phát phản đối Trung Quốc...


“Mới đây một phim tài liệu vừa được công chiếu tối 11/8/2020 trên Đài truyền hình Việt Nam (VTV1), với tựa đề “Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh – Biên niên sử truyền hình: Năm 1979”.


"Phim do Báo Nhân dân sản xuất, hoàn thành năm 2020, với người đứng đầu Ban chỉ đạo là Phó Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương Lê Mạnh Hùng, chỉ đạo nội dung là Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương đảng, Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương Võ Văn Thưởng và ông Chủ tịch Hội nhà báo Việt Nam Thuận Hữu.


“Phim đã đưa hình ảnh ông Đặng Tiểu Bình choán hết cả khung hình ảnh và câu “khẩu dụ”: Dạy cho Việt Nam một bài học”. Đặng Tiểu Bình đã được nêu đích danh như là tác giả của hành động gây ra nhiều tội ác với Việt Nam…


image013

Nguồn hình ảnh, Getty Images. Chụp lại hình ảnh,


Nhà lãnh đạo Trung Quốc Đặng Tiểu Bình được nhắc tới trong bộ phim tài liệu mà Việt Nam mới hoàn thành trong năm 2020


“Tôi nghĩ động thái này có nguyên nhân được tích lũy qua thời gian của nó. Đối với phía Việt Nam, đó là từ việc Trung Quốc gia tăng tập trận liên tục, đưa lực lượng hải quân, không quân ra các hòn đảo, đá do họ chiếm đóng, kiến tạo trái phép để uy hiếp, đe dọa Việt Nam và các nước trong khu vực; rồi họ ép buộc một số dự án khai thác, thăm dò dầu, khí của Việt Nam đã ký với nước ngoài phải dừng.


“Bên cạnh đó, trên mặt trận ngoại giao, pháp lý, Trung Quốc còn họp báo tuyên bố với thế giới, gửi Công hàm tới Liên Hiệp Quốc, tố cáo đích danh Việt Nam về điều mà họ ngang ngược và phi lý cáo buộc là “xâm chiếm lãnh hải” Trung Quốc; đòi Việt Nam phải rút các hoạt động khai thác trên biển thuộc lãnh hải, vùng độc quyền kinh tế hợp pháp của Việt Nam…


“Tất cả cái đó đã dồn tụ và cái gì đến sẽ đến, mà theo đó Việt Nam đã bị Trung Quốc dồn vào chân tường. Nay nhiều người trong ban lãnh đạo và cán bộ lãnh đạo, đảng viên đã cảm thấy không còn một chút ảo tưởng nào về sự biết điều, khả dĩ có thể đàm phán, thượng lượng thông qua “kênh ý thức hệ được nữa”; Đó là cái kênh mà trước đây vẫn thường hay nhắc: “Không làm trái với những thỏa thuận của lãnh đạo cấp cao hai Đảng, Nhà nước”...


"Đó là lý do vì sao Tuyên giáo, Bộ Văn hóa & Thông tin, hội nhà báo, báo đảng và truyền hình đã tung ra phim này mà về thời điểm cách sự kiện đánh dấu nói trên chỉ vài tuần, như một tín hiệu.


Hy vọng được xuất bản


Nhà văn Phạm Viết Đào nói với BBC cho rằng tín hiệu nói trên giúp ông có hy vọng là các công trình, tác phẩm phản ánh cuộc chiến Việt – Trung mấy thập niên về trước tới đây, sau cuốn phim của Báo Nhân dân và Đài truyền hình Việt Nam công chiếu, sẽ được đảng và nhà nước cấp phép cho xuất bản, công bố chính thức, trong đó có công trình mà ông thực hiện, biên khảo trong hơn một thập niên qua:


“Cuốn Biên khảo “Vị Xuyên & Thế sự Việt-Trung” là công việc tôi dồn công sức, tâm huyết thu thập thông tin của hơn 10 năm qua. Đây là tập sách tôi vừa thu thập thông tin, mổ xẻ, khảo cứu, tìm đưa ra những góc khuất của cuộc chiến Vị Xuyên; những bài học xương máu về cuộc chiến tranh, về quan hệ với Trung Quốc qua cuộc chiến Vị Xuyên và đi tìm sự thật lịch sử.


image014

Nguồn hình ảnh, Hình do ông Phạm Viết Đào cung cấp


“Bản thảo kết cấu thành hai tập, có độ dày khoảng 2.000 trang, mỗi tập 1.000 trang… Đây là công trình do cá nhân tự làm, thu thập thông tin thông qua các cựu chiến binh từng tham chiến tại Vị Xuyên cung cấp; qua thông tin của các học giả, nhà báo nước ngoài quan tâm tới cuộc chiến Vị Xuyên và Thế sự Việt-Trung…


“Tôi đã gửi bản thảo tới ba nhà xuất bản xin giấy phép xuất bản để tác giả tự in, tự phát hành nhưng đã bị từ chối. Do biết tôi dồn công sức cho công trình này, phần nào đã được tôi công bố rải rác trên Facebook, blog cá nhân và đề cập trực tiếp, gián tiếp trên một số cơ quan báo chí nước ngoài như BBC, RFI, RFA v.v… nên nhiều bạn đọc họ rất muốn đọc.


"Trước tình thế đó, bản thân tôi cũng có nhu cầu điều chỉnh sửa chữa, góp ý chỉnh lý thông tin tôi đã sao chụp ra một số bản, gửi tặng bạn bè để được góp ý…


“Tôi hy vọng sau khi Đài truyền hình Việt Nam (VTV) công chiếu bộ phim do Báo Nhân Dân sản xuất về cuộc chiến chống Trung Quốc xâm lược, bản thảo “Vị Xuyên & Thế sự Việt-Trung” của tôi sẽ được các nhà xuất bản quan tâm, cấp phép xuất bản…


"Hiện nay tôi biết đã có ít nhất bốn cuốn sách đã được cấp phép xuất bản, những cuốn sách này đã đề cập trực diện cuộc chiến chống Trung Quốc xâm lược…


image015

Nguồn hình ảnh, Hình do ông Phạm Viết Đào cung cấp. Chụp lại hình ảnh,. Giáo sư Hirohide Kurihara, nhà Việt Nam học, người Nhật Bản (bên phải), gặp gỡ tác giả và tìm hiểu về "Vị Xuyên & Thế sự Việt-Trung" (tháng 5/2019, tại Hà Nội)


‘Những điều giờ mới nói’


Nhà văn, tác giả Phạm Viết Đào nhân dịp này chia sẻ một số chi tiết ‘bếp núc’ khi ông biên soạn cuốn sách mà trong đó ông tập hợp giới thiệu nhiều thông tin, hồi ức của cựu chiến binh Việt Nam:


“Trong quá trình biên khảo tôi rất tâm đắc những bài viết của anh em cựu chiến binh về các trận ác chiến mà họ đã tham gia và kể lại, mà tôi đã tập hợp.


"Tôi đã đưa cho một số người đọc như Giáo sư người Nhật Kurihara Hirohide, Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam Hữu Thỉnh, họ rất khen và cho rằng chỉ có Cựu chiến binh Vị Xuyên mới viết được những trang viết ‘thấm máu’ như vậy.


"Những bài viết của các cựu chiến binh Đặng Việt Châu, Trần Nam Thái, Nguyễn Thái Long, Phạm Ngọc Quyền… chẳng thua kém độ hấp dẫn, độ nóng của các trang viết của nhà văn Solokhov khi nhà văn người Nga viết “Họ chiến đấu vì Tổ quốc”; hay của Henry Barbusse khi viết “Le Feu”…


image016

Nguồn hình ảnh, Hình do ông Phạm Viết Đào cung cấp. Chụp lại hình ảnh, Cựu chiến binh Lê Mai, lính đơn vị F 356, chụp hình lưu niệm với ông Phạm Viết Đào, tác giả cuốn "Vị Xuyên & Thế sự Việt-Trung"


“Ngoài những trang viết của các cựu chiến binh, sách có nhiều bài lật lại các sự kiện lịch sử ví dụ như trong Chiến dịch MB 84, tại sao Trận đánh Bình độ 400 ở Lạng Sơn là một vị trí trọng yếu ở Đông Bắc Lạng Sơn, Trung Quốc chiếm từ 17/2/1979 sau khi rút họ đã giữ lại và củng cố thành một tập đoàn cứ điểm, cho một trung đoàn chốt giữ. Quân ta đã nhiều lần tiến đánh nhưng không thu hồi được mà còn chịu tổn thất lớn vì trận địa được củng cố mạnh lại có năm trận địa pháo bảo vệ.


“Còn Chiến dịch MB 84 có tới ba ông thượng tướng đó là: Thượng tướng Vũ Lập, Thượng tướng Nguyễn Hữu An, Thượng tướng Lê Ngọc Hiền, Phó Tổng tham mưu trưởng, ngoài ra còn có ba tướng nữa là Lê Duy Mật, Hoàng Đan, Nguyễn An, Hồng Cư mà chỉ được đem ra trận 100 khẩu pháo trên 100 ly, không được sử dụng pháo 152 ly?


"Trong khi đó phía Trung Quốc có tới trên 400 khẩu pháo trên 100 ly, họ lại chiếm lĩnh các đỉnh cao 1509, 1030, 1250, 1600; Pháo của họ đặt trên các cao điểm này hoàn toàn khống chế quân ta đang tấn công các cao điểm 772, 685, 233… tức là dưới tầm pháo Trung Quốc?


“Rồi về bộ binh Trung Quốc có sáu tiểu đoàn chốt giữ trên các điểm cao, phía dưới còn có quân yểm trợ, công sự hầm háo đã được bê tông hóa; còn phía ta tấn công dưới lên chỉ có chín tiểu đoàn. Ngay dưới đồng bằng thì phía tấn công cùng thường phải gấp bốn…


“Tôi đã từng chất vấn Tướng Lê Duy Mật, thời điểm đó là Chỉ huy trưởng Mặt Trận Hà Tuyên: ông cho biết Bộ Tư lệnh đã tính toán, đưa một lực lượng tinh nhuệ luồn sang đất Trung Quốc để đánh vào các trận địa pháo, trạm radar, kho tàng, cầu cống nhưng lực lượng tinh nhuệ này không hoàn thành được nhiệm vụ, không nổ được phát súng nào và không ai về được?


"Ông không tiết lộ con số thương vong này, nghi bị bại lộ, là bao nhiêu. Ông tỏ ra đau đớn khi ông kể cho tôi chuyện này. Ông cho biết đó là sáng kiến của Tướng Nguyễn Hữu An và cố vấn Liên Xô, ông đã không tán thành…


“Như vậy tổn thất trận 12/7/1984 hiện được báo chí nêu trên 1.000 đang là một dấu hỏi. Vì tổng số hy sinh là 5.000 bộ đội, nhưng cộng các trận tôi đã tính ra chỉ tính được con số 3.000, còn 2.000 bộ đội hy sinh ở đâu? Hiện chưa có địa chỉ…


"Rồi trong các tài liệu đã được công bố của Tướng Nguyễn Đức Huy, và Sư đoàn 356, chỉ ghi Mặt trận Đông Sông Lô thì Sư 312 đưa Trung đoàn 141 đánh chiếm cao điểm 1030.


"Thế nhưng tôi lại có tài liệu của một cựu chiến binh quê Hà Nội, anh tham gia trận MB 84 nhưng lại là lính của Trung đoàn 165 của Sư 312? Vậy thực chất bốn hay năm trung đoàn bộ binh đã tham gia chiến dịch này?


image017

Nguồn hình ảnh, Getty Images. Chụp lại hình ảnh, . Một điểm pháo binh Việt Nam chiến đấu chống lính Trung Quốc ở trận địa biên giới Lạng Sơn với khẩu pháo 130mm của Liên Xô hồi 1979.


“Tóm lại cuốn sách này cũng giúp tôi, trong quá trình biên khảo, đặt ra rất nhiều dấu hỏi chưa có lời đáp vì không một cơ quan chức năng nào của Bộ Quốc phòng Việt Nam hay Quân khu 2 đồng ý cấp tư liệu cho tôi. Nhưng một nhà báo đã truyền kinh nghiệm cho tôi rằng nếu muốn viết về Vị Xuyên chỉ có thể hỏi những người lính bình thường hoặc những ông tướng sắp chết… mà thôi.”


‘Để không bị lãng quên’


Về lý do, nội dung chính và thông điệp gửi gắm qua cuốn sách của mình, tác giả Phạm Viết Đào cho biết:


“Sở dĩ tôi tập trung để thu thập tài liệu về cuộc chiến Vị Xuyên là do tôi có người em ruột hy sinh trong “Chiến dịch MB 84 mở màn ngày 12/7/1984” tại Cao điểm 772. Do sự hy sinh của người thân như thế nên từ tháng 3/1985, tôi đã trực tiếp lên Vị Xuyên nhiều lần để hỏi thông tin về em trai tôi…


“Cuối những năm 1990, khi mà quan hệ hai nước bình thường hóa, Trung Quốc ồ ạt đầu tư vào nhiều dự án tại Việt Nam; là công chức của Bộ Văn hóa, qua bạn bè tôi cũng nắm được nhiều thông tin về các dự án Trung Quốc bỏ vốn đầu tư vào Việt Nam: từ bauxite, xi măng lò đứng, thép, điện, liên doanh, liên kết đất đai với các doanh nghiệp Trung Quốc v.v…


“Những dự án này ngay từ đầu chúng tôi đã cảm thấy có nhiều rủi ro, cạm bẫy (quốc tế bây giờ cũng nói công khai tới bẫy nợ, bẫy an ninh, quốc phòng khi làm ăn với Trung Quốc v.v...) Sau mười năm trên một chục dự án đổ bể, theo số liệu công bố trên báo chí, thì Việt Nam phải chịu thiệt hại ít nhất trên 50 tỷ USD trong các dự án Việt Nam làm ăn với Trung Quốc.


“Đó chính là lý do, động lực khiến cho tôi nung nấu ý định phải làm kỳ được cuốn sách này; để cho những sự thật lịch sử bi thương không bị vùi lấp, cố tình bị lãng quên…


“Mặt khác, là gia đình có người thân hy sinh trong cuộc chiến tranh chống Trung Quốc xâm lược ở biên giới phía bắc, tôi tin nhiều gia đình khác cũng có nỗi đau như gia đình tôi.


“Các anh hùng, liệt sĩ trong đó có chú em tôi đã chịu hy sinh gian khổ, chiến đấu ngoan cường vì nhiệm vụ thiêng liêng bảo vệ tổ quốc.


"Giờ đây, họ phải chịu ba nỗi đau chồng lên nhau mà trước tiên là nỗi đau của các liệt sĩ, người lính khi chiến đấu vì bom đạn;


"Thứ đến là sau khi chiến đấu, từ năm 1990 tới này, các phương tiện thông tin đại chúng, các dịp lễ tết, không ai nhắc nhớ tới sự hy sinh mất mát này của họ, không biết có cuộc chiến Vị Xuyên;


“Nỗi đau thứ ba là Trung Quốc đã dùng bom đạn tàn ác nhất nhưng không khuất phục được nhân dân Việt Nam, giờ đây, họ dùng cách khác thâm độc, dùng phương tiện là đồng tiền và họ đã đạt được nhiều mục đích, thậm chí có người nói tiếp cận được nhiều dự án quan trọng, khu vực đất đai chiến lược, an ninh nhạy cảm, cũng như có thể đã ‘tranh thủ’ được một bộ phận quan chức, cán bộ chịu ảnh hưởng, từ đó ‘qua mặt’ nhiều ngành và cơ quan chức năng Việt Nam, nguy cơ họ buộc Việt Nam lệ thuộc với Trung Quốc một thời gian quá dài đã là một thực tế…”


Ông Phạm Viết Đào từng công tác tại Vụ Điện ảnh của Bộ Văn hóa và sau đó là thanh tra của bộ này cho tới năm 2007. Sau đó ông làm Trưởng phòng Thanh tra Hành chính và Phòng chống Tham nhũng của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch. Ông là hội viên Hội nhà văn và cũng từng dịch nhiều tác phẩm sang tiếng Romania, nơi ông đã tu nghiệp đại học chuyên ngành văn chương.


Ông từng có nhiều bài viết trên blog bị nhà nước Việt Nam cho là “chỉ trích chính quyền” và bị bắt hồi 13/6/2013 tại Hà Nội, bị Tòa án Nhân dân Thành phố Hà Nội tuyên án ông 15 tháng tù vì tội 'Lợi dụng các quyền tự do dân chủ' theo Điều 258 Bộ luật Hình sự.


++++++++++++++++++++++++++++++++


XEM THÊM:

Trần Trung Đạo - Đặng Tiểu Bình trong chiến tranh biên giới Việt Trung 1979

  • Bởi Hồ Gươm

16/02/2014


Trần Trung Đạo


Tác giả gửi đến Dân Luận


image018


Trong chuyến công du các quốc gia Á Châu để chuẩn bị hậu thuẫn dư luận trước khi đánh Việt Nam, Đặng Tiểu Bình tuyên bố “Việt Nam là côn đồ, phải dạy cho Việt Nam bài học”. Câu “Việt Nam là côn đồ” được các đài truyền hình Trung Quốc phát đi và chính Dương Danh Dy, nguyên Tổng Lãnh Sự Quán Việt Nam tại Quảng Châu, đã xem đoạn phóng sự truyền hình đó “Tôi không bao giờ có thể quên vẻ mặt lỗ mãng và lời nói “bạo đồ” đầy giọng tức tối của ông ta qua truyền hình trực tiếp và tiếng người phiên dịch sang tiếng Anh là “hooligan” – tức du côn, côn đồ.”


Tại sao Đặng Tiểu Bình nói câu “lỗ mãng” đó?

Đảng CS Trung Quốc “hy sinh” quá nhiều cho đảng CSVN. Không nước nào viện trợ cho CSVN nhiều hơn Cộng Sản Trung Quốc (CSTQ). Trong cuộc chiến Việt Nam, Trung Quốc không chỉ viện trợ tiền của mà còn bằng xương máu. Trong tác phẩm Trung Quốc lâm chiến: Một bộ bách khoa (China at War: An Encyclopedia) tác giả Xiaobing Li liệt kê các đóng góp cụ thể của 320 ngàn quân Trung Quốc trong chiến tranh Việt Nam:


“Trong chiến tranh Việt Nam giai đoạn năm 1964 đến năm 1973, quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc (PLA) đã lần nữa can thiệp. Tháng Bảy năm 1965, Trung Quốc bắt đầu đưa quân vào Bắc Việt, bao gồm các đơn vị hỏa tiển địa-không (SAM), phòng không, làm đường rầy xe lửa, công binh, vét mìn, hậu cần. Quân đội Trung Quốc điều khiển các giàn hỏa tiển phòng không, chỉ huy các đơn vị SAM, xây dựng và sửa chữa đường sá, cầu cống, đường xe lửa, nhà máy. Sự tham gia của Trung Quốc giúp cho Việt Nam có điều kiện gởi thêm gởi nhiều đơn vị Bắc Việt vào Nam đánh Mỹ. Giữa năm 1965 và năm 1968, Trung Quốc gởi sang Bắc Việt 23 sư đoàn, gồm 95 trung đoàn, tổng số lên đến 320 ngàn quân. Vào cao điểm năm 1967, có 170,000 quân Trung Quốc hiện diện”.


Trong số năm nhân vật hàng đầu lãnh đạo Trung Quốc giai đoạn 1977 đến 1980 gồm Hoa Quốc Phong, Diệp Kiếm Anh, Lý Tiên Niệm, Uông Đông Hưng và Đặng Tiểu Bình thì Đặng Tiểu Bình là người có hoạt động gần gũi nhất với phong trào CSVN. Hơn ai hết, họ Đặng đã tiếp xúc, làm việc với các lãnh đạo CSVN, biết cá tính từng người và cũng biết một cách tường tận và chính xác những hy sinh của Trung Quốc dành cho đảng CSVN. Trong thập niên 1960, CSVN sống bằng gạo trắng của Trung Quốc nhưng cũng ngay thời gian đó quê hương Tứ Xuyên của Đặng Tiểu Bình chết đói trên 10 triệu người. Trong thời gian hai đảng CS cơm không lành canh không ngọt, bộ máy tuyên truyền CSVN ca ngợi Lê Duẩn như một nhân vật kiên quyết chống bành trướng Bắc Kinh nhưng đừng quên tháng 4, 1965, chính Lê Duẩn đã sang tận Bắc Kinh cầu khẩn Đặng Tiểu Bình để gởi quân trực tiếp tham chiến.


Xung đột biên giới và xô đuổi Hoa Kiều

Theo báo cáo Bộ Quốc Phòng Trung Quốc, các đụng độ quân sự trong khu vực biên giới giữa các lực lượng biên phòng hai nước đã gia tăng đáng kể sau 1975, gồm 752 vụ trong 1977 đến 1,100 vụ trong 1978. Không chỉ về số lượng mà cả tầm vóc của các vụ đụng độ cũng gia tăng. Dù không phải là lý do chính, những đụng độ quân sự cũng là cách gợi ý cho Bắc Kinh thấy giải pháp có thể phải chọn là giải pháp quân sự. Tháng 11, 1978 Phó Chủ Tịch Nhà nước Uông Đông Hưng và Tướng Su Zhenghua, Chính Ủy Hải Quân, đề nghị đưa quân sang Cambodia và Tướng Xu Shiyou, Tư lịnh Quân Khu Quảng Châu đề nghị đánh Việt Nam từ ngã Quảng Tây. Chính sách xô đuổi Hoa Kiều vào sáu tháng đầu 1978 cũng làm Trung Quốc khó chịu về bang giao và khó khăn về kinh tế.


Đánh Việt Nam để củng cố quyền lực

Đặng Tiểu Bình được phục hồi lần chót vào tháng 7, 1977 với chức vụ Phó Chủ Tịch BCH Trung Ương Đảng, Phó Chủ Tịch Quân Ủy Trung Ương, Phó Thủ Tướng, Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Giải Phóng Nhân Dân Trung Quốc. Tuy nhiên, tất cả chức vụ này không đồng nghĩa với việc tóm thu quyền lực. Hoa Quốc Phong vẫn là Chủ Tịch Nước và Chủ Tịch Đảng. Các ủy viên Bộ Chính Trị khác như Uông Đông Hưng, người ủng hộ Hoa Quốc Phong, Lý Tiên Niệm, Phó Chủ Tịch Nước và Phó Chủ Tịch Đảng CSTQ đều còn nhiều quyền hành. Sự đấu tranh quyền lực trong nội bộ đảng CSTQ ngày càng căng thẳng. Ảnh hưởng của họ Đặng chỉ gia tăng sau chuyến viếng thăm Đông Nam Á và đặc biệt sau Hội Nghị Công Tác Trung Ương từ ngày 10 tháng 11 đến ngày 15 tháng 12, 1978 cũng như Hội Nghị Trung Ương Đảng kỳ III, trong đó các kế hoạch hiện đại hóa kinh tế được đề xuất như chiến lược của Trung Quốc trong thời kỳ mới. Trong nội dung chiến lược này, Mỹ được đánh giá như nguồn cung cấp khoa học kỹ thuật tiên tiến để phục vụ các hiện đại hóa.


Nỗi sợ bị bao vây

Tuy nhiên, câu nói của họ Đặng không phải phát ra từ cá lý do trên mà chính từ nỗi sợ bị bao vây. Học từ những bài học cay đắng của mấy ngàn năm lịch sử Trung Hoa, nỗi sợ lớn nhất ám ảnh thường xuyên trong đầu các thế hệ lãnh đạo CSTQ là nỗi sợ bị bao vây. Tất cả chính sách đối ngoại của đảng CSTQ từ 1949 đến nay đều bị chi phối bởi nỗi lo sợ đó.


Cựu Ngoại trưởng Mỹ Henry Kissinger, trong tác phẩm Về Trung Quốc (On China) vừa xuất bản, đã trích lại một đoạn đối thoại giữa Phạm Văn Đồng và Chu Ân Lai trong cuộc viếng thăm Trung Quốc của họ Phạm vào năm 1968. Chu Ân Lai: “Trong một thời gian dài, Trung Quốc bị Mỹ bao vây. Bây giờ Liên Xô bao vây Trung Quốc, ngoại trừ phần Việt Nam”. Phạm Văn Đồng nhiệt tình đáp lại: “Chúng tôi càng quyết tâm để đánh bại đế quốc Mỹ bất cứ nơi nào trên lãnh thổ Việt Nam”. Chu Ân Lai: “Đó chính là lý do chúng tôi ủng hộ các đồng chí”. Phạm Văn Đồng phấn khởi: “Chiến thắng của chúng tôi sẽ có ảnh hưởng tích cực tại châu Á, sẽ đem lại những thành quả chưa từng thấy”. Chu Ân Lai đồng ý: “Các đồng chí nghĩ thế là đúng ”.


Chính sách của Đặng Tiểu Bình đối với Liên Xô kế thừa từ quan điểm của Mao, qua đó, sự bành trướng của Liên Xô được xem như “một đe dọa đối với hòa bình”. Khi Việt Nam rơi vào quỹ đạo Liên Xô sau Hiệp Ước Hữu Nghị và Hợp Tác Việt-Xô được ký ngày 3 tháng 11, 1978, nỗi sợ hãi bị bao vây như Chu Ân Lai chia sẻ với Phạm Văn Đồng không còn là một ám ảnh đầy đe dọa mà là một thực tế đầy nguy hiểm.


Cambodia, giọt nước tràn ly

Không những Trung Quốc sợ bao vây từ phía nam, vùng biên giới Lào mà còn lo sợ bị cả khối Việt Miên Lào bao vây.


Để cô lập Việt Nam và ngăn chận khối Việt Miên Lào liên minh nhau, ngay từ tháng 8 năm 1975, Đặng Tiểu Bình cũng đã chia sẻ với Khieu Samphan, nhân vật số ba trong Khmer Đỏ “Khi một siêu cường [Mỹ] rút đi, một siêu cường khác [Liên Xô] sẽ chụp lấy cơ hội mở rộng nanh vuốt tội ác của chúng đến Đông Nam Á”.


Họ Đặng kêu gọi đảng CS Campuchia đoàn kết với Trung Quốc trong việc ngăn chận Việt Nam bành trướng. Hoa Quốc Phong cũng lập lại những lời tương tự khi tiếp đón phái đoàn của Tổng bí thư đảng CS Lào Kaysone Phomvihane nhân chuyến viếng thăm Trung Quốc của y vào tháng Ba, 1976.


Tháng Sáu, 1978, Việt Nam chính thức tham gia COMECON và tháng 11 cùng năm Việt Nam ký Hiệp ước Hữu nghị và Hợp tác có bao gồm các điều khoản về quân sự với Liên Xô.


Tháng 12 năm 1978, Việt Nam xâm lăng Campuchia đánh bật tập đoàn Pol Pot vào rừng và thiết lập chế độ Heng Samrin thân CSVN.


Đặng Tiểu Bình xem đó như giọt nước tràn ly và quyết định chặt đứt vòng xích bằng cách dạy cho đàn em phản trắc CSVN “một bài học”. Đặng Tiểu Bình chọn phương pháp quân sự để chọc thủng vòng vây.


Quyết định của Đặng Tiểu Bình

Hầu hết tài liệu đều cho thấy, mặc dầu có sự chia rẽ trong nội bộ Bộ Chính Trị, quyết định tối hậu trong việc đánh Việt Nam là quyết định của Đặng Tiểu Bình.


Tại phiên họp mở rộng ngày 31 tháng 12, 1978 Đặng Tiểu Bình chính thức đề nghị thông qua kế hoạch tấn công “trừng phạt” Việt Nam. Các thành viên tham dự chẳng những đồng ý với kế hoạch đầu tiên tấn công vào Lạng Sơn, Cao Bằng và Lào Cai mà cả kế hoạch được sửa đổi trong đó có việc phối trí hai binh đoàn có thể tấn công vào Điện Biên Phủ từ ngã Mengla và Vân Nam qua đường Lào để đe dọa trực tiếp đến Hà Nội. Cũng trong phiên họp này Đặng Tiểu Bình cử Tướng Hứa Thế Hữu, Tư lịnh cánh quân từ hướng Quảng Tây, Tướng Dương Đắc Chí, đương kiêm Tư Lịnh Quân Khu Vũ Hán, chỉ huy cánh quân từ hướng Vân Nam.


Soạn kế hoạch trên giấy tờ thì dễ nhưng với một người có đầu óc thực tiễn như Đặng Tiểu Bình, y biết phải đối phó với nhiều khó khăn. Trong điều kiện kinh tế và quân sự còn rất yếu của Trung Quốc vào năm 1979, đánh Việt Nam là một quyết định vô cùng quan trọng. Đặng Tiểu Bình nắm được Bộ Chính Trị CSTQ nhưng về mặt đối ngoại, Đặng Tiểu Bình phải thuyết phục các quốc gia Đông Nam Á, Á Châu và nhất là Mỹ.


Lên đường thuyết khách tìm đồng minh

Cuối năm 1978, Đặng Tiểu Bình, 74 tuổi, thực hiện một chuyến công du chính thức và lịch sử với tư cách lãnh đạo tối cao của Trung Quốc để vừa thúc đẩy Bốn Hiện Đại Hóa và vừa dọn đường đánh Việt Nam.


Họ Đặng viếng thăm hàng loạt quốc gia châu Á như Nhật, Thái Lan, Mã Lai, Singapore, Miến Điện, Nepal. Tại mỗi quốc gia thăm viếng, họ Đặng luôn đem thỏa ước Việt-Xô ra hù dọa các nước láng giềng như là mối đe dọa cho hòa bình và ổn định Đông Nam Á. Đặng Tiểu Bình phát biểu tại Bangkok ngày 8 tháng 11 năm 1978: “Hiệp ước [Việt Xô] này không chỉ nhắm đến riêng Trung Quốc… mà là một âm mưu Sô Viết tầm thế giới. Các bạn có thể nghĩ hiệp ước chỉ nhằm bao vây Trung Quốc. Tôi đã trao đổi một cách thân hữu với nhiều nước rằng Trung Quốc không sợ bị bao vây. Thỏa hiệp có ý nghĩa quan trọng hơn đối với Á Châu và Thái Bình Dương. An ninh và hòa bình châu Á, Thái Bình Dương và toàn thế giới bị đe dọa.” Ngoại trừ Singapore, họ Đặng nhận sự ủng hộ của hầu hết các quốc gia Đông Nam Á.


ASEAN lên án Việt Nam xâm lăng Kampuchea. Nhật Bản cũng lên án Việt Nam.


Trong các chuyến công du nước ngoài, việc viếng thăm Mỹ đương nhiên là quan trọng nhất. Trong phiên họp của Bộ Chính Trị Trung Ương Đảng CSTQ ngày 2 tháng 11, 1978, Đặng Tiểu Bình chỉ thị cho Bộ Ngoại Giao Trung Quốc thông báo cho Mỹ biết ý định bình thường hóa ngoại giao.


Đầu tháng 12, Đặng báo cho các bí thư đảng ủy một số tỉnh và tư lịnh các quân khu rằng Mỹ có thể thiết lập quan hệ ngoại giao với Trung Quốc vào đầu năm Dương Lịch 1979. Chính bản thân Đặng đàm phán trực tiếp bốn lần với Leonard Woodcock, Giám Đốc Văn Phòng Đại Diện Mỹ tại Bắc Kinh trong hai ngày 13 và 15 tháng 11, 1978. Trong các buổi đàm phán, Đặng đã nhượng bộ Mỹ bằng cách không đưa vấn đề Mỹ bán võ khí cho Đài Loan như một điều kiện tiên quyết để tiến tới bình thường hóa vì Đặng nóng lòng giải quyết quan hệ với Mỹ trước khi xăm lăng Việt Nam.


Chính thức viếng thăm Hoa Kỳ

Ngày 28 tháng Giêng 1979, Đặng Tiểu Bình lên đường chính thức viếng thăm Mỹ. Y nghĩ rằng Mỹ và Trung Quốc đang tiến tới một đồng minh chiến lược chống Sô Viết trên phạm vi toàn cầu nhưng không có gì chắc chắn Mỹ sẽ ủng hộ ra mặt trong cuộc chiến chống Việt Nam sắp tới.


Trong thời gian ở Mỹ, Đặng Tiểu Bình gặp Tổng Thống Jimmy Carter ba lần.


Chỉ trong vài giờ sau khi hạ cánh xuống Washington DC, Đặng yêu cầu được gặp riêng với Tổng thống Carter để thảo luận về vấn đề Việt Nam. Đề nghị của họ Đặng làm phía Mỹ ngạc nhiên. Chiều ngày 29 tháng Giêng, Đặng và phái đoàn gồm Ngoại Trưởng Hoàng Hoa, Thứ trưởng Ngoại Giao Zhang Wenjin đến gặp TT Carter tại Tòa Bạch Ốc.


Phía Mỹ, ngoài TT Carter còn có Phó Tổng Thống Walter Mondale, Ngoại Trưởng Cyrus Vance và Cố Vấn An Ninh Quốc Gia Brzezinski. Trong buổi họp, Đặng Tiểu Bình thông báo cho TT Mỹ biết Trung Quốc đã quyết định chống lại sự bành trướng của Liên Xô bằng cách tấn công Việt Nam và cần sự ủng hộ của Mỹ.


Trái với mong muốn của Đặng Tiểu Bình, TT Carter không trả lời ngay, ngoài trừ việc yêu cầu họ Đặng nên “tự chế khi đương đầu với tình trạng khó khăn”.


Ngày hôm sau, Đặng Tiểu Bình nhận lá thư viết tay của TT Carter, trong đó ông có ý cản ngăn họ Đặng vì theo TT Carter dù Trung Quốc có đánh Việt Nam, Việt Nam cũng không rút quân khỏi Cambodia mà còn làm Trung Quốc sa lầy. TT Carter cũng nhắc việc xâm lăng Việt Nam có thể làm cản trở nỗ lực của Trung Quốc cổ võ cho một viễn ảnh hòa bình trên thế giới.


TT Carter viết lại trong nhật ký Jimmy Carter, Keeping Faith, Memoirs Of A President, Ngô Bắc dịch:


“Sáng sớm hôm sau, họ Đặng và tôi một lần nữa hội kiến tại Văn Phòng Bàu Dục, chỉ có một thông dịch viên hiện diện. Tôi đã đọc to và trao cho ông ta một bức thư viết tay tóm tắt các lý luận của tôi nhằm ngăn cản một cuộc xâm lăng của Trung Quốc vào Việt Nam. Ông ta đã nhấn mạnh rằng nếu họ quyết định chuyển động, họ sẽ triệt thoái các bộ đội Trung Quốc sau một thời gian ngắn – và các kết quả của một cuộc hành quân như thế nhiều phần có lợi và có hiệu quả lâu dài. Hoàn toàn khác biệt với tối hôm trước, giờ đây ông ta là một lãnh tụ cộng sản cứng rắn, quả quyết rằng dân tộc ông không xuất hiện với vẻ yếu mềm. Ông ta tuyên bố vẫn còn đang cứu xét vấn đề, nhưng ấn tượng của tôi là quyết định đã sẵn được lấy. Việt Nam sẽ bị trừng phạt.”


Ngày 30 tháng Giêng, trong một buổi họp khác với TT Carter, Đặng Tiểu Bình cho biết việc đánh Việt Nam đã được quyết định và sẽ không có gì làm thay đổi. Tuy nhiên, họ Đặng cũng nhấn mạnh chiến tranh sẽ xảy ra trong vòng giới hạn.


Đặng Tiểu Bình không mua chuộc được sự ủng hộ công khai của Mỹ để đánh Việt Nam nhưng ít ra không phải về tay trắng. Tổng thống Carter để lấy lòng “khách hàng khổng lồ” và “đồng minh chiến lược chống Liên Xô” đã đồng ý cung cấp tin tức tình báo các hoạt động của 50 sư đoàn Liên Xô trong vùng biên giới phía bắc Trung Hoa. Mỹ cũng dùng vệ tinh để theo dõi trận đánh biên giới và cũng nhờ những tấm ảnh chụp từ vệ tinh mà các cơ quan truyền thông biết ai đã dạy ai bài học trong chiến tranh biên giới Việt Trung 1979.


Trong buổi họp riêng với Tổng thống Carter trước khi lên máy bay, Đặng khẳng định “Trung Quốc vẫn phải trừng phạt Việt Nam”. Chuyến viếng thăm Mỹ là một thành công. Dù Mỹ không ủng hộ nhưng chắc chắc Đặng biết cũng sẽ không lên án Trung Quốc xâm lược Việt Nam. Trên đường về nước, Đặng ghé Tokyo lần nữa để vận động sự ủng hộ của Nhật.


Hai ngày sau khi trở lại Bắc Kinh, ngày 11 tháng 2, 1979 Đặng triệu tập phiên họp mở rộng của Bộ Chính Trị và giải thích đặc điểm và mục tiêu của cuộc tấn công Việt Nam.


Ngày 17 tháng 2, 1979, Đặng Tiểu Bình xua khoảng từ 300 ngàn đến 500 ngàn quân, tùy theo nguồn ghi nhận, tấn công Việt Nam. Nhiều tài liệu Việt, Hoa và quốc tế đã phân tích về chiến tranh biên giới Việt Trung 1979.


Lãnh đạo CSVN ở đâu trong ngày quân Trung Quốc tràn qua biên giới?

Trong khi Đặng Tiểu Bình chuẩn bị một cách chi tiết từ đối nội đến đối ngoại cho cuộc tấn công vào Việt Nam, các lãnh đạo CSVN đã bị CSTQ tẩy não sạch đến mức nghĩ rằng người Cộng Sản đàn anh dù có giận cỡ nào cũng không nở lòng đem quân đánh đàn em CSVN.


Dương Danh Dy, nguyên Tổng Lãnh Sự tại Quảng Châu nhắc lại “Trong tận đáy lòng chúng tôi vẫn hy vọng, có thể một cách ngây thơ rằng, Việt Nam và Trung Quốc từng quá gần gũi và hữu nghị, họ [Trung Quốc] chẳng lẽ thay đổi hoàn toàn với Việt Nam quá nhanh và quá mạnh như thế.”


Khi hàng trăm ngàn quân Trung Quốc tràn sang biên giới, Thủ Tướng CS Phạm Văn Đồng và Đại Tướng Tổng tham mưu trưởng Văn Tiến Dũng vẫn còn đang viếng thăm Campuchia.


Tình báo Việt Nam không theo dõi sát việc động binh ồ ạt của Trung Quốc và cũng không xác định được hướng nào là trục tiến quân chính của quân Trung Quốc. Tác giả Xiaoming Zhang viết trong Tái đánh giá cuộc chiến Trung Việt 1979 “Rõ ràng tình báo Việt Nam thất bại để chuẩn bị cho việc Trung Quốc xâm lăng” và “Mặc dù Trung Quốc nhiều tháng trước đó đã có nhiều dấu hiệu chiến tranh, các lãnh đạo Việt Nam không thể nào tin “nước xã hội chủ nghĩa anh em” có thể đánh họ.


Dù bị bất ngờ, hầu hết các nhà phân tích quân sự, kể cả nhiều tác giả người Hoa, cũng thừa nhận khả năng tác chiến của phía Việt Nam vượt xa khả năng của quân đội Trung Quốc.


Tạp chí Time tổng kết dựa theo các nguồn tin tình báo Mỹ, chỉ riêng trong hai ngày đầu thôi và khi các quân đoàn chính quy Việt Nam chưa được điều động đến, dân quân Việt Nam vùng biên giới đã hạ bốn ngàn quân chủ lực Trung Quốc. Tác giả Xiaobing Li, trong bài viết Quân đội Trung Quốc học bài học gì dựa theo khảo cứu A History of the Modern Chinese Army đã mô tả quân Trung Quốc chiến đấu tệ hại hơn cả trong chiến tranh Triều Tiên mấy chục năm trước.


Nếu ngày đó giới lãnh đạo CSVN không tin tưởng một cách mù quáng vào ý thức hệ CS và “tình hữu nghị Việt Trung”, nhiều ngàn thanh niên Việt Nam đã không chết, Lạng Sơn đã không bị san bằng, hai tiểu đoàn bảo vệ thị trấn Đồng Đăng chống cự lại hai sư đoàn Trung Quốc đã không phải hy sinh đến người lính cuối cùng.


Bài học lịch sử từ chiến tranh biên giới 1979

Từ đó đến nay, khi đánh khi đàm, khi vuốt ve khi đe dọa nhưng các mục tiêu của chủ nghĩa bành trướng Trung Quốc đối với Việt Nam từ chiến tranh biên giới 1979 đến Hội Nghị Thành Đô 1990 vẫn không thay đổi. Trung Quốc bằng mọi phương tiện sẽ buộc Việt Nam hoàn toàn lệ thuộc vào Trung Quốc về chế độ chính trị, là một phần không thể tách rời trong toàn bộ chiến lược an ninh châu Á của Trung Quốcđộc chiếm toàn bộ các quyền lợi kinh tế vùng biển Đông bao gồm cả các vùng biển đảo Hoàng Sa, Trường Sa đang tranh chấp.


Đặng Tiểu Bình trước đây và các lãnh đạo CSTQ hiện nay sẳn sàng dùng bất cứ phương tiện gì để thực hiện các chủ trương đó kể cả việc xóa bỏ nước Việt Nam trong bản đồ thế giới bằng một chính sách đánh phủ đầu (preemptive policy).


Đừng quên họ Đặng đã từng chia sẻ ý định này với Tổng thống Jimmy Carter “Bất cứ nơi nào, Liên Xô thò ngón tay tới, chúng ta phải chặt đứt ngón tay đó đi”. Đặng Tiểu Bình muốn liên minh quân sự với Mỹ như kiểu NATO ở châu Âu để triệt tiêu Liên Xô tại châu Á.


Cựu Ngoại trưởng Mỹ Henry Kissinger giải thích quan điểm này của họ Đặng trong tác phẩm Về Trung Quốc (On China) của ông: “Những gì Đặng Tiểu Bình đề nghị về căn bản là chính sách đánh phủ đầu, đó là một lãnh vực trong chủ thuyết quân sự ngăn chận tấn công của Trung Quốc… Nếu cần thiết, Trung Quốc sẽ chuẩn bị phát động các chiến dịch quân sự để phá vỡ kế hoạch của Liên Xô, đặc biệt tại vùng Đông Nam Á”. “Đông Nam Á” và “ngón tay” theo ý Đặng Tiểu Bình tức là Việt Nam và liên kết quân sự theo dạng NATO không phải là để dời vài cột mốc, dở một đoạn đường rầy xe lửa, đụng độ biên giới lẻ tẻ mà là cuộc tấn công phủ đầu, triệt tiêu có tính quyết định trước khi Việt Nam có khả năng chống trả.


Cựu Ngoại trưởng Mỹ bà Madeline Albright có câu nói rất hay “Lịch sử chưa bao giờ lập lại một cách chính xác nhưng chúng ta phải gánh lấy tai họa nếu không học từ lịch sử.” Với Chiến Tranh Lạnh đang diễn ra tại Châu Á hiện nay và với nền kinh tế Trung Quốc phát triển nhưng không lối thoát cho bộ máy chính trị độc tài toàn trị đang được chạy bằng nhiên liệu Đại Hán cực đoan, chiến tranh sẽ khó tránh khỏi dù các bên có muốn hay không.


Việt Nam, quốc gia vùng trái độn giữa hai quyền lực thế giới, chưa bao giờ đứng trước một chọn lựa sinh tử như hôm nay. Một người có trách nhiệm với tương lai đất nước, dù cá nhân có mang một thiên kiến chính trị nào, cũng phải biết thức tỉnh, biết đặt quyền lợi dân tộc lên trên, biết chọn hướng đi thích hợp với đà tiến văn minh dân chủ của thời đại, chấm dứt việc cấy vào nhận thức của tuổi trẻ một tinh thần bạc nhược, đầu hàng.


Lịch sử đã chứng minh, Trung Quốc giàu mạnh nhưng không phải là một quốc gia đáng sợ. Nỗi sợ hãi lớn nhất của người Việt Nam là sợ chính mình không đủ can đảm vượt qua quá khứ bản thân, không đủ can đảm thừa nhận sự thật và sống vì tương lai của các thế hệ con cháu mai sau.


Trần Trung Đạo


__________________________________________________


Tham khảo:


- Deng Xiaoping and China’s Decision to go to War with Vietnam, Xiaoming Zhang, MIT Press 2010
- China’s 1979 War with Vietnam: A Reassessment, Xiaoming Zhang
- Henry Kissinger, On China, The Penguin Press, New York 2011
- Graham Hutchings, Modern China, Harvard University Press, 2001
- Todd West, Failed Deterrence, University of Georgia
- Reuter, China admits 320,000 troops fought in Vietnam, May 16 1989
- Russell D. Howard, The Chinese People’s Liberation Army: “Short Arms and Slow Legs”, USAF Institute for National Security Studies 1999
- Wikipedia Đặng Tiểu Bình
- Wikipedia Chiến tranh biên giới Việt-Trung, 1979
- Vietnam tense as China war is marked, BBC, 16 February 2009
- A History of the Modern Chinese Armypp. P 255-256, 258-259 , Xiaobing Li (U. Press of Kentucky, 2007)
- Jimmy Carter, cựu Tổng Thống Hoa Kỳ, Ghi nhớ về chiến tranh Trung Quốc – Việt Nam năm 1979, Ngô Bắc dịch
- “Côn đồ” Đặng Tiểu Bình trong quan hệ Việt-Trung-Miên, Trần Trung Đạo
- Chu kỳ thù hận Việt-Trung-Miên, Trần Trung Đạo


++++++++++++++++++++++++++++++++++


Đặng Tiểu Bình và các mục tiêu của TQ trong cuộc chiến 1979

17 tháng 2 2019


image019


Cuộc chiến Biên giới 1979 nhằm 'dạy cho Việt Nam một bài học' là cơ hội Đặng Tiểu Bình xóa đi di sản quân sự Mao Trạch Đông và nhằm đạt ba mục tiêu chiến lược.


Nhưng ngày nay, cách nhìn các vấn đề quốc tế của Đặng đang bị âm thầm loại bỏ.


Chiến tranh chỉ là phương tiện

Ngày 16/2/1979, Trung ương Đảng TQ họp các tư lệnh quân đội để thông báo về cuộc chiến "phản kích tự vệ" nhằm vào cựu đồng chí, đồng minh Việt Nam.


Hoa Quốc Phong chủ trì hội nghị và tuyên bố lý do Bắc Kinh cần trừng phạt "Việt Nam kiêu ngạo", làm "tiểu bá" theo chân Liên Xô ở Đông Nam Á.


Sự hiện diện của quân đội Việt Nam tại Campuchia cũng là lý do để Trung Quốc ra tay.


Sau đó, Đặng Tiểu Bình, người vừa được phong làm tư lệnh tối cao của chiến dịch, phát biểu nêu ra mục tiêu của cuộc chiến không phải là chiếm đất, tấn công thủ đô Hà Nội mà nhằm cho Việt Nam "một bài học".


Về quân sự, Trung Quốc muốn làm suy yếu nước láng giềng phía Nam, qua hai mục tiêu:


1-tàn phá tối đa các tỉnh giáp biên của Việt Nam


2- dừng lại chờ, chặn đánh quân chủ lực của Việt Nam phải rút về từ Campuchia


Nhưng Đặng cũng nói cho các tướng Trung Quốc biết đây sẽ là thử thách cho Quân Giải phóng, nhất là bộ binh.


Các binh chủng không quân và hải quân Trung Quốc sẽ không trực tiếp tham chiến mà chỉ hỗ trợ, để tránh một cuộc chiến lan rộng.


Đây là lời hứa của Đặng với Jimmy Carter, nhưng cũng là cách nhằm 'nắn gân' xem Liên Xô có tham chiến hay không.


Tuy thế, Trung Quốc cũng đã tăng cường nhiều sư đoàn lên vùng biên giới với Liên Xô và di dời hàng vạn dân khỏi vùng sát đường biên để phòng ngừa.


Ngay từ giai đoạn 1982-83, các sử liệu công bố ở Phương Tây và châu Á đã xác nhận Đặng không nói dối về mục tiêu cụ thể của cuộc chiến 1979.


Thậm chí, chỉ sang ngày 23/02, một tuần sau khi nhiều sư đoàn Trung Quốc tràn qua biên giới vào Việt Nam, và trước khi trận Lạng Sơn bắt đầu (ngày 27), Đặng công khai nói với quan chức châu Âu và Nhật Bản rằng Trung Quốc "sẽ rút quân trong khoảng 10 ngày, hoặc thêm đôi ba hôm nữa".


Tuy báo Việt Nam gọi đây là chiến tranh xâm lược từ phía Trung Quốc, Bắc Kinh không hề có ý định chiếm đất.


Chiến tranh 1979: Liên Xô biết là TQ sẽ đánh VN?


Henry Kissinger bị phản đối khi đến Oslo


Cuộc chiến 1979 có đạt được các mục tiêu?


Về quân sự, Trung Quốc đã không tiêu diệt được một sư đoàn quân chính quy nào của Việt Nam và còn bị tổn thất lớn.


Thất bại này được Đặng Tiểu Bình biến thành động cơ cải tổ Quân Giải phóng, hiện đại hóa các quân binh chủng, thanh lọc các tướng còn lưu luyến thuyết 'chiến tranh nhân dân' của Mao.


Về kinh tế, quân Trung Quốc đã đạt mục tiêu tàn phá tối đa cơ sở hạ tầng các tỉnh biên giới Việt Nam - 80% nhà cửa ở nhiều thị trấn bị tiêu hủy toàn bộ, theo một số tài liệu.


Về ngoại giao, Trung Quốc không khiến Hà Nội rút quân ngay khỏi Campuchia hoặc thay đổi đường lối đối ngoại.


Tuy thế, về chiến lược, Trung Quốc đã thách thức thành công liên minh Moscow - Hà Nội, và chứng minh cho mọi đồng minh của Liên Xô rằng Moscow sẽ không ứng cứu họ khi cần.


Hoa Quốc Phong đã hỉ hả nói Bắc Kinh dám "vuốt râu gấu Nga" mà không sao.


Vì sao đánh ngắn ngày?


image007



Chụp lại hình ảnh,


Đặng Tiểu Bình trở lại chính trường sau thời Mao và làm thay đổi Trung Quốc


Dù không thành công về quân sự, Đặng Tiểu Bình được ca ngợi ở Trung Quốc về các dự báo chiến lược.


Chẳng hạn các phát biểu của tướng Triệu Nam Kỳ của Trung Quốc nhắc lại ngay từ năm 1975, sau Chiến tranh Việt Nam, Đặng Tiểu Bình đã nói tình thế quốc tế không cho phép xảy ra Thế chiến 3 trong vòng 5 năm tiếp theo.


Đây là cơ hội cho Trung Quốc bỏ thuyết đấu tranh giai cấp sang xây dựng kinh tế, và tạo môi trường khu vực thuận lợi.


Tự tin rằng không đại cường nào thiết tha với cuộc thế chiến mới, trong khung thời gian 5 năm đó, Đặng đã tấn công Việt Nam.


Vì Moscow không đem quân giúp Hà Nội như đã hứa trong hiệp ước phòng thủ chung ký năm 1978, chữ tín của người Nga bị hạ bệ.


Điều này đã có tác động mạnh đến cả các quốc gia cộng sản Đông Âu thời gian sau đó.


Qua cuộc động binh đầu tiên từ cuộc chiến Trung - Ấn hai thập niên trước đó, Bắc Kinh báo hiệu cho Đông Nam Á sự trở lại với vị thế một cường quốc quân sự.


Cách dụng binh nay thay đổi

Nhưng di sản lớn nhất Đặng để lại từ cuộc chiến 1979 là cách dùng binh của Trung Quốc.


Theo Đặng, Trung Quốc chỉ có thể và chỉ nên dùng binh hạn chế về thời gian, nhanh gọn và không chiếm đất, giành dân, không kéo dài phức tạp.


Quân Giải phóng, theo quan điểm của Đặng, chỉ nên đánh ở biên giới gần.


Đặng ý thức được đường tiếp liệu trên bộ của Trung Quốc quá yếu kém, tốc độ di chuyển chậm.


Cuối năm 1978, có tướng Trung Quốc đã khoe chỉ cần một tuần là họ có thể chiếm được Hà Nội.


Nhưng trên thực tế, sau 18 ngày tấn công ồ ạt, chịu nhiều thương vong, Trung Quốc mới chỉ tiến tới Đồng Đăng.


Tuy thế, các bài học từ chiến tranh Trung - Việt đã làm thay đổi tư duy của quân đội Trung Quốc.


image020


image021


Các đánh giá nổi bật nhất về câu nói này đến từ Fareed Zakaria, Lý Quang Diệu và Michael Pillsbury.


Zakaria của CNN dịch câu này là "Hide brightness, nourish obscurity", và chú ý về vế thứ hai "chăm sóc, nuôi dưỡng sự mờ tối".


Lý Quang Diệu thì tin rằng Đặng muốn 'Thao quang dưỡng hối' trở thành chiến lược cho nhiều thế hệ lãnh đạo Trung Quốc.


Michael Pillsbury, chuyên gia chính trị thạo tiếng Trung, hiện tư vấn cho Donald Trump để đánh Trung Quốc bằng thương mại cho rằng khái niệm 'dưỡng hối', không còn được Tập áp dụng.


Ông tin rằng 'Trung Quốc trỗi dậy hòa bình chỉ là ảo giác' (China's peaceful rise is a mirage) mà Washington nên tỉnh táo nhận ra.


Cũng có ý kiến nói Đặng không hề bảo Trung Quốc phải "chịu nhục" như Câu Tiễn, hoặc "lấy khiêm làm đức" như Lưu Bị.


Đặng muốn lãnh đạo Trung Quốc hiểu rằng cứ để mọi thứ mờ mờ tỏ tỏ là môi trường tốt nhất cho nước này.


image022


Trong môi trường đó, tự tầm vóc vĩ đại và sức mạnh lên dần của Trung Quốc sẽ tạo thế mạnh điều chỉnh hành vi các nước khác.


Đặc biệt, Đặng Tiểu Bình đã để lại lời giải thích cho câu nói của mình, và điểm quan trọng thứ năm ông nhấn mạnh là "hòa bình, hòa hoãn với mọi quốc gia, không nhấn mạnh ý thức hệ của Đảng Cộng sản" (不再以意识形态来划线).


Nhưng lời khuyên này có vẻ như không còn được lắng nghe.


Thay vì giữ tình trạng mờ ảo lâu dài, Trung Quốc đặt ra các thời hạn chặt như 'Made in China 2025', hoàn tất Hiện đại hóa Xã hội chủ nghĩa 2035, và phục hưng dân tộc 2050.


Về quân sự, Trung Quốc không chỉ triển khai ở các vùng biển lân cận, mà vươn đi rất xa, sang tận Djibouti đóng căn cứ.


Về kinh tế, sáng kiến Vàng đai và Con đường nay không chỉ nhằm kết nối lục địa Âu - Á mà còn vươn sang châu Phi, xuống vùng Nam Thái Bình Dương.


Ý thức hệ cộng sản không giảm mà thành nội dung cho phát triển, như nhận định của Kerry Brown trong bài về năm '2018 không may mắn' cho Trung Quốc.


Điều này tạo cảm giác cho dư luận Phương Tây rằng Trung Quốc muốn thay Liên Xô cũ làm đối thủ chính của họ.


Một Trung Quốc dùng đồng tiền và công nghệ tư bản để xây dựng một thứ chủ nghĩa xã hội kiểu riêng là điều khó chấp nhận với các nước tư bản.


Một tài liệu của Quốc hội Mỹ tin rằng vào năm 2050, sức mạnh quân sự Trung Quốc, nếu cứ tiến triển theo đà hiện nay, sẽ bằng Hoa Kỳ.


Để đáp lại, bên cạnh thương mại, việc chặn 'chuyển giao công nghệ cao cấp' mà Hoa Kỳ đề xướng còn nhằm hạn chế hiện đại hóa quân sự của Trung Quốc.


Chiến tranh biên giới 1979 là trận đánh lớn cuối cùng trong thế kỷ 20 của Quân Giải phóng Nhân dân Trung Hoa.


Đó cũng là là trận chiến thứ ba bên ngoài lãnh thổ Trung Quốc, sau cuộc xâm nhập vào Himalaya năm 1962 đánh sang Ấn Độ, và Chiến tranh Triều Tiên 1951-53.


Sang thế kỷ 21, Trung Quốc chưa lâm chiến lần nào và cách xây dựng chiến lược quốc phòng đã thay đổi nhiều.


Nhưng cục diện khu vực và quan hệ Trung Quốc với các nước đối thủ: Hoa Kỳ, Úc, Nhật Bản, khối Nato cũng đã thay đổi.


Bất cứ một xung đột nào xảy ra tới đây sẽ là phép thử với chính sách của chủ tịch Tập, người đã bỏ lại phía sau các bài học chiến tranh của Đặng Tiểu Bình./


+++++++++++++++++++++++++++++++++


XEM THÊM:


Phim tài liệu: Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh - Biên niên sử truyền hình - Năm 1979 Phần 2


image023


https://www.youtube.com/watch?v=p8riyDwlyo


Xem từ phút 09:50


image024


11/08/2020 21:39


Phim tài liệu với nội dung: Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh - Biên niên sử truyền hình - Năm 1979.


+++++++++++++++++++++++++++++++++++


XEM THÊM:


BBChttp://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/vn-china-smoldering-war-06092011083440.html


Giao tranh đẫm máu tại cao điểm 1509 (Lão Sơn / Núi Đất) Thanh Thủy, Hà Giang năm 1984


Tác giả : Nghiên cứu viên Masanori nakamura 


Hà Minh Thành dịch


Tài liệu nghiên cứu giảng dạy dành cho sinh viên sĩ quan của Tự vệ đội.


Cục phòng vệ Nhật Bản-Đại học Phòng vệ.


Kế hoạch hành quân nhằm chiếm lại Cao điểm 1509 có mật danh là " MB84, thu hồi lãnh thổ" đã được vạch công phu. Tuy nhiên, cả tướng Văn Tiến Dũng và các cố-vấn quân-sự Liên-Xô cũng không ngờ là họ đã bị bán đứng bởi một sĩ-quan cao-cấp phản-bội ?


image025


Ảnh chân dung : tướng Văn Tiến Dũng và tướng Trung Quốc Dương Đắc Chí (Yang Dezhi); Đối thủ của nhau trong cuộc giao chiến tại Cao điểm 1509 ( Lão Sơn / Núi Đất ) năm 1984...


Trận chiến Lão Sơn, (phía Việt Nam gọi là Cao điểm 1509 Núi Đất), được xem là trận chiến đẫm máu, khốc liệt nhất trong vùng Á Châu gần đây nhất. Cuộc chiến nổ ra tại một căn cứ quân sự của Việt Nam tại điểm cao 1509 và điểm cao 1250, hai cao điểm này nằm dọc theo biên giới Việt Trung mà phía Trung Quốc gọi là Lão Sơn và Giả Âm Sơn. Để chiếm được 2 cao điểm này Giải phóng quân Trung Quốc đã tạo ra một cuộc xung đột võ trang với quy mô lớn. Lịch sử quân sự Trung Quốc gọi cuộc chiến chiếm 2 điểm cao này là Chiến-dịch Lưỡng Sơn.


Trận chiến Lão Sơn bắt đầu vào ngày 2 tháng năm 1984 khởi màn bằng trận tấn công tổng lực bằng pháo-binh vào căn cứ quân sự của quân đội Việt Nam.


Cuộc giao tranh quân sự giữa quân đội 2 nước Việt Nam và Trung Quốc chia thành 3 giai đoạn


  Giai đoạn 1 : Từ ngày 2 tháng 4 đến ngày 15 tháng 4 năm 1984


  Giai đoạn 2 : Từ ngày 2 tháng 6 đến ngày 10 tháng 7 năm 1984


  Giai đoạn 3 : Từ ngày 12 tháng 7 đến ngày 14 tháng 7 năm 1984


Trận chiến kết thúc vào ngày 14 tháng 7 năm 1984 bằng một trận đánh cảm tử xáp-lá-cà (bạch binh chiến) của các binh sĩ Việt Nam. Phía Trung Quốc đã phản công bằng pháo-binh và hỏa lực mạnh để tử thủ Lão Sơn. Sau trận chiến này, với số thương vong quá lớn, quân đội VN đã hoàn toàn bỏ cuộc. Lãnh thổ Việt Nam đã mất vùng núi Đất (Lão Sơn) vào tay Trung Quốc từ đó.


Sau hiệp-định hoạch-định biên-giới Việt-Trung thì 2 vùng núi này chính thức trở thành lãnh thổ của Trung Quốc. 


1/ Tương quan lực lượng tham chiến :


Phía Trung Quốc :


Tướng chỉ huy : Dương Đắc Chí (Yang Dezhi)


Chiến lực : Quân-đoàn 14, Quân-đoàn 11,Quân-đoàn 1, Tập-đoàn quân 67, Tập-đoàn quân 27, Tập-đoàn quân 13.


Số binh sĩ thương vong : Bất minh (có nguồn thông tin cho biết khoảng 939 binh-sĩ tử-trận)


Phía Việt Nam :


Tướng chỉ huy : tướng Văn Tiến Dũng


Lực lượng tham chiến : Sư-đoàn 313, Sư-đoàn 316, Sư-đoàn 356 chính-quy. Địa-phương-quân và dân-binh.


Số binh sĩ thương vong : Bất minh (theo nguồn tin Trung Quốc thì có 3700 binh-sĩ Việt Nam tử-trận còn lại trên chiến trường. Dự đoán binh-sĩ tử-trận khoảng 4000 binh-sĩ.


Theo nguồn tin của phóng viên chiến trường của NHK được biết chính xác là : trung-đoàn 174 thuộc sư-đòan 316 VN sau 10 h giao tranh với sư-đoàn 119 của Trung Quốc tại điểm cao 142, 149 thuộc khu-vực Na Lập vào ngày 12 tháng 7 năm 1984, phía VN bị tử-thương 300 binh-sĩ tại mặt trận.


2/ Quá trình đưa đến sự giao tranh


Trong suốt thời gian trước hoạch định biên giới Việt Trung thì Lão Sơn và Giả Âm Sơn được công nhận là lãnh thổ của Việt Nam. Lão Sơn với cao độ 1422.2 m so với mặt biển là một vị trí chiến lược quan trọng trong phối trí quân lực trong suốt lịch sử vệ quốc của người Việt Nam. Từ đây có thể giám sát con đường huyết mạch nối từ Hà Giang của Việt Nam sang Trung Quốc.


Năm 1979 trên đường tiến quân sang đánh Việt Nam, tướng Dương Đắc Chí (Yang Dezhi) tư lệnh quân khu Côn Minh đã chiếm vùng này. Sự tiến quân quá nhanh của Trung Quốc vào Việt Nam đã khiến tướng Dương Đắc Chí khinh địch và đánh giá thấp tướng Võ Nguyên Giáp một thiên tài quân sự của Việt Nam.


Trong một công điện báo công với Đặng Tiểu Bình, sau khi xâm nhập vào Việt Nam mà không bị tổn thất nhiều, tướng Dương Đắc Chí đã xin phép cho thêm một tuần nữa để tiến quân đến Hà Nội, bắt sống toàn bộ ban lãnh đạo Việt Nam. Phía Việt Nam, Tướng Võ Nguyên Giáp đã áp dụng nhuần nhuyễn chiến-thuật : Dụ địch vào sâu nội địa; Cắt đứt quân viện hậu-cần; Tổng phản công… một chiến-thuật trong kinh nghiệm vệ-quốc hàng ngàn năm qua của người Việt Nam đối với Trung Quốc.


Tướng Võ Nguyên Giáp với các lực lượng khinh binh và địa phương quân đã phá hủy toàn bộ các tuyến quân viện hậu-cần của Tướng Dương Đắc Chí; hành động quân sự này khiến trên 500 chiến xa của Giải-phóng-quân Trung-Quốc dưới quyền của tướng Dương Đắc Chí trở thành những cục sắt chết không hoạt động được trên chiến trường vì thiếu nhiên liệu và trở thành các điểm tác xạ của Địa phương quân VN.


Trước tình thế tan rã toàn bộ các quân đoàn tiến chiếm Việt Nam, tướng Dương Đắc Chí buộc phải cấp tốc xin lệnh rút binh về nước. Trên đường rút binh của tướng Dương Đắc Chí, quân đội Trung Quốc đã bị tổn thất nặng nề bởi sự truy-kích bằng pháo-binh của quân đội Việt Nam từ điểm cao 1509 này.


Có một kỳ tích về hành quân mà đến thời điểm này, các nhà phân tích về chiến-lược quân sự cũng không hiểu bằng cách nào, chỉ trong vòng một thời gian ngắn chưa đầy 1 ngày, tướng Võ Nguyên Giáp của Việt Nam có thể phối trí một lực lượng pháo-binh mạnh tại Cao điểm 1509, một căn cứ có địa hình hiểm trở để có thể truy-kích tận diệt các binh đoàn của Trung Quốc trên đường rút chạy khỏi VN. Mặc dầu Đặng Tiểu Bình tuyên bố đã dạy xong cho VN một bài học, nhưng trên thực tế thì có thể nói rằng gần như toàn bộ các quân-đoàn của quân khu Côn Minh dưới quyền tướng Dương Đắc Chí đã hoàn toàn bị xóa sổ.  


Từ sau bài học về sự đại bại chiến dịch quân sự đầu năm 1979, Đặng Tiểu Bình đã phải đi đến quyết định cải cách lại quân đội theo hướng hiện đại hóa. Tướng Dương Đắc Chí được sự ủng hộ của Đặng Tiểu Bình đã nắm chức Tổng tham mưu trưởng kiêm Ủy-viên Quân-ủy Trung-ương. Để phục hận về trận đại bại 5 năm về trước, để có thể kiểm soát không phận và uy hiếp tỉnh Hà Giang, cũng như làm bàn đạp để tấn công bình định Việt Nam trong tương lai, đồng thời nhằm khôi phục lại uy tín của quân đội đã xuống đến tận đáy, tướng Dương Đắc Chí đã lên kế hoạch chiếm lĩnh 2 điểm cao của vùng núi Lưỡng Sơn này.


3)  Quá trình giao tranh


Ngày 2 tháng 4 năm 1984 quân độI Trung Quốc bắt đầu pháo-kích đại quy mô vào điểm cao 1059 của Việt nam mở đầu cho trận giao tranh. Cuộc pháo-kích kéo dài 26 ngày cho đến ngày 27 tháng 4 năm 1984.


Ngày 28 tháng 4 qua thông tin tình-báo biết được phía VN đang chuẩn bị thay quân tại điểm cao này. Vào lúc quân số của phía VN đồn trú ít nhất ở căn cứ 1059, tướng Dương Đắc Chí đã ra lệnh cho sư-đoàn 40 và sư-đoàn 49 thuộc Quân-đoàn 14 quân-khu Côn Minh bắt đầu tấn công căn cứ hiểm yếu này. Mặc dầu với số quân áp đảo là 2 sư-đoàn, nhưng trước sự thiện chiến và quả cảm của lực lượng nhỏ quân đội Việt Nam đóng tại đó, phía Trung Quốc đã chịu nhiều tổn thất nặng nề. Phải sau 18 ngày chiến đấu, quân đội Trung Quốc mới chiếm lĩnh được một phần của Lão Sơn và Giả Âm Sơn vào ngày 15 tháng 5 năm 1984.


Ngày 12 tháng 6 đến ngày 7 tháng 10 năm 1984 được xem là giai đoạn giao tranh thứ 2, quân đội VN đã cố gắng tổ chức tái chiếm lại Lão Sơn, trong giai đoạn giao tranh này, thương vong phía Việt Nam không xác định được, nhưng phía Trung Quốc thì 2 đại-đội có nhiệm-vụ tử-thủ căn-cứ này đã hoàn-toàn bị tiêu-diệt. Phía Việt Nam tạm thời chiếm lại Lão Sơn.


Rút kinh nghiệm từ lần giao tranh này, tướng Dương Đắc Chí đã cho sử dụng hỏa-tiễn liên trang để đối kháng và sau đó dùng bộ-binh tái chiếm căn cứ. Đối lại quân-đội VN dùng súng cối và vũ-khí hạng nhẹ, lưỡi lê với cách đánh cận-chiến cảm-tử bám sát vào quân-đội Trung-Quốc để đánh nhằm giảm nguy-cơ thương-vong vì hỏa-tiễn đã gây thương-vong khủng-khiếp cho cả lực-lượng hai bên. Tuy nhiên trước sự áp đảo về lực lượng và vũ khí của Trung Quốc, phía Việt Nam đã chịu thất bại trong nỗ lực phòng thủ căn cứ. Sau trận giao tranh này Trung Quốc chiếm được cao điểm 1509.


4/ Giai đoạn 3 của cuộc giao tranh…


Bắt đầu từ ngày 12 tháng 7 đến ngày 14 tháng 7. Được thông tin tình-báo chính-xác từ một sĩ-quan cao cấp trong Cục quân-báo Việt-Nam, tướng Dương Đắc Chí đã nắm rõ toàn-bộ kế-hoạch hành-quân tái chiếm căn-cứ của VN. Bằng cách bố trí pháo-binh mạnh và hỏa-tiễn đa liên tranh tập trung vào các điểm quân đội Việt sẽ tập-kết bên mạn sườn núi ở cao độ 500 và 800, quân đội Trung Quốc chỉ còn chờ đợi quân đội Việt Nam bước vào cửa tử bằng trận địa bao vây bằng hỏa-tiễn và pháo.


Phía Việt-Nam lần này với sự trợ-giúp của các cố-vấn quân-sự Liên-Xô và trực-tiếp tướng Văn Tiến Dũng chỉ huy, lực-lượng tấn-công đã tổ-chức nghi-binh nhằm đánh lạc hướng theo-dõi của tình-báo Trung Quốc bằng cách : chọn ra 6 trung-đoàn từ các sư-đoàn 313, sư-đoàn 316, sư-đòan 356.


Ảnh: Lính Trung Quốc đứng cạnh những người lính Việt Nam đã anh dũng hy-sinh vì đất nước


Kế hoạch hành quân nhằm chiếm lại Cao điểm 1509 có mật danh là " MB84, thu hồi lãnh thổ" đã được vạch công phu. Tuy nhiên, cả tướng Văn Tiến Dũng và các cố-vấn quân-sự Liên-Xô cũng không ngờ là họ đã bị bán đứng bởi một sĩ-quan cao cấp phản-bội ?


Ngày 12 tháng 7 năm 1984, 6 trung-đoàn quân Việt Nam lần lượt tập-kết vào các địa điểm đã được tướng Dương Đắc Chí đợi sẵn ở cao độ 500 và 800 bên dưới cao điểm 1059.


5 giờ sáng giờ Việt Nam ngày 12 tháng 7, quân-đội VN bắt đầu men theo triền núi để tổng công kích và trận pháo-kích bao-vây tận diệt của tướng Dương Đắc Chí cũng bắt đầu. Sau 17 tiếng đồng hồ pháo-kích tập trung vào các điểm đã biết trước dựa theo kế-hoạch hành-quân mang tên MB84 của Việt Nam, tướng Dương Đắc Chí hoàn toàn đại thắng. Quân đội VN buộc phãi rút lui với số liệu thương vong do phía Trung Quốc công bố: khoảng 3700 thi-thể binh-sĩ Việt-Nam đã bị bỏ lại trên đỉnh Lão Sơn…


Ảnh: Các cựu chiến binh Trung Quốc tham dự trận đánh Núi Lão Sơn (đỉnh núi 1509) chụp hình lưu niệm trên đỉnh Núi Lão Sơn... nay thuộc về Trung Quốc...


5/ Ảnh hưởng về mặt quân sự


Trận chiến Lão Sơn là một trận chiến kinh điển trong các trận chiến hạn định phi quy ước. Chiến thắng của phía Trung Quốc có thể kể công đầu là chiến thắng của mạng lưới tình-báo Hoa Nam; Lực lượng tình-báo Hoa Nam đã cài cắm được điệp-viên vào hàng ngũ sĩ-quan cao cấp của Việt-Nam. Nếu không có thông tin tình-báo từ Việt Nam, cục diện trận chiến Lão Sơn có khả năng sẽ đi theo một hướng khác. Chắc chắn số thương vong khủng khiếp sẽ đến với các sư đoàn 40 và 49 của quân đội Trung Quốc bởi lối đánh cảm-tử và thiện-chiến của binh sĩ Việt Nam.


Trận chiến Lão Sơn đã làm thay đổi toàn bộ chiến-thuật tấn công của quân đội Trung Quốc theo hướng hiện đại hóa. Trong giai đoạn 3 của cuộc giao tranh có thể nói đây là một sự tái diễn lại cách đánh giữa quân đội bắc Việt Nam với chiến-thuật biển người, cận-chiến với quân đội Mỹ; kết hợp với chiến-thuật tập trung pháo-binh nhằm giảm thương vong cho binh-sĩ xung-kích trong thời gian chiến tranh Việt Nam.   


Từ chỗ tấn công theo chiến-thuật biển người là chiến-thuật quân sự cổ điển của Trung Quốc với Việt Nam; tướng Dương Đắc Chí đã thành công trong việc mạo hiểm ứng dụng chiến-thuật tấn-công và phòng-vệ tập trung bằng pháo-binh, kết hợp với thông tin tình-báo theo phong cách tác chiến hiện đại của Mỹ.


Từ trận đánh này cũng lộ rõ một điểm yếu của quân đội Trung Quốc, đó là công tác hậu-cần, vận tải của quân đội, không có khả năng không-vận để phục vụ cho việc tác chiến. Ví dụ để phục vụ cho cuộc chiến họ phải huy động cả xe của dân-sự để tải đạn dược và thương binh.


Về phía quân đội Việt Nam, mặc dầu địa hình bất lợi, nhưng với quyết tâm thu-hồi lãnh-thổ đã chọn chiến-thuật tấn-công bằng biển người. Với sĩ khí của quân đội Việt Nam lúc đó, khả năng thu hồi lại lãnh thổ trong trận chiến này rất cao, nhưng đồng nghĩa với việc chấp nhận hàng ngàn binh sĩ phải hy-sinh.


Có thể coi đây là một chiến-thuật hạ sách, khi mà tướng Văn Tiến Dũng không còn con đường để chọn lựa. Tuy nhiên thất-bại về phản gián của Việt Nam trong cuộc chiến này đã khiến Việt Nam phải chấp nhận thất-bại với gần 4000 binh-sĩ thương vong ( theo số liệu phía Trung Quốc đưa ra ). Đây là một bài học quan trọng trong công tác bảo-mật mà các sĩ quan trẻ trong tương lai phải luôn tâm niệm trong quá trình cầm binh tác chiến. Một sơ sót của người chỉ huy sẽ phải đổi bằng máu xương của hàng ngàn binh sĩ trên mặt trận và mất đi lãnh thổ.


Về mặt ảnh hưởng quân sự thì, chiến thắng Lão Sơn đã nâng cao sĩ khí cho quân đội Trung Quốc, tạo cơ hội cho quân đội Trung Quốc chuyển mình từ một quân đội lạc hậu sang một đội quân hiện đại với kỹ thuật tác chiến hiện đại đãi thay cho chiến-thuật biển người cố hữu. Đây là đà tiến để giới quân sự Trung quốc tạo ảnh hưởng lên giới chính trị để hiện đại hóa quân đội. Với việc chiếm lãnh Lão Sơn và Giả Âm Sơn, việc đặt 2 căn-cứ tại đó, Trung Quốc đã có khả năng kiểm soát và khống-chế về mặt quân sự trên toàn bộ miền Bắc Việt Nam.


Trong một số lần hiếm hoi, các đài duyên hải của lực lượng Hải thượng Tự Vệ Đội Nhật bản dọc theo quần đảo Okinawa, đã phát hiện bắt được các làn sóng phát theo hình thức nhiễu loạn số từ đài phát vô tuyến có tọa độ xác định đặt trên đỉnh Lão Sơn.


Theo đánh giá của các chuyên gia quân sự, nếu xảy ra một trận chiến phi quy ước giữa Việt Nam và Trung Quốc một lần nữa, thì với hệ-thống rada và đài phá sóng vô-tuyến mạnh như vậy của Trung Quốc ở căn-cứ Lão Sơn, khả năng toàn bộ hệ thống thông tin của lực lượng phòng không không-quân tại miền Bắc của Việt Nam kể cả hệ-thống thông-tin của Hàng-không dân dụng sẽ bị tê liệt ngay tức khắc; nếu bị quân đội Trung Quốc tiến hành gây nhiễu từ cụm đài của căn cứ này. Chưa kể đến lợi thế về mặt tác chiến pháo-binh cũng như hỏa-tiễn tầm xa, với vị trí Lão Sơn có khả năng khống-chế quân đội Việt Nam trên một phần vùng miền bắc Việt Nam trong một cuộc chiến hạn định từ căn cứ quân sự lớn này.  


Về phía Việt Nam, sau trận chiến này đã khiến cho uy tín một số tướng lãnh quân đội với nhiều công trạng trong cuộc chiến Việt nam bị suy sụp, thất sủng. Nhiều tướng lãnh kinh nghiệm dày dạn chiến trường bị thay thế bởi thế hệ tướng lĩnh trẻ chưa có kinh nghiệm tác chiến trên những mặt trận lớn.


Một mất mát lớn khác đối với quân đội VN trong thời kỳ này đó là : sự thất sủng của tướng Võ Nguyên Giáp trước ban lãnh đạo chính phủ Việt Nam, khi ông đưa ra yêu cầu giải quyết “Bài toán nước lớn”. Tướng Võ Nguyên Giáp chủ trương mở một nền ngoại giao đa phương với phương Tây kể cả cựu thù là Mỹ và các nước xung quanh, cùng với việc dùng lực lượng quân chính-quy Việt Nam tại Lào đánh quy hồi sang từ Lào sang Campuchia, giải phóng Campuchia xong thì rút hết quân về nước giao lại Campuchia cho Liên-hợp-quốc để giảm bớt sự hy sinh của binh sĩ và ngân sách quốc gia. Tìm cách phá mở thế bao vây từ kinh tế cho đến quân sự bởi các nước xung quanh.


Chủ trương này của Tướng Võ Nguyên Giáp đã không được ban lãnh đạo chính phủ Việt Nam đương thời đồng ý. Sự thất sủng của một nhà chiến lược quân sự vĩ đại đã khiến giới quân đội của Việt Nam dần dần bị xem nhẹ, đồng thời thế lực thân Trung Quốc trong giới chính trị gia Việt Nam có cơ hội quật khởi trở lại.


Sau cái chết của Phạm Hùng người được cho là kiên trì đường lối chống Trung Quốc bị chết một cách mờ-ám tại thành phố Hồ Chí Minh, có ý kiến nghi vấn có bàn tay của lực lượng tình-báo Hoa Nam, chính sách của lãnh đạo Việt Nam đã bắt đầu thay đổi…


Các chính sách về công tác tuyên-truyền chống Trung Quốc cũng dần dần bị loại bỏ từ dân chúng cho đến quân đội. Cùng với chính sách đổi mới quân đội Việt Nam đã thiên về làm kinh-tế hơn đặt nặng trọng tâm quốc phòng. Sau thất bại ở cuộc hải chiến Nam Sa (Trường Sa) vào tháng 3 năm 1989 ? (1988) thì có thể nói là quân đội Việt Nam đã đánh mất vị thế của mình ở Á Châu, Việt Nam đã bị các chuyên gia quân sự đánh giá không còn là một đội quân mạnh và thiện chiến nhất trong vùng Đông Nam Á nữa./


++++++++++++++++++++++++++++++++++


Tiếp tục chuyện về trận Vị Xuyên


Nhà văn Phạm Viết ĐàoGửi cho BBC từ Hà Nội


  • 18 tháng 7 2015

Chia sẻ

image026

TUOITRE.VN Một cựu chiến binh Việt Nam xúc động trước nắm đất 'thấm máu xương của đồng đội' khi thăm lại chiến trường cũ Vị Xuyên.


Lão Sơn là tên chung mà phía Trung Quốc nói về những trận đánh ác liệt giữa quân Trung Quốc lấn chiếm với bộ đội Việt Nam trên các mỏm núi tại khu vực ngã ba Thanh Thuỷ, gồm địa bàn hai xã Thanh Đức, Thanh Thuỷ, huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang (Việt Nam) giai đoạn từ 1983-1989.


Tại những mỏm núi từng xảy ra những trận đánh giằng co, ác liệt, quân hai bên tranh giành nhau từng hốc đá, từng khe suối; Phía Việt Nam đã gọi các tên các trận đánh này theo cách riêng:


-Trận đánh bảo vệ Cao điểm 1509 diễn ra ngày 28/4/1984;


- Trận phản công đánh chiếm lại Cao điểm 772, (lính Hà Giang thời đó gọi là “ Đồi thịt băm” );


-Những trận đánh giằng co cuối năm 1984 kéo sang năm 1985 tại Cao điểm 685 (lính Hà Giang gọi 685 là “Lò vôi thế kỷ” vì đạn pháo hai bên ngày đêm bắn phá nên ngọn núi này trắng xoá như vôi…);


-Khu vực Ngã ba Thanh Thuỷ thì lính Hà Giang gọi là “Cối xay thịt” thế kỷ.


Trung đoàn 118 của Trung Cộng phải đến 15p0 mới hoàn toàn chiếm được đỉnh 1509 sau khi đơn vị phòng ngự hy sinh đến người cuối cùngTrang mạng Quốc phòng TQ


-Còn các trận đánh tại đồi Đài, đồi Cô X., thì phía Trung Quốc gọi là Điểm cao 211, 400.


Trận Cao điểm 1509


Về trận đánh bảo vệ Cao điểm 1509 ngày 28/4/1984, người viết bài này đã gặp cựu chiến binh Việt Nam Đường Minh Tuấn, ông nguyên là kế toán pháo binh đại đội 14, trung đoàn 122, Sư 313, có quê ở Hương Canh, Phúc Yên.


Đường Minh Tuấn là một trong những người lính cuối cùng rút khỏi 1509 chiều 28/4/1984 và đã kể lại như sau:


"Phía quân ta (Việt Nam), Sư đoàn 313 đã bố trí một đại đội khoảng 100 tay súng chốt giữ cao điểm này.


"Trước khi mở đợt tấn công ồ ạt vào rạng sáng ngày 28/4/1984, phía Trung Quốc đã liên tục bắn pháo vào trận địa của quân ta suốt cả tháng trước đó.


"Từ 6 giờ sáng 28/4/1984 cho tới chiều, quân ta đã chống trả quyết liệt, gây cho phía Trung Quốc nhiều thương vong, khoảng 3 giờ chiều thì 1509 bị thất thủ vì quân ta hết đạn, bộ đội của Sư đoàn 313 đã phải “ mở đường máu” để rút lui…"


Về thông tin lính Trung Quốc bắn thương binh Việt Nam trong trận đánh này, tài liệu của mạng Quốc Phòng Trung Quốc, đã mô tả như sau:


“Trung đoàn 118 của Trung Cộng phải đến 15p0 mới hoàn toàn chiếm được đỉnh 1509 sau khi đơn vị phòng ngự hy sinh đến người cuối cùng.

image027

VIET VISION Cựu chiến binh Việt Nam trở lại chiến trường Vị Xuyên, hát và tưởng niệm đồng đội.


"Đặc biệt, có 4 nữ cán binh Cộng sản Việt Nam (CSVN) cố thủ trong hang đá, không chịu đầu hàng và lính Trung Cộng đã phải dùng súng phun lửa mới tiêu diệt được những cô gái này.


“Quân Trung Cộng cũng bị thương vong nặng: trung đoàn 118 bị chết 198 lính cùng một số bị thương. Trong đó một tiểu đoàn của trung đoàn này có tới 70% quân số bị loại khỏi vòng chiến.


Sự kiện 4 nữ cán binh cộng sản Việt Nam cố thủ trong hang đá bị lính Trung Cộng dùng súng phóng hoả thiêu chết trong hang, đã được một cán binh Trung Cộng kể lại trong hồi ký của anh ta, cũng đăng trên mạng Quốc Phòng Trung Quốc.


'Xử bắn thương binh'


Nguồn tin thứ hai do ông Hà Minh Thành, một Việt Kiều tại Nhật đã cùng tham gia đoàn làm phim của Đài truyền hình NHK Nhật Bản, làm bộ phim về chiến tranh biên giới Việt-Trung.


Trong trận đánh bảo vệ 1509 những thương binh liệt sĩ ta không mang được ai về; chắc lính Trung Quốc đã 'chôn cất' anh em mình tại chỗ…Hà Minh Thành, nhân chứng


Ông Hà Minh Thành đã lên quay phim trên Cao điểm 1509 vào năm 2009; đạo diễn Bành Trung Nghĩa, một đạo diễn người Trung Quốc, từng có em hy sinh tại Lão Sơn thực hiện bộ phim này.


Trong một bức thư gửi cho tác giả bài viết này, ông Hà Minh Thành cho hay ông đã nghe thấy một Cựu chiến binh Trung Quốc tên Vương Hoàn Hải trực tiếp kể lại câu chuyện.


Lá thư có đoạn: “Em là Hà Minh Thành, ở Nhật xin gửi tặng anh (Phạm Viết) Đào một số hình ảnh về núi Đất bây giờ đã thuộc về Trung Quốc sau hiệp định hoạch định biên giới; tên mới của Trung Quốc bây giờ là Lão Sơn mà em đã chụp vào tháng 12 năm ngoái (2009).


“Khu vực này hiện tại vẫn còn được xem là khu vực quân sự trọng yếu do quân đội Trung Quốc quản lý. Dĩ nhiên ngoài những chỗ họ cho phép thì hầu như họ cấm chụp ảnh, quay phim với lý do có rất nhiều mìn.


“Ông Vương Hoàn Hải, một sĩ quan Trung Quốc từng tham gia cuộc chiến đó, đã cho em biết đó là nơi chôn các binh sĩ Việt Nam bị chết trong trận đó.


“Ông ta vô tình kể một chi tiết là sau khi chiếm được Núi Đất thì họ thu gom hài cốt binh sĩ cả 2 bên, thi thể lính Trung Quốc thì họ đưa về phía sâu bên Trung Quốc cách đó 10km và làm nghĩa trang liệt sĩ , còn thi thể của các liệt sĩ Việt Nam (VN) cũng như các thương binh nặng nhẹ, các tù binh bị tập trung xử bắn hàng loạt tại chỗ không phân biệt đã chết hay còn sống, họ liệng xuống cái hố đó và nhờ lực lượng Hóa học đốt, sau đó thì cho xe ủi lấp.

image028

 Truyền thông nhà nước Việt Nam sau nhiều năm 'im lặng' gần đây đã nói về chiến trường Vị Xuyên trong Cuộc chiến Biên giới Việt - Trung.


“Ông ta nói rằng không nhớ chính xác nhưng trong cái hố đó có khoảng 3.700 xác binh sĩ VN. Cho đến ngày hôm nay ông ta và các đồng đội vẫn còn ám ảnh tiếng kêu gào của các thương binh VN trong biển lửa khi hỏa thiêu họ. Em đã không cầm được nước mắt và quỳ xuống cảm tạ trước ngôi mộ hoang tàn mà trong đó có thể có thi thể của anh Tạo em của anh, một người bằng tuổi của em đã Vị quốc vong thân…”


Nhân chứng thứ ba, ông Đường Minh Tuấn kể:


“Từ trên Mỏm 1, mỏm cuối cùng em và đồng đội còn giữ được tới tầm 3 giờ chiều; bọn em còn nghe rõ đồng đội kêu la từ Mỏm 2, đồng hương ơi cứu nhau với… Sau đó thì nghe súng nổ.


“Bộ đội ta thương vong và hy sinh đều được đưa vào trong hầm, khi lính Trung Quốc tràn được lên thì chúng xả súng bắn chết cả thương binh. Trong trận đánh bảo vệ 1509 những thương binh liệt sĩ ta không mang được ai về; chắc lính Trung Quốc đã 'chôn cất' anh em mình tại chỗ… “


Cả hiện trường náo loạn, tất cả đều cho rằng đây là đội đặc công mà bên Việt Nam phái sang thâm nhập đánh úp, mấy ngày sau mà chưa làm rõ được đầu đuôi là chuyện gìTư liệu phía Trung Quốc


Qua ít nhất ba nguồn tin trên, sơ bộ có thể xác tín một sự thật: không có chuyện "có 4 nữ cán binh cộng sản Việt Nam cố thủ trong hang đá” bị bắn chết như mạng Internet của Trung Quốc đưa, mà chắc chắn đó là anh em thương binh của Việt Nam, được đưa vào hầm và đã bị bắn chết, chính Đường Minh Tuấn có nghe tiếng kêu cứu của họ…


'Quay súng bắn chỉ huy'


Cuộc chiến Vị Xuyên có nhiều chi tiết, bí mật mà thời gian sẽ phải trả lời, nếu các nhân chứng, vật chứng không bị tiêu hủy hoặc mất mát hết.


Nhân đây, xin được đơn cử ngắn gọn một tình tiết khác của cuộc chiến trong nội bộ Trung Quốc. Ấy là một binh lính Trung Quốc dám nổ sung bắn một thủ trưởng bậc cao, đó là Sư trưởng Túc Nhung Sinh, con trai Đại tướng Túc Dụ ngay tại Lão Sơn.


Một tư liệu của phía Trung Quốc đưa trên mạng cách đây không lâu viết lại câu chuyện này cụ thể như sau:


“Sau thảm bại ngày 31/5 (1985), Quân đoàn 67 (của Trung Quốc) còn xảy ra một chuyện trước sau chưa từng có trong chiến tranh với Việt Nam.


“Một chiến sĩ, vốn người Táo Trang, từ trận đánh đồi 211 may mắn được sống quay về, vào giờ ăn cơm sáng, bước vào nhà ăn sở chỉ huy Quân đoàn 67, nhằm Túc Nhung Sinh mà bắn.

image029

PHAM VIET DAO BLOG - Tác giả Phạm Viết Đào (đầu tiên) thăm lại một địa điểm trên chiến trường cũ trận Vị Xuyên.


“Túc Nhung Sinh nhanh nhẹn trốn xuống gầm bàn ăn, nên không bị thương. Nhưng người cảnh vệ của họ Túc thì bị giết chết, Quân trưởng Quân 67 Trương Chí Kiên bị thương xuyên bả vai, còn mười người gồm binh lính sĩ quan đang đứng tại hiện trường cũng trúng thương.


“Cả hiện trường náo loạn, tất cả đều cho rằng đây là đội đặc công mà bên Việt Nam phái sang thâm nhập đánh úp, mấy ngày sau mà chưa làm rõ được đầu đuôi là chuyện gì. Mà người chiến sĩ ấy cũng an toàn trở về từ hiện trường. Mấy ngày sau, mới phát hiện anh ấy đã tự sát tại hầm nước phía sau sở chỉ huy Quân đoàn 67.


“Trong lòng còn ôm ngọn súng, do đã qua một thời gian dài nên xác đã bốc mùi. Thế là (sự việc xảy ra ở) Quân 67 lại một lần nữa bị thông báo trong toàn quân.


Trương Chí Kiên đang nằm viện, phải chịu việc điều tra, khóc mà nói rằng: “Tôi chưa bao giờ nghĩ đến nông nỗi quân của mình lại cầm súng bắn vào Quân trưởng của họ như vậy!”Tư liệu phía Trung Quốc


“Sau khi sự việc phát sinh, Quân ủy trung ương, Bộ Công an, Bộ An ninh Quốc gia và Quân khu Tế Nam (Trung Quốc) liên tiếp phái người đến Quân đoàn 67 điều tra nguyên nhân sự việc.


“Trương Chí Kiên đang nằm viện, phải chịu việc điều tra, khóc mà nói rằng: “Tôi chưa bao giờ nghĩ đến nông nỗi quân của mình lại cầm súng bắn vào Quân trưởng của họ như vậy!”


Sau khi đưa tin về thông tin này, tôi đã gặp và trao đổi với Đại tá Bùi Như Lạc, nguyên là Sư đoàn trưởng Sư 313 của Việt Nam, người trực tiếp chỉ huy trận đánh làm tan rã sư 199 của Đại Quân khu Bắc Kinh tháng 5/1985, ông cho biết đó là trận đánh tại hai ngọn đồi phía Việt Nam gọi là Đồi Đài và Đồi cô X. nằm tại ngã ba Thanh Thuỷ.


Xin được nói thêm, sở dĩ có tên gọi là Đồi cô X., vì nó liên quan chuyện tình của một cô gái Hà Giang tuẫn tiết ở đây vì thất tình, đây chính là nơi xảy ra trận đánh lớn mà báo mạng Trung Quốc đưa.


Bài viết thể hiện văn phong và phản ánh quan điểm riêng của tác giả là nhà văn, blogger có thân nhân hy sinh ở trận Vị Xuyên, bài được tới BBC sau khi tác giả tham gia cuộc Tọa đàm trực tuyến của BBC về đề tài cuộc chiến Vị Xuyên hôm 16/7/2015.


http://www.bbc.com/vietnamese/forum/2015/07/150718_phamvietdao_vixuyen_battle


Lính TQ 'bắn thương-binh' VN ở Vị Xuyên
Nhà văn Phạm Viết Đào Gửi cho BBC từ Hà Nội


image026

Một cựu chiến-binh Việt Nam xúc-động trước nắm đất 'thấm máu-xương của đồng-đội' khi thăm lại chiến-trường cũ Vị Xuyên.

Lão Sơn là tên chung mà phía Trung Quốc nói về những trận đánh ác liệt giữa quân Trung Quốc lấn chiếm với bộ-đội Việt Nam trên các mỏm núi tại khu-vực ngã ba Thanh Thuỷ, gồm địa bàn hai xã Thanh Đức, Thanh Thuỷ, huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang (Việt Nam) giai-đoạn từ 1983-1989.
Tại những mỏm núi từng xảy ra những trận đánh giằng-co, ác-liệt, quân hai bên tranh-dành nhau từng hốc đá, từng khe suối; Phía Việt Nam đã gọi các tên các trận đánh này theo cách riêng :
- Trận đánh bảo-vệ Cao-điểm 1509 diễn ra ngày 28/4/1984;
- Trận phản-công đánh chiếm lại Cao-điểm 772, (lính Hà-Giang thời đó gọi là “ Đồi thịt băm” );
- Những trận đánh giằng-co cuối năm 1984 kéo sang năm 1985 tại Cao-điểm 685 (lính Hà-Giang gọi 685 là “Lò vôi thế-kỷ” vì đạn pháo hai bên ngày đêm bắn phá, nên ngọn núi này trắng xoá như vôi…);
- Khu-vực Ngã ba Thanh Thuỷ thì lính Hà-Giang gọi là “Cối xay thịt” thế-kỷ.


Đặc biệt, có 4 nữ cán binh Cộng-sản Việt Nam (CSVN) cố thủ trong hang đá, không chịu đầu hàng và lính Trung-Cộng đã phải dùng súng phun lửa mới tiêu-diệt được những cô gái này Trang mạng Quốc-phòng TQ


- Còn các trận đánh tại đồi Đài, đồi Cô X., thì phía Trung Quốc gọi là Điểm cao 211, 400.



Trận Cao-điểm 1509

Về trận đánh bảo vệ Cao-điểm 1509 ngày 28/4/1984, người viết bài này đã gặp cựu chiến-binh Việt Nam Đường Minh Tuấn, ông nguyên là kế-toán pháo-binh đại-đội 14, trung-đoàn 122, Sư 313, có quê ở Hương Canh, Phúc Yên.
Đường Minh Tuấn là một trong những người lính cuối cùng rút khỏi 1509 chiều 28/4/1984 và đã kể lại như sau :
"Phía quân ta (Việt Nam), Sư-đoàn 313 đã bố-trí một đại-đội khoảng 100 tay súng chốt giữ cao-điểm này.
"Trước khi mở đợt tấn-công ồ-ạt vào rạng sáng ngày 28/4/1984, phía Trung Quốc đã liên-tục bắn pháo vào trận-địa của quân ta suốt cả tháng trước đó.
"Từ 6 giờ sáng 28/4/1984 cho tới chiều, quân ta đã chống trả quyết-liệt, gây cho phía Trung-Quốc nhiều thương vong, khoảng 3 giờ chiều thì 1509 bị thất-thủ vì quân ta hết đạn, bộ-đội của Sư-đoàn 313 đã phải “ mở đường máu” để rút lui…"
Về thông-tin lính Trung-Quốc bắn thương-binh Việt Nam trong trận đánh này, tài-liệu của mạng Quốc-Phòng Trung-Quốc, đã mô tả như sau :
“Trung-đoàn 118 của Trung Cộng phải đến 15p0 mới hoàn-toàn chiếm được đỉnh 1509 sau khi đơn-vị phòng-ngự hy-sinh đến người cuối-cùng.

image027

Cựu chiến-binh Việt Nam trở lại chiến-trường Vị Xuyên, hát và tưởng-niệm đồng-đội.

"Đặc biệt, có 4 nữ cán-binh Cộng-sản Việt-Nam (CSVN) cố thủ trong hang đá, không chịu đầu hàng và lính Trung-Cộng đã phải dùng súng phun lửa mới tiêu-diệt được những cô gái này.
“Quân Trung-Cộng cũng bị thương vong nặng : trung-đoàn 118 bị chết 198 lính cùng một số bị thương. Trong đó một tiểu-đoàn của trung-đoàn này có tới 70 % quân-số bị loại khỏi vòng chiến.
Sự kiện 4 nữ cán-binh cộng-sản Việt Nam cố-thủ trong hang đá bị lính Trung-Cộng dùng súng phóng hoả-thiêu chết trong hang, đã được một cán-binh Trung-Cộng kể lại trong hồi-ký của anh ta, cũng đăng trên mạng Quốc-Phòng Trung-Quốc.


'Xử bắn thương-binh'

Nguồn tin thứ hai do ông Hà Minh Thành, một Việt-Kiều tại Nhật đã cùng tham gia đoàn làm phim của Đài truyền-hình NHK Nhật-Bản, làm bộ phim về chiến-tranh biên-giới Việt-Trung.


Ông ta nói rằng không nhớ chính xác, nhưng trong cái hố đó có khoảng 3.700 xác binh-sĩ VN. Cho đến ngày hôm nay ông ta và các đồng-đội vẫn còn ám-ảnh tiếng kêu-gào của các thương-binh VN trong biển lửa khi hỏa-thiêu họ Hà Minh Thành, nhân-chứng


Ông Hà Minh Thành đã lên quay phim trên Cao-điểm 1509 vào năm 2009; đạo-diễn Bành Trung Nghĩa, một đạo-diễn người Trung Quốc, từng có em hy-sinh tại Lão-Sơn thực hiện bộ phim này.
Trong một bức thư gửi cho tác-giả bài viết này, ông Hà Minh Thành cho hay ông đã nghe thấy một Cựu chiến-binh Trung-Quốc tên Vương Hoàn Hải trực-tiếp kể lại câu chuyện.
Lá thư có đoạn : “Em là Hà Minh Thành, ở Nhật xin gửi tặng anh (Phạm Viết) Đào một số hình-ảnh về núi Đất bây giờ đã thuộc về Trung-Quốc sau hiệp-định hoạch-định biên-giới; tên mới của Trung-Quốc bây giờ là Lão-Sơn mà em đã chụp vào tháng 12 năm ngoái (2009).
“Khu-vực này hiện tại vẫn còn được xem là khu-vực quân-sự trọng-yếu do quân-đội Trung-Quốc quản-lý. Dĩ nhiên ngoài những chỗ họ cho phép thì hầu như họ cấm chụp ảnh, quay phim với lý-do có rất nhiều mìn.
“Ông Vương Hoàn Hải, một sĩ-quan Trung-Quốc từng tham-gia cuộc chiến đó, đã cho em biết đó là nơi chôn các binh-sĩ Việt-Nam bị chết trong trận đó.
“Ông ta vô-tình kể một chi-tiết là sau khi chiếm được Núi Đất, thì họ thu gom hài cốt binh-sĩ cả 2 bên, thi-thể lính Trung-Quốc thì họ đưa về phía sâu bên Trung-Quốc cách đó 10km và làm nghĩa-trang liệt-sĩ , còn thi-thể của các liệt-sĩ Việt-Nam (VN) cũng như các thương-binh nặng nhẹ, các tù-binh bị tập-trung xử bắn hàng loạt tại chỗ không phân-biệt đã chết hay còn sống, họ liệng xuống cái hố đó và nhờ lực-lượng Hóa-học đốt, sau đó thì cho xe ủi lấp.

image028

Truyền-thông nhà nước Việt-Nam sau nhiều năm 'im-lặng' gần đây đã nói về chiến-trường Vị Xuyên trong Cuộc chiến Biên-giới Việt - Trung.

“Ông ta nói rằng không nhớ chính-xác, nhưng trong cái hố đó có khoảng 3.700 xác binh-sĩ VN. Cho đến ngày hôm nay ông ta và các đồng-đội vẫn còn ám-ảnh tiếng kêu-gào của các thương-binh VN trong biển lửa, khi hỏa-thiêu họ. Em đã không cầm được nước mắt và quỳ xuống cảm-tạ trước ngôi mộ hoang-tàn mà trong đó có thể có thi-thể của anh Tạo em của anh, một người bằng tuổi của em đã Vị quốc vong thân…”
Nhân-chứng thứ ba, ông Đường Minh Tuấn kể :
“Từ trên Mỏm 1, mỏm cuối cùng em và đồng-đội còn giữ được tới tầm 3 giờ chiều; bọn em còn nghe rõ đồng-đội kêu la từ Mỏm 2, đồng-hương ơi cứu nhau với… Sau đó thì nghe súng nổ.
“Bộ-đội ta thương vong và hy-sinh đều được đưa vào trong hầm, khi lính Trung Quốc tràn được lên, thì chúng xả súng bắn chết cả thương-binh. Trong trận đánh bảo-vệ 1509 những thương-binh liệt-sĩ ta không mang được ai về; chắc lính Trung Quốc đã 'chôn-cất' anh em mình tại chỗ… “


Cả hiện-trường náo-loạn, tất cả đều cho rằng đây là đội đặc-công mà bên Việt-Nam phái sang thâm-nhập đánh úp, mấy ngày sau mà chưa làm rõ được đầu đuôi là chuyện gì Tư-liệu phía Trung-Quốc


Qua ít nhất ba nguồn tin trên, sơ-bộ có thể xác tín một sự thật : không có chuyện "có 4 nữ cán-binh cộng-sản Việt-Nam cố-thủ trong hang đá” bị bắn chết như mạng Internet của Trung-Quốc đưa, mà chắc chắn đó là anh em thương-binh của Việt-Nam, được đưa vào hầm và đã bị bắn chết, chính Đường Minh Tuấn có nghe tiếng kêu cứu của họ…


'Quay súng bắn chỉ-huy'


Cuộc chiến Vị-Xuyên có nhiều chi tiết, bí-mật mà thời-gian sẽ phải trả lời, nếu các nhân-chứng, vật-chứng không bị tiêu-hủy hoặc mất-mát hết.
Nhân đây, xin được đơn cử ngắn gọn một tình-tiết khác của cuộc chiến trong nội-bộ Trung-Quốc. Ấy là một binh-lính Trung-Quốc dám nổ sung bắn một thủ-trưởng bậc cao, đó là Sư-trưởng Túc Nhung Sinh, con trai Đại-tướng Túc Dụ ngay tại Lão-Sơn.
Một tư-liệu của phía Trung-Quốc đưa trên mạng cách đây không lâu viết lại câu chuyện này cụ thể như sau :
“Sau thảm-bại ngày 31/5 (1985), Quân-đoàn 67 (của Trung Quốc) còn xảy ra một chuyện trước sau chưa từng có trong chiến-tranh với Việt Nam.
“Một chiến-sĩ, vốn người Táo Trang, từ trận đánh đồi 211 may-mắn được sống quay về, vào giờ ăn cơm sáng, bước vào nhà ăn sở chỉ-huy Quân-đoàn 67, nhằm Túc Nhung Sinh mà bắn.

image029

Tác-giả Phạm Viết Đào (đầu tiên) thăm lại một địa-điểm trên chiến-trường cũ trận Vị-Xuyên.

“Túc Nhung Sinh nhanh-nhẹn trốn xuống gầm bàn ăn, nên không bị thương. Nhưng người cảnh-vệ của họ Túc thì bị giết chết, Quân-trưởng Quân 67 Trương Chí Kiên bị thương xuyên bả vai, còn mười người gồm binh-lính sĩ-quan đang đứng tại hiện-trường cũng trúng thương.
“Cả hiện trường náo-loạn, tất cả đều cho rằng đây là đội đặc-công mà bên Việt Nam phái sang thâm-nhập đánh úp, mấy ngày sau mà chưa làm rõ được đầu đuôi là chuyện gì. Mà người chiến-sĩ ấy cũng an-toàn trở về từ hiện-trường. Mấy ngày sau, mới phát-hiện anh ấy đã tự-sát tại hầm nước phía sau sở chỉ-huy Quân-đoàn 67.
“Trong lòng còn ôm ngọn súng, do đã qua một thời-gian dài nên xác đã bốc mùi. Thế là (sự việc xảy ra ở) Quân 67 lại một lần nữa bị thông-báo trong toàn quân.


Trương Chí Kiên đang nằm viện, phải chịu việc điều-tra, khóc mà nói rằng : “Tôi chưa bao giờ nghĩ đến nông-nỗi quân của mình lại cầm súng bắn vào Quân-trưởng của họ như vậy !”Tư-liệu phía Trung-Quốc


“Sau khi sự việc phát-sinh, Quân-ủy trung-ương, Bộ Công-an, Bộ An-ninh Quốc-gia và Quân-khu Tế Nam (Trung-Quốc) liên-tiếp phái người đến Quân-đoàn 67 điều-tra nguyên-nhân sự việc.
“Trương Chí Kiên đang nằm viện, phải chịu việc điều-tra, khóc mà nói rằng : “Tôi chưa bao giờ nghĩ đến nông-nỗi quân của mình lại cầm súng bắn vào Quân-trưởng của họ như vậy !”
Sau khi đưa tin về thông-tin này, tôi đã gặp và trao-đổi với Đại-tá Bùi Như Lạc, nguyên là Sư-đoàn-trưởng Sư 313 của Việt-Nam, người trực-tiếp chỉ-huy trận đánh làm tan-rã sư 199 của Đại Quân-khu Bắc-Kinh tháng 5/1985, ông cho biết đó là trận đánh tại hai ngọn đồi phía Việt-Nam gọi là Đồi Đài và Đồi cô X. nằm tại ngã ba Thanh-Thuỷ.
Xin được nói thêm, sở dĩ có tên gọi là Đồi cô X., vì nó liên-quan chuyện tình của một cô gái Hà-Giang tuẫn-tiết ở đây vì thất-tình, đây chính là nơi xảy ra trận đánh lớn mà báo mạng Trung-Quốc đưa.
Bài viết thể hiện văn-phong và phản-ánh quan-điểm riêng của tác-giả là nhà văn, blogger có thân-nhân hy-sinh ở trận Vị-Xuyên, bài được tới BBC sau khi tác-giả tham-gia cuộc Tọa-đàm trực-tuyến của BBC về đề-tài cuộc chiến Vị-Xuyên hôm 16/7/2015.
http://www.bbc.com/vietnamese/forum/2015/07/150718_phamvietdao_vixuyen_battle



BALLAD VỀ MỘT ĐẠI-ĐỘI BỊ BỎ RƠI

Tôi mới nghe kể lại
Một câu chuyện đau lòng.
Có thể là chuyện thật,
Cũng có thể là không.

Chuyện kể rằng, lần ấy,
Khi đánh nhau với Tàu,
Quân ta và quân địch
Cách nhau một chiếc cầu.

Bỗng từ trên có lệnh
Một đại-đội xung phong
Vượt qua cây cầu ấy,
Sang bờ bên kia sông.

Thế mà lạ, sau đó,
Hai bên đang đánh nhau,
Có lệnh từ trên xuống.
Lần này lệnh phá cầu!

Câu chuyện chỉ có thế.
Một đại-đội sang sông,
Rồi phá cầu, theo lệnh...
Nghe mà nhói trong lòng.

Ừ, mà một đại-đội
Biên chế bao nhiêu người?
Một trăm, hay năm chục,
Bị đồng đội bỏ rơi?

Có thể là chuyện thật,
Cũng có thể là không.
Sao lòng tôi đau nhói,
Đau nhói mãi trong lòng.

Ai ra cái lệnh ấy,
Lệnh quân ta phá cầu,
Để đồng đội đơn độc
Giữa vòng vây quân Tàu?

Câu chuyện chỉ có thế,
Dù có thật hay không,
Nhưng cả một đại-đội
Đã chết bên kia sông.

Hà Nội, 11. 7. 2012
---Thái Bá Tân


image030


Giao tranh đẫm máu tại cao điểm 1509 (Lão Sơn / Núi Đất) Thanh Thủy, Hà Giang năm 1984


Tác giả : Nghiên cứu viên Masanori nakamura 


 Hà Minh Thành dịch


Tài liệu nghiên cứu giảng dạy dành cho sinh viên sĩ quan của Tự vệ đội.


Cục phòng vệ Nhật Bản-Đại học Phòng vệ.


Kế hoạch hành quân nhằm chiếm lại Cao điểm 1509 có mật danh là " MB84, thu hồi lãnh thổ" đã được vạch công phu. Tuy nhiên, cả tướng Văn Tiến Dũng và các cố-vấn quân-sự Liên-Xô cũng không ngờ là họ đã bị bán đứng bởi một sĩ-quan cao-cấp phản-bội ?


image025

Ảnh :tướng Văn Tiến Dũng và tướng Trung Quốc Dương Đắc Chí (Yang Dezhi); Đối thủ của nhau trong cuộc giao chiến tại Cao điểm 1509 ( Lão Sơn / Núi Đất ) năm 1984...


Trận chiến Lão Sơn, (phía Việt Nam gọi là Cao điểm 1509 Núi Đất), được xem là trận chiến đẫm máu, khốc liệt nhất trong vùng Á Châu gần đây nhất. Cuộc chiến nổ ra tại một căn cứ quân sự của Việt Nam tại điểm cao 1509 và điểm cao 1250, hai cao điểm này nằm dọc theo biên giới Việt Trung mà phía Trung Quốc gọi là Lão Sơn và Giả Âm Sơn. Để chiếm được 2 cao điểm này Giải phóng quân Trung Quốc đã tạo ra một cuộc xung đột võ trang với quy mô lớn. Lịch sử quân sự Trung Quốc gọi cuộc chiến chiếm 2 điểm cao này là Chiến-dịch Lưỡng Sơn.


Trận chiến Lão Sơn bắt đầu vào ngày 2 tháng năm 1984 khởi màn bằng trận tấn công tổng lực bằng pháo-binh vào căn cứ quân sự của quân đội Việt Nam.


Cuộc giao tranh quân sự giữa quân đội 2 nước Việt Nam và Trung Quốc chia thành 3 giai đoạn


  Giai đoạn 1 : Từ ngày 2 tháng 4 đến ngày 15 tháng 4 năm 1984


  Giai đoạn 2 : Từ ngày 2 tháng 6 đến ngày 10 tháng 7 năm 1984


  Giai đoạn 3 : Từ ngày 12 tháng 7 đến ngày 14 tháng 7 năm 1984


Trận chiến kết thúc vào ngày 14 tháng 7 năm 1984 bằng một trận đánh cảm tử xáp-lá-cà (bạch binh chiến) của các binh sĩ Việt Nam. Phía Trung Quốc đã phản công bằng pháo-binh và hỏa lực mạnh để tử thủ Lão Sơn. Sau trận chiến này, với số thương vong quá lớn, quân đội VN đã hoàn toàn bỏ cuộc. Lãnh thổ Việt Nam đã mất vùng núi Đất (Lão Sơn) vào tay Trung Quốc từ đó.


Sau hiệp-định hoạch-định biên-giới Việt-Trung thì 2 vùng núi này chính thức trở thành lãnh thổ của Trung Quốc. 


1/ Tương quan lực lượng tham chiến :


Phía Trung Quốc :


Tướng chỉ huy : Dương Đắc Chí (Yang Dezhi)


Chiến lực : Quân-đoàn 14, Quân-đoàn 11,Quân-đoàn 1, Tập-đoàn quân 67, Tập-đoàn quân 27, Tập-đoàn quân 13.


Số binh sĩ thương vong : Bất minh (có nguồn thông tin cho biết khoảng 939 binh-sĩ tử-trận)


Phía Việt Nam :


Tướng chỉ huy : tướng Văn Tiến Dũng


Lực lượng tham chiến : Sư-đoàn 313, Sư-đoàn 316, Sư-đoàn 356 chính-quy. Địa-phương-quân và dân-binh.


Số binh sĩ thương vong : Bất minh (theo nguồn tin Trung Quốc thì có 3700 binh-sĩ Việt Nam tử-trận còn lại trên chiến trường. Dự đoán binh-sĩ tử-trận khoảng 4000 binh-sĩ.


Theo nguồn tin của phóng viên chiến trường của NHK được biết chính xác là : trung-đoàn 174 thuộc sư-đòan 316 VN sau 10 h giao tranh với sư-đoàn 119 của Trung Quốc tại điểm cao 142, 149 thuộc khu-vực Na Lập vào ngày 12 tháng 7 năm 1984, phía VN bị tử-thương 300 binh-sĩ tại mặt trận.


2/ Quá trình đưa đến sự giao tranh


Trong suốt thời gian trước hoạch định biên giới Việt Trung thì Lão Sơn và Giả Âm Sơn được công nhận là lãnh thổ của Việt Nam. Lão Sơn với cao độ 1422.2 m so với mặt biển là một vị trí chiến lược quan trọng trong phối trí quân lực trong suốt lịch sử vệ quốc của người Việt Nam. Từ đây có thể giám sát con đường huyết mạch nối từ Hà Giang của Việt Nam sang Trung Quốc.


Năm 1979 trên đường tiến quân sang đánh Việt Nam, tướng Dương Đắc Chí (Yang Dezhi) tư lệnh quân khu Côn Minh đã chiếm vùng này. Sự tiến quân quá nhanh của Trung Quốc vào Việt Nam đã khiến tướng Dương Đắc Chí khinh địch và đánh giá thấp tướng Võ Nguyên Giáp một thiên tài quân sự của Việt Nam.


Trong một công điện báo công với Đặng Tiểu Bình, sau khi xâm nhập vào Việt Nam mà không bị tổn thất nhiều, tướng Dương Đắc Chí đã xin phép cho thêm một tuần nữa để tiến quân đến Hà Nội, bắt sống toàn bộ ban lãnh đạo Việt Nam. Phía Việt Nam, Tướng Võ Nguyên Giáp đã áp dụng nhuần nhuyễn chiến-thuật : Dụ địch vào sâu nội địa; Cắt đứt quân viện hậu-cần; Tổng phản công… một chiến-thuật trong kinh nghiệm vệ-quốc hàng ngàn năm qua của người Việt Nam đối với Trung Quốc.


Tướng Võ Nguyên Giáp với các lực lượng khinh binh và địa phương quân đã phá hủy toàn bộ các tuyến quân viện hậu-cần của Tướng Dương Đắc Chí; hành động quân sự này khiến trên 500 chiến xa của Giải-phóng-quân Trung-Quốc dưới quyền của tướng Dương Đắc Chí trở thành những cục sắt chết không hoạt động được trên chiến trường vì thiếu nhiên liệu và trở thành các điểm tác xạ của Địa phương quân VN.


Trước tình thế tan rã toàn bộ các quân đoàn tiến chiếm Việt Nam, tướng Dương Đắc Chí buộc phải cấp tốc xin lệnh rút binh về nước. Trên đường rút binh của tướng Dương Đắc Chí, quân đội Trung Quốc đã bị tổn thất nặng nề bởi sự truy-kích bằng pháo-binh của quân đội Việt Nam từ điểm cao 1509 này.


Có một kỳ tích về hành quân mà đến thời điểm này, các nhà phân tích về chiến-lược quân sự cũng không hiểu bằng cách nào, chỉ trong vòng một thời gian ngắn chưa đầy 1 ngày, tướng Võ Nguyên Giáp của Việt Nam có thể phối trí một lực lượng pháo-binh mạnh tại Cao điểm 1509, một căn cứ có địa hình hiểm trở để có thể truy-kích tận diệt các binh đoàn của Trung Quốc trên đường rút chạy khỏi VN. Mặc dầu Đặng Tiểu Bình tuyên bố đã dạy xong cho VN một bài học, nhưng trên thực tế thì có thể nói rằng gần như toàn bộ các quân-đoàn của quân khu Côn Minh dưới quyền tướng Dương Đắc Chí đã hoàn toàn bị xóa sổ.  


Từ sau bài học về sự đại bại chiến dịch quân sự đầu năm 1979, Đặng Tiểu Bình đã phải đi đến quyết định cải cách lại quân đội theo hướng hiện đại hóa. Tướng Dương Đắc Chí được sự ủng hộ của Đặng Tiểu Bình đã nắm chức Tổng tham mưu trưởng kiêm Ủy-viên Quân-ủy Trung-ương. Để phục hận về trận đại bại 5 năm về trước, để có thể kiểm soát không phận và uy hiếp tỉnh Hà Giang, cũng như làm bàn đạp để tấn công bình định Việt Nam trong tương lai, đồng thời nhằm khôi phục lại uy tín của quân đội đã xuống đến tận đáy, tướng Dương Đắc Chí đã lên kế hoạch chiếm lĩnh 2 điểm cao của vùng núi Lưỡng Sơn này.


3)  Quá trình giao tranh


Ngày 2 tháng 4 năm 1984 quân độI Trung Quốc bắt đầu pháo-kích đại quy mô vào điểm cao 1059 của Việt nam mở đầu cho trận giao tranh. Cuộc pháo-kích kéo dài 26 ngày cho đến ngày 27 tháng 4 năm 1984


Ngày 28 tháng 4 qua thông tin tình-báo biết được phía VN đang chuẩn bị thay quân tại điểm cao này. Vào lúc quân số của phía VN đồn trú ít nhất ở căn cứ 1059, tướng Dương Đắc Chí đã ra lệnh cho sư-đoàn 40 và sư-đoàn 49 thuộc Quân-đoàn 14 quân-khu Côn Minh bắt đầu tấn công căn cứ hiểm yếu này. Mặc dầu với số quân áp đảo là 2 sư-đoàn, nhưng trước sự thiện chiến và quả cảm của lực lượng nhỏ quân đội Việt Nam đóng tại đó, phía Trung Quốc đã chịu nhiều tổn thất nặng nề. Phải sau 18 ngày chiến đấu, quân đội Trung Quốc mới chiếm lĩnh được một phần của Lão Sơn và Giả Âm Sơn vào ngày 15 tháng 5 năm 1984.


Ngày 12 tháng 6 đến ngày 7 tháng 10 năm 1984 được xem là giai đoạn giao tranh thứ 2, quân đội VN đã cố gắng tổ chức tái chiếm lại Lão Sơn, trong giai đoạn giao tranh này, thương vong phía Việt Nam không xác định được, nhưng phía Trung Quốc thì 2 đại-đội có nhiệm-vụ tử-thủ căn-cứ này đã hoàn-toàn bị tiêu-diệt. Phía Việt Nam tạm thời chiếm lại Lão Sơn.


Rút kinh nghiệm từ lần giao tranh này, tướng Dương Đắc Chí đã cho sử dụng hỏa-tiễn liên trang để đối kháng và sau đó dùng bộ-binh tái chiếm căn cứ. Đối lại quân-đội VN dùng súng cối và vũ-khí hạng nhẹ, lưỡi lê với cách đánh cận-chiến cảm-tử bám sát vào quân-đội Trung-Quốc để đánh nhằm giảm nguy-cơ thương-vong vì hỏa-tiễn đã gây thương-vong khủng-khiếp cho cả lực-lượng hai bên. Tuy nhiên trước sự áp đảo về lực lượng và vũ khí của Trung Quốc, phía Việt Nam đã chịu thất bại trong nỗ lực phòng thủ căn cứ. Sau trận giao tranh này Trung Quốc chiếm được cao điểm 1509.


4/ Giai đoạn 3 của cuộc giao tranh…


Bắt đầu từ ngày 12 tháng 7 đến ngày 14 tháng 7. Được thông tin tình-báo chính-xác từ một sĩ-quan cao cấp trong Cục quân-báo Việt-Nam, tướng Dương Đắc Chí đã nắm rõ toàn-bộ kế-hoạch hành-quân tái chiếm căn-cứ của VN. Bằng cách bố trí pháo-binh mạnh và hỏa-tiễn đa liên tranh tập trung vào các điểm quân đội Việt sẽ tập-kết bên mạn sườn núi ở cao độ 500 và 800, quân đội Trung Quốc chỉ còn chờ đợi quân đội Việt Nam bước vào cửa tử bằng trận địa bao vây bằng hỏa-tiễn và pháo.


Phía Việt-Nam lần này với sự trợ-giúp của các cố-vấn quân-sự Liên-Xô và trực-tiếp tướng Văn Tiến Dũng chỉ huy, lực-lượng tấn-công đã tổ-chức nghi-binh nhằm đánh lạc hướng theo-dõi của tình-báo Trung Quốc bằng cách : chọn ra 6 trung-đoàn từ các sư-đoàn 313, sư-đoàn 316, sư-đòan 356.


Kế hoạch hành quân nhằm chiếm lại Cao điểm 1509 có mật danh là " MB84, thu hồi lãnh thổ" đã được vạch công phu. Tuy nhiên, cả tướng Văn Tiến Dũng và các cố-vấn quân-sự Liên-Xô cũng không ngờ là họ đã bị bán đứng bởi một sĩ-quan cao cấp phản-bội ?


Ngày 12 tháng 7 năm 1984, 6 trung-đoàn quân Việt Nam lần lượt tập-kết vào các địa điểm đã được tướng Dương Đắc Chí đợi sẵn ở cao độ 500 và 800 bên dưới cao điểm 1059.


5 giờ sáng giờ Việt Nam ngày 12 tháng 7, quân-đội VN bắt đầu men theo triền núi để tổng công kích và trận pháo-kích bao-vây tận diệt của tướng Dương Đắc Chí cũng bắt đầu. Sau 17 tiếng đồng hồ pháo-kích tập trung vào các điểm đã biết trước dựa theo kế-hoạch hành-quân mang tên MB84 của Việt Nam, tướng Dương Đắc Chí hoàn toàn đại thắng. Quân đội VN buộc phãi rút lui với số liệu thương vong do phía Trung Quốc công bố: khoảng 3700 thi-thể binh-sĩ Việt-Nam đã bị bỏ lại trên đỉnh Lão Sơn…


5/ Ảnh hưởng về mặt quân sự


Trận chiến Lão Sơn là một trận chiến kinh điển trong các trận chiến hạn định phi quy ước. Chiến thắng của phía Trung Quốc có thể kể công đầu là chiến thắng của mạng lưới tình-báo Hoa Nam; Lực lượng tình-báo Hoa Nam đã cài cắm được điệp-viên vào hàng ngũ sĩ-quan cao cấp của Việt-Nam. Nếu không có thông tin tình-báo từ Việt Nam, cục diện trận chiến Lão Sơn có khả năng sẽ đi theo một hướng khác. Chắc chắn số thương vong khủng khiếp sẽ đến với các sư đoàn 40 và 49 của quân đội Trung Quốc bởi lối đánh cảm-tử và thiện-chiến của binh sĩ Việt Nam.


Trận chiến Lão Sơn đã làm thay đổi toàn bộ chiến-thuật tấn công của quân đội Trung Quốc theo hướng hiện đại hóa. Trong giai đoạn 3 của cuộc giao tranh có thể nói đây là một sự tái diễn lại cách đánh giữa quân đội bắc Việt Nam với chiến-thuật biển người, cận-chiến với quân đội Mỹ; kết hợp với chiến-thuật tập trung pháo-binh nhằm giảm thương vong cho binh-sĩ xung-kích trong thời gian chiến tranh Việt Nam.   


Từ chỗ tấn công theo chiến-thuật biển người là chiến-thuật quân sự cổ điển của Trung Quốc với Việt Nam; tướng Dương Đắc Chí đã thành công trong việc mạo hiểm ứng dụng chiến-thuật tấn-công và phòng-vệ tập trung bằng pháo-binh, kết hợp với thông tin tình-báo theo phong cách tác chiến hiện đại của Mỹ.


Từ trận đánh này cũng lộ rõ một điểm yếu của quân đội Trung Quốc, đó là công tác hậu-cần, vận tải của quân đội, không có khả năng không-vận để phục vụ cho việc tác chiến. Ví dụ để phục vụ cho cuộc chiến họ phải huy động cả xe của dân-sự để tải đạn dược và thương binh.


Về phía quân đội Việt Nam, mặc dầu địa hình bất lợi, nhưng với quyết tâm thu-hồi lãnh-thổ đã chọn chiến-thuật tấn-công bằng biển người. Với sĩ khí của quân đội Việt Nam lúc đó, khả năng thu hồi lại lãnh thổ trong trận chiến này rất cao, nhưng đồng nghĩa với việc chấp nhận hàng ngàn binh sĩ phải hy-sinh.


Có thể coi đây là một chiến-thuật hạ sách, khi mà tướng Văn Tiến Dũng không còn con đường để chọn lựa. Tuy nhiên thất-bại về phản gián của Việt Nam trong cuộc chiến này đã khiến Việt Nam phải chấp nhận thất-bại với gần 4000 binh-sĩ thương vong ( theo số liệu phía Trung Quốc đưa ra ). Đây là một bài học quan trọng trong công tác bảo-mật mà các sĩ quan trẻ trong tương lai phải luôn tâm niệm trong quá trình cầm binh tác chiến. Một sơ sót của người chỉ huy sẽ phải đổi bằng máu xương của hàng ngàn binh sĩ trên mặt trận và mất đi lãnh thổ.


Về mặt ảnh hưởng quân sự thì, chiến thắng Lão Sơn đã nâng cao sĩ khí cho quân đội Trung Quốc, tạo cơ hội cho quân đội Trung Quốc chuyển mình từ một quân đội lạc hậu sang một đội quân hiện đại với kỹ thuật tác chiến hiện đại đãi thay cho chiến-thuật biển người cố hữu. Đây là đà tiến để giới quân sự Trung quốc tạo ảnh hưởng lên giới chính trị để hiện đại hóa quân đội. Với việc chiếm lãnh Lão Sơn và Giả Âm Sơn, việc đặt 2 căn-cứ tại đó, Trung Quốc đã có khả năng kiểm soát và khống-chế về mặt quân sự trên toàn bộ miền Bắc Việt Nam.


Trong một số lần hiếm hoi, các đài duyên hải của lực lượng Hải thượng Tự Vệ Đội Nhật bản dọc theo quần đảo Okinawa, đã phát hiện bắt được các làn sóng phát theo hình thức nhiễu loạn số từ đài phát vô tuyến có tọa độ xác định đặt trên đỉnh Lão Sơn.


Theo đánh giá của các chuyên gia quân sự, nếu xảy ra một trận chiến phi quy ước giữa Việt Nam và Trung Quốc một lần nữa, thì với hệ-thống rada và đài phá sóng vô-tuyến mạnh như vậy của Trung Quốc ở căn-cứ Lão Sơn, khả năng toàn bộ hệ thống thông tin của lực lượng phòng không không-quân tại miền Bắc của Việt Nam kể cả hệ-thống thông-tin của Hàng-không dân dụng sẽ bị tê liệt ngay tức khắc; nếu bị quân đội Trung Quốc tiến hành gây nhiễu từ cụm đài của căn cứ này. Chưa kể đến lợi thế về mặt tác chiến pháo-binh cũng như hỏa-tiễn tầm xa, với vị trí Lão Sơn có khả năng khống-chế quân đội Việt Nam trên một phần vùng miền bắc Việt Nam trong một cuộc chiến hạn định từ căn cứ quân sự lớn này.  


Về phía Việt Nam, sau trận chiến này đã khiến cho uy tín một số tướng lãnh quân đội với nhiều công trạng trong cuộc chiến Việt nam bị suy sụp, thất sủng. Nhiều tướng lãnh kinh nghiệm dày dạn chiến trường bị thay thế bởi thế hệ tướng lĩnh trẻ chưa có kinh nghiệm tác chiến trên những mặt trận lớn.


Một mất mác lớn khác đối với quân đội VN trong thời kỳ này đó là : sự thất sủng của tướng Võ Nguyên Giáp trước ban lãnh đạo chính phủ Việt Nam, khi ông đưa ra yêu cầu giải quyết “Bài toán nước lớn”. Tướng Võ Nguyên Giáp chủ trương mở một nền ngoại giao đa phương với phương Tây kể cả cựu thù là Mỹ và các nước xung quanh, cùng với việc dùng lực lượng quân chính-quy Việt Nam tại Lào đánh quy hồi sang từ Lào sang Campuchia, giải phóng Campuchia xong thì rút hết quân về nước giao lại Campuchia cho Liên-hợp-quốc để giảm bớt sự hy sinh của binh sĩ và ngân sách quốc gia. Tìm cách phá mở thế bao vây từ kinh tế cho đến quân sự bởi các nước xung quanh.


Chủ trương này của Tướng Võ Nguyên Giáp đã không được ban lãnh đạo chính phủ Việt Nam đương thời đồng ý. Sự thất sủng của một nhà chiến lược quân sự vĩ đại đã khiến giới quân đội của Việt Nam dần dần bị xem nhẹ, đồng thời thế lực thân Trung Quốc trong giới chính trị gia Việt Nam có cơ hội quật khởi trở lại.


Sau cái chết của Phạm Hùng người được cho là kiên trì đường lối chống Trung Quốc bị chết một cách mờ-ám tại thành phố Hồ Chí Minh, có ý kiến nghi vấn có bàn tay của lực lượng tình-báo Hoa Nam, chính sách của lãnh đạo Việt Nam đã bắt đầu thay đổi…


Các chính sách về công tác tuyên-truyền chống Trung Quốc cũng dần dần bị loại bỏ từ dân chúng cho đến quân đội. Cùng với chính sách đổi mới quân đội Việt Nam đã thiên về làm kinh-tế hơn đặt nặng trọng tâm quốc phòng. Sau thất bại ở cuộc hải chiến Nam Sa (Trường Sa) vào tháng 3 năm 1989 thì có thể nói là quân đội Việt Nam đã đánh mất vị thế của mình ở Á Châu, Việt Nam đã bị các chuyên gia quân sự đánh giá không còn là một đội quân mạnh và thiện chiến nhất trong vùng Đông Nam Á nữa.


  6) Ảnh hưởng về mặt chính trị


Đối với Trung Quốc: Chiến thắng của trận chiến Lão Sơn trùng khớp với thời kỳ sĩ khí đang hồi-phục lại ở Trung Quốc nhờ vào hiệu quả của chính sách cải-cách, khai-phóng. Kết quả trận chiến đã chấp cánh, tăng thêm uy tín cho Đặng Tiểu Bình trong việc chỉ đạo thể chế cầm quyền của Trung Quốc.


Hệ thống thông tin của Trung Quốc có thể nói đã tuyên-truyền hết công suất về tin thắng lợi của quân đội Trung Quốc trong trận chiến Lưỡng Sơn này. Báo chí Trung Quốc đã lợi dụng trận thắng này để phát dương quốc-uy và ca ngợi công đức chỉ đạo của Đặng Tiểu Bình. Việc tuyên-truyền này khiến cho dân chúng Trung Quốc phần nhiều đều chỉ biết đến chiến-tranh biên-giới Việt-Trung, qua chiến-thắng Lão-Sơn năm 1984 chứ không phải trận đại-bại năm 1979.


Đối với Việt Nam : trận chiến Lưỡng Sơn đã khiến phía Việt Nam tái nhận thức về kẻ thù truyền-kiếp của họ chính là Trung Quốc, tâm lý phục thù của người Việt đã trỗi dậy.


Cùng với sự sa-lầy của quân đội Việt Nam tại chiến trường Campuchia đã gây tổn thất lớn về nhân mạng binh sĩ, sự gia tăng của thương phế binh, sự bao vây cấm-vận kinh tế của thế giới, sự kiệt quệ về kinh tế đã khiến sĩ khí của quân đội Việt Nam suy giảm.


7. Mối bang giao cải thiện quan hệ Trung Việt


Tháng 3 năm 1988 Thủ-tướng Phạm Hùng của Việt Nam đột tử. Ông được xem là người cuối cùng trong ban lãnh đạo của Việt Nam theo đường lối cứng rắn chống Trung Quốc. Ông là một trong những người đã đồng ý đưa quân sang tiến chiếm Campuchia bất chấp sự phản đối của nhà chiến lược quân sự, tướng Võ Nguyên Giáp. Đồng năm đó quân đội Liên Xô cũng đại bại phải rút lui khỏi chiến trường Apganixtan.


Cùng với chính sách cải cách khai-phóng thành công của Đặng Tiểu Bình, Trung Quốc đã tạo mối bang giao thân mật với Mỹ và Nhật Bản; chính sách này đã khiến cho quốc lực của Trung Quốc nhanh chóng hồi-phục. Ngược lại mối quan hệ đồng minh của Việt Nam và Liên Xô bởi phái thân Liên Xô là Lê Duẫn ngày càng suy giảm khiến cho chính phủ Việt Nam chuyển đổi chính sách sang cải thiện quan hệ với Trung Quốc.


Sau 10 năm xảy ra giao tranh, vào ngày tết âm lịch năm 1989 Việt Nam và Trung Quốc đột ngột mở cửa lại giao dịch ở vùng biên giới. Quan hệ Trung –Việt cấp tốc hồi-phục. Sau đó Trung Quốc lần lượt triệt thoái các lực lượng quân sự lớn đóng ở Lão Sơn và Giả Âm Sơn.


Tháng 5 năm 1989 thì toàn bộ quân chính-quy của Trung Quốc hoàn tất việc rút ra khỏi vùng Lưỡng Sơn này chỉ để lại một bộ phận nhỏ các tiểu-đoàn công-binh và địa-phương-quân, dân-binh để xây dựng căn-cứ.


Xung đột võ trang biên giới Việt –Trung xảy ra lần cuối cùng vào năm 1989, khi Trung Quốc cho xây dựng các đài ra-đa dọc theo các điểm cao mà họ đã chiếm được sau các lần xung đột. Một số lượng lớn công-nhân xây-dựng người Trung Quốc đã xâm nhập xây dựng nhà cửa, lán trại bất hợp pháp trên phía lãnh thổ Việt Nam. Xung đột đã nổ ra, khi lực lượng cảnh-sát đương cục của Việt Nam đã tìm cách bài trừ, đuổi họ ra khỏi Việt Nam. Trong lần này quân đội hai nước không có nổ súng và sự kiện kết thúc, khi phía Trung Quốc chịu đưa toàn bộ số công-nhân đó về nước. Có thể coi sự kiện cuối cùng đó là bài thuốc thử của Trung Quốc đối sự chân thành cải thiện bang giao của phía Việt Nam…


(Hết)

13 Tháng Hai 2015(Xem: 16406)
Vào lúc 6 giờ 30 tối thứ Ba, ngày 10 tháng Hai, 2014, Hội Đồng Thành Phố Garden Grove đã họp phiên thường lệ để giải quyết một số vấn đề xảy ra trong thành phố, trong đó có việc Hội Đồng Thành Phố (HĐTP) ký hay không ký tên trong bản lên tiếng phản đối thành phố Riverside (Nam California) kết nghĩa với thành phố Cần Thơ, và vì vấn đề này, Thị Trưởng Bảo Nguyễn đã bị đồng hương phản đối kịch liệt, hô đả đảo và bỏ phòng họp ra về.